MỤC LỤC
MỤC LỤC ......................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài. ...................................................................................... 4
2. Mục đích – ý nghĩa của đề tài. .................................................................. 5
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.............................................. 6
4. Phương pháp nghiên cứu. .......................................................................... 6
5. Kết cấu của khóa luận. .............................................................................. 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA VÀ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ DỊCH VỤ VĂN HÓA.
1.1.
Cơ sở lý luận về dịch vụ văn hóa. ........................................................... 7
1.1.1. Khái niệm văn hóa. ................................................................................. 7
1.1.2. Khái niệm dịch vụ văn hóa...................................................................... 9
1.1.2.1. Dịch vụ văn hóa. .................................................................................. 9
1.1.2.2. Dịch vụ văn hóa - Sản phẩm hàng hóa văn hóa tinh thần. ................... 11
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ văn hóa. ................................................. 14
1.2.1. Khái niệm về quản lý và quản lý văn hóa. .............................................. 14
1.2.1.1. Khái niệm quản lý. ............................................................................... 14
1.2.1.2. Khái niệm quản lý văn hóa................................................................... 17
1.2.1.3. Khái niệm về quản lý dịch vụ văn hóa. ................................................ 18
1.3. Vai trò của công tác quản lý đối với các hoạt động dịch vụ văn hóa. ....... 18
1.3.1. Tạo ra sự đồng bộ trong tổ chức quản lý văn hóa các cấp. ..................... 18
1.3.2. Điều tiết và ổn định thị trường theo định hướng của Nhà nước. ............ 19
1.4. Các văn bản pháp quy của Nhà nước về quản lý hoạt động kinh
doanh dịch vụ văn hóa. ...................................................................................... 20
1
nhân viên nhằm nâng cao chất lượng tại các cơ sơ kinh doanh dịch vụ ........... .55
2
3.2.1.1. Với hoạt động dịch vụ karaoke cần tiêu chuẩn hóa phòng ốc
và thiết bị âm thanh, nguồn nhân lực. ............................................................... 55
3.2.1.2. Với hoạt động nhiếp ảnh cần tiêu chuẩn hóa về kỹ thuật chụp
, rửa ảnh, đội ngũ nhân viên chụp ảnh. ............................................................ 56
3.2.1.3. Với dịch vụ Internet cần tiêu chuẩn hóa về cơ sở hạ tầng,
máy móc,nội dung, dội ngũ nhân viên phục vụ. ................................................ 57
3.2.1.4. Với các cơ sở kinh doanh băng, đĩa ca nhạc , phim ảnh cần
tiêu chuẩn háo về chất lượng băng đĩa. ........................................................... 58
3.2.2. Thể chế hóa các văn bản pháp quy và thủ tục cấp giấy phép. ................ 58
3.2.3. Tăng cường và nâng cao hiệu quả trong công tác thanh, kiểm tra nhận
thức về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa................................................. 61
3.2.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu lý luận, nâng cao nhận thức
về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa ........................................................ 63
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 67
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 69
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII) đã
khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.
đức, lối sống và thuần phong mỹ tục, gây nhiều dư luận không tốt trong đại bộ
phận khách thăm quan đến với địa điểm di tích này.
Đây là một câu hỏi lớn đặt ra đối với các ngành quản lý chức năng của
huyện Sóc Sơn và Ban quản lý khu di tích đền Sóc.
Là một sinh viên trong ngành quản lý văn hóa, trước “báo động” của thực
trạng đó. Tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước
đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa tại quần thể di tích đền Sóc,
huyện Sóc Sơn” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Với mong muốn góp phần
nhỏ bé của mình giúp cho hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa tại quần thể di
tích đền Sóc phát triển mạnh mẽ và lành mạnh; kiến nghị một số giải pháp nâng
cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trong hoạt động kinh doanh
dịch vụ văn hóa; góp phần cùng huyện Sóc Sơn nói chung và quần thể di tích
đền Sóc nói riêng thúc đẩy kinh tế - xã hội xứng đáng với những tiềm năng vốn
có.
2. Mục đích nghiên cứu:
+ Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về công tác quản lý các hoạt động dịch vụ văn
hóa trong quần thể di tích đền Sóc.
+ Xác định đúng thực trạng công tác quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa tại
quần thể di tích đền Sóc trên địa bàn huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội. Khẳng
định những thành công và hàn chế trong công tác này.
5
+ Đề xuát các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý các
hoạt động dịch vụ văn hóa tại quần thể di tích đền Sóc.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa tại
quần thể di tích đền Sóc thuộc huyện Sóc Sơn – thành phố Hà Nội.
mặt và thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người, vì thế có
rất nhiều định nghĩa, cách hiểu và khai thác khác nhau về văn hóa.
Pufendort – nhà khoa học Đức, người đầu tiên sử dụng từ văn hóa đã cho
rằng: “Văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra do sự hoạt động của xã hội,
nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên”. Tiếp tục ý tưởng đó, nhà triết
học Đức Herderr ( 1744 - 1803) cho rằng: “Văn hóa là sự hình thành lần thứ hai
của con người”. Nghĩa là, lần thứ nhất con người xuất hiện với tư cách một thực
thể tự nhiên. Đến lần thứ hai, con người hình thành và phát triển với tư cách một
thực thể xã hội tức là một nhân cách văn hóa. (tr 6 – Tài liệu nghiệp vụ văn hóa )
Năm 1871, EB. Taylor – người góp phần khẳng định nền văn hóa như
một khoa học, đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là thức thể bao gồm kiến thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọi khả năng, thói quen
mà con người với tư cách là thành viên xã hội đạt được…”( tr 7 – Tài liệu
nghiệp vụ văn hóa )
Như vậy, theo nghĩa rộng lớn, vừa bản chất của nó, văn hóa là toàn bộ
hoạt động tinh thần – sáng tạo, tác động vào tự nhiên, xã hội và con người nhằm
tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn để vươn tới sự hoàn
thiện theo khát vọng chân, thiện, mỹ và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển
không ngừng của đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, từ thời Lý, người Việt đã tự hào nước mình là một “ Văn
hiến chi bang”. Đến thời Lê, Nguyễn Trãi viết:
“ Duy ngã Đại Việt chi quốc
Thực vi văn hiến chi bang”
7
Dịch là:
Như nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn hiến”
thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam là thành quả cách
mạng hơn nửa thế kỷ qua dưới sự lãnh đạo cảu Đảng tiếp tục xây dựng và phát
triển nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới. Công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và
lực cùng nhiều tiền đề cấp thiết cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiến tiến,
đậm đã bản sắc dân tộc . Quan hệ mở rộng với các nước giúp chúng ta tăng
cường cơ sở vật chất và động lực, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các dân
tộc trên thế giới, làm phong phú đời sóng tinh thần nhân dân, giàu có thêm vốn
văn hóa nước nhà.
1.1.2. Khái niệm dịch vụ văn hóa.
1.1.2.1. Dịch vụ văn hóa.
Để hiểu thế nào là dịch vụ văn hóa trước tiên ta cần tìm hiểu dịch vụ là gì.
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được
gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt
động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Đã có
nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ trong
đề tài này, người viết đã tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho
những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [Từ điển
Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256]
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự
như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia]. Theo quan điểm kinh tế
học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du
lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ...và mang lại lợi nhuận.
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích
cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển
quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với
sản phẩm vật chất.
9
- Dịch vụ tổ chức các sự kiện văn hóa, lễ hội
- Dịch vụ quảng cáo, dịch vụ internet, nhiếp ảnh, triển lãm…
1.1.2.2. Dịch vụ văn hóa - Sản phẩm hàng hóa văn hóa tinh thần.
Văn hóa là vật phẩm tinh thần, không thể coi như sản phẩm vật chất. Ở
đây không có sự phân chia quyền lợi văn hóa giữa Nhà nước và công dân, không
có đa dạng hóa hình thức sở hữu các giá trị văn hóa. Trong lĩnh vực văn hóa, giá
trị sử dụng của vật phẩm không phải là thuộc tính tự nhiên, nội dung vật chất
của vật phẩm ấy, mà chính là thuộc tính xã hội, nội dung giá trị văn hóa tinh
thần của nó. Đây là một khác biệt có tính nguyên tắc khi nói đến hàng hóa văn
hóa. Giá trị sử dụng của một tác phẩm văn hóa không phải là thuộc tính vật chất
tự nhiên của nó, mà là nội dung giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa. Nội dung này
ở những thời điểm lịch sử, với từng địa phương, từng nhóm công chúng khác
nhau có sự khác nhau về mặt công dụng của nó, nghĩa là về tác động tư tưởng
thẩm mỹ.
Một điểm nữa là giá trị sử dụng của một vật phẩm vật chất có thể là đối
tượng chiếm hữu và sử dụng của một cá nhân, có thể hao phí hoàn toàn trong
quá trình sử dụng; còn giá trị sử dụng của một tác phẩm văn hóa luôn luôn là tài
sản chung của toàn xã hội, cho dù bản thân tác phẩm ấy thuộc quyền sở hữu của
Nhà nước hay tư nhân. Chính vì vậy trong văn hóa, giá trị sử dụng của hàng hóa
văn hóa phải là mối quan tâm hàng đầu. Buông lỏng quản lý, xu hướng thương
mại hóa, sự lan tràn sản phẩm độc hại trên thị trường... chính là xem nhẹ hoặc hi
sinh giá trị sử dụng để chạy theo giá trị trao đổi hàng hóa tinh thần (bài hát, bức
tranh, điệu múa…) là để bán, nên mục đích chủ yếu của họ là giá trị chứ không
phải giá trị sử dụng. Nhưng quá trình thực hiện giá trị lại được tiến hành trước
quá trình thực hiện giá trị sử dụng, hoặc quá trình thứ nhất được tiến hành một
lần là xong, còn quá trình thứ hai có hậu quả lâu dài trong đời sống xã hội. Ở
đây giá trị sử dụng không chỉ là đối tượng quan tâm hàng đầu của người tiêu
dùng cụ thể (người mua vé, mua sách, báo...) mà thực chất là toàn xã hội tiêu
12
Sản phẩm văn hóa tinh thần có thể phân làm hai loại: loại tri thức và loại
văn nghệ.
- Sản phẩm văn hóa tinh thần loại tri thức như: ca dao, tục ngữ, triết học,
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kỹ thuật sản xuất, công nghệ cao...
- Sản phẩm văn hóa tinh thần loại văn nghệ như: dân ca, văn học, kịch, hội
họa, tạo hình âm nhạc, vũ đạo, truyền hình, điện ảnh.
Giống như sản phẩm vật chất, sản phẩm văn hóa tinh thần cũng là kết quả
hoạt động thực tiễn của con người. Trong quá trình tác động vào tự nhiên để
thay đổi các hình thái vật chất của tự nhiên, phục vụ nhu cầu vật chất của mình,
ở con người đồng thời xuất hiện những nhu cầu tinh thần và các giá trị tinh thần.
Hàng hóa văn hóa tinh thần là một loại hàng hóa đặc biệt, được tạo nên từ
sự kết hợp của hai yếu tố sản phẩm tinh thần và hàng hóa. Nói cách khác, hàng
hóa và văn hóa tinh thần là những sản phẩm văn hóa tinh thần được đem ra trao
đổi, mua bán.
Sản phẩm văn hóa tinh thần có tính chất hàng hóa gồm chủ yếu là loại hình
sản phẩm văn hóa ứng dụng: xuất bản phẩm, báo chí, phim ảnh... Chúng cũng là
sản phẩm của lao động, được sáng tạo nhằm mục đích trao đổi. Những hàng hóa
này đi vào thị trường văn hóa và thực hiện giá trị của mình, được người tiêu
dùng mua để phục vụ nhu cầu tinh thần - một nhu cầu không thể thiếu và ngày
càng chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống hiện đại.
Một sản phẩm văn hóa tinh thần nếu có nội dung lành mạnh, có tính tư
tưởng và nghệ thuật cao sẽ có tác động tích cực đến người tiêu dùng và xã hội.
Nó làm cho con người sống nhân văn hơn, thương yêu nhau hơn; nó khích lệ
người ta vượt qua những khó khăn, gian khổ, đau buồn để vươn tới một cuộc
sống tốt đẹp. Bên cạnh đó, các sản phẩm văn hóa tinh thần còn phê phán những
thói hư, tật xấu của con người, của xã hội để cảnh tỉnh rút ra những bài học
nảy sinh các hoạt động quản lý.
Quản lý là một khái niệm nội hàm lớn, do vậy ở góc độ nghiên cứu lĩnh
vực hoạt động, người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý.
Quản lý là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua nỗ lực của những
người khác.
14
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiềm
năng biến động của môi trường.
Tuy nhiên, do hoạt động hình thành trên cơ sở của sự phân công lao động
xã hội và sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất. Vì chính nó được xem xét
một cách tổng thể, gắn liền với hệ thống cơ cấu. Quản lý là quá trình phối
hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục đích của tổ chức. Trên quan
điểm của hệ thống nhất ấy, ta có thể hiểu quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của một chủ thể lên đối tượng nhằm duy trì tính hệ
thống. Sử dụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa đến
mục đích tốt nhất trong điều kiện luôn biến đổi.
Từ đó, ta có định nghĩa: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và
hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí nhà quản lý,
phù hợp với quy luật khách quan. ( tr 5- Nghiệp vụ quản lý văn hóa)
*. Bản chất và chức năng quản lý
Từ khái niệm trên ta hiểu bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có
mục đích của người chỉ huy đến một tập thể hay một hệ thống để đạt được
mục tiêu quản lý.
Quản lý là tác động có phương hướng và mục đích rõ rang của chủ thể
quản lý. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hiệu quả của quản lý phải là hiệu
Kiểm
tra
Thông tin
quản lý
Điều
hành
16
Tổ chức
*. Quản lý Nhà nƣớc.
Trong lĩnh vực hành chính, thuật ngữ quản lý được hiểu như sau: “Quản lý
là thuật ngữ chỉ hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ
huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình xã hội và hoạt động của con
người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu
xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất”.
Thuật ngữ quản lý Nhà nước được sử dụng ở Việt Nam với nhiều cách tiếp
cận khác nhau:
Theo nghĩa rộng: Quản lý Nhà nước là hoạt động của toàn bộ bộ máy Nhà
nước bao gồm cơ quan quyền lực Nhà nước: Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các
cấp; các cơ quan hành chính Nhà nước: Chính phủ, các Bộ, Ủy ban Nhân dân
các cấp; cơ quan kiểm sát: Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, và các Viện Kiểm
sát Nhân dân các cấp.
Theo nghĩa hẹp: Quản lý Nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ
quan hành chính Nhà nước ( quản lý hành chính Nhà nươc): Chính phủ, các Bộ,
dịch vụ văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm duy trì và phát huy tốt nhất giá
trị của chúng, đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt , lâu dài cho công đồng dân cư
chủ nhân của các loại hình dịch vụ văn hóa đó”.
1.3.
Vai trò của công tác quản lý đối với các hoạt động dịch vụ văn hóa.
Theo quy chế của Nhà nước thì các hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch
vụ văn hoá công cộng phải nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; giáo dục nếp sống lành mạnh và phong cách ứng xử có văn hoá cho
mọi người; kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái, nghĩa tình, thuần phong
mỹ tục; nâng cao hiểu biết và trình độ thẩm mỹ, làm phong phú đời sống tinh
thần của nhân dân; ngăn chặn sự xâm nhập và bài trừ những sản phẩm văn hoá
có nội dung độc hại; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Để đính hướng cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa đi theo
đúng theo Đường lối chính sách đó của Đảng và Nhà nước thì vai trò của công
tác quản lý đối với các hoạt động dịch vụ văn hóa là vô cùng quan trọng.
1.3.1. Tạo ra sự đồng bộ trong tổ chức quản lý văn hóa các cấp.
18
Thông qua công tác quản lý tạo ra được cơ chế chính sách hợp ly, biện
pháp quản lý khoa học giúp các thành phần kinh doanh dịch vụ có định hướng
đúng đắn từ đó tránh được những sai phạm trong hoạt động kinh doanh của
mình.
Điều đó thể hiện qua việc sắp xếp , phân bổ các thiết chế tổ chức sản xuất
kinh doanh theo đúng luật định và phân cấp để quản lý chặt chẽ. Sự quy định
của Nhà nước về chức năng, mục tiêu của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là
đảm bảo đủ và đúng xuất bản phẩm văn hóa lành mạnh, chất lượng đáp ứng nhu
Công tác quản lý nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm khắc
đối với các trường hợp vi phạm pháp luật. Từ đó ổn định thị trường và phát triển
theo định hướng quốc gia. Ngoài việc quản lý Nhà nước đối với thị trường chặt
chẽ sẽ không bỏ xót, lọt lưới những văn hóa phẩm có nội dung độc hại làm
thương tổn thị hiếu khách hàng và làm băng hoại đạo đức, lối sống xã hội, đồng
thời khuyến khích tạo ra ngày càng nhiều văn hóa phẩm có giá trị tư tưởng cao
cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật tác động tích cực đến tư tưởng đạo đức
lối sông của công chúng, hướng con người đến với những giá trị chân, thiện,
mỹ,ích tạo ra mối quan hệ xã hội lành mạnh, văn minh và phát triển theo xu thế
tiễn bộ.
1.4. Các văn bản pháp quy của Nhà nƣớc về quản lý hoạt động kinh doanh
dịch vụ văn hóa.
Song song với sự phát triển của hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa có
chiều hướng “đi chệch”; tình hình quản lý các hoạt động văn hóa có biểu hiện
buông lỏng, thiếu kiên quyết. Hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước về
quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa ra đời nhằm lập lại trật tự, kỷ
cương trên lĩnh vực hoạt động này như:
- Chỉ thị 814/TTg ngày 12/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng
cường quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một
số tệ nạn xã hội nghiêm trọng;
- Nghị định số: 87/CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ về tăng cường quản
lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã
hội nghiêm trọng;
20
- Nghị định số 88/CP ngày 14/12/1995 của Chính phủ quy định về xử phạt
hành chính trong các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa và phòng chống tệ nạn
xã hội;
ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng
(bãi bỏ nghị định 87/CP);
- Nghị định số 56/2006/NĐ-CP, ngày 06/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá - thông tin. (bãi bỏ nghị
định 31/CP);
- Thông tư 54/2006/TT-BVHTT ngày 24/5/2006 hướng dẫn quy hoạch nhà
hàng karaoke, vũ trường;
- Thông tư 69/2006/TT-BVHTT ngày 28/8/2006 của Bộ Văn hóa thông
tin, hướng dẫn thực hiện một số quy định về kinh doanh vũ trường, karaoke, trò
chơi điện tử quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn
hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định 11/2006/NĐCP.
- Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2006 của Chính phủ về đẩy mạnh
xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao.
- Thông tư 12/2007/TT-BVHTT ngày 29/5/2007 hướng dẫn thực hiện
Nghị định 56/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn
hóa – thông tin.
…
22
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN
SÓC, HUYỆN SÓC SƠN
2.1. Tổng quan về huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội.
2.1.1. Qúa trình hình thành, vị trí địa lý, cơ cấu dân cƣ.
*. Qúa trình hình thành:
Huyện Sóc Sơn – mảnh đất anh hùng đã hơn 3000 năm gắn bó với câu
chuyện và di tích thờ Thánh Gióng, đây cũng là mảnh đất trong nhiều giai đoạn
lịch sử viết lên những trang sử anh hùng.
chạy từ Nỉ qua dốc Dây Diều gặp quốc lộ 2 tại địa phận xã Thanh Xuân.
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, phát xít Nhật chiếm đóng Hà Nội
đã cho xây dựng ở đây sân bay Hương Gia, về sau mở rộng thành sân bay quốc
tế Nội Bài.
Trung tâm huyện lị nằm trên trục đường quốc lộ số 3 thuộc phần đất của
hai xã Phù Linh và Tiên Dược.
Về mặt hành chính, huyện Sóc Sơn gồm 25 xã và một thị trấn. Diện tích
tự nhiên toàn huyện là 314km2 trong đó đất nông nghiệp là 13.206 ha, đất lâm
nghiệp là 6,765 ha, chiếm khoảng 20% diện tích đất tự nhiên(theo số liệu thống
kê của ban quản lý ruộng đất huyện Sóc Sơn).
*. Cơ cấu dân cƣ:
Theo số liệu của Chi cục thống kê Sóc Sơn 2011, dân số toàn huyện là
299.602 người hầu hết là người Kinh, trong đó có 148.463 chiếm 49.5% là nữ,
tỷ lệ sình là 1,89%.
Huyện Sóc Sơn có một lực lượng lao động dồi dào, cần cù, sáng tạo, nếu
được đào tạo đầy đủ và phân công lao động hợp lý sẽ trở thành yếu tố hết sức
quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Trong huyện nhân theo đạo Phật và không theo đạo nào chiếm rất đông.
Người theo đạo Thiên Chúa chiếm tỷ lệ thấp và tập trung chủ yếu ở các xã Hiền
Minh, Tân Minh, Phù Linh và Xuân Thu thuộc hai xứ Nội Bài và Yên Mỹ.
2.1.2. Đời sống kinh tế - xã hội.
*. Đặc điểm kinh tế:
24
Sóc Sơn là một huyện trung du , đất đai vừa có phần đồi núi, vừa có phần
đồng bằng nên sự gieo trồng có thể phát triển đa dạng. Ngoài việc tròng lúa,
nhân dân còn phát triển việc trồng màu(ngô, khoai, sắn) và một số cây công
nghiệp như chè, lạc, đậu tương đặc biệt là hoa nhài, cây ăn quả. Sóc Sơn còn là