LỜI CẢM ƠN
quyền địa phương nơi em làm đề tài nghiên cứu cùng với những người
dân
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cơ quan chính quyền, nhân dân
xã Cẩm Châu đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc nghiên cứu tại cơ sở
được thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN
TỘC MƢỜNG XÃ CẨM CHÂU HUYỆN CẨM THỦY TỈNH
THANH HÓA ........................................................................................................ 9
1.1. Một số thuật ngữ và khái niệm. ........................................................................ 9
1.1.1. Văn hóa. ........................................................................................................ 9
1.1.2. Định nghĩa vật chất và văn hóa vật chất. ...................................................... 13
1.1.3. Biến đổi văn hóa............................................................................................ 13
1.2. Khái quát về địa bàn cư trú và dân tộc Mường ở xã Cẩm Châu huyện
Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa. ..................................................................................... 15
1.2.1. Địa bàn cư trú. .............................................................................................. 15
1.2.2. Khái quát về cộng đồng dân tộc Mường xã Cẩm Châu huyện
Cẩm Thủy. ............................................................................................................... 18
Tiểu kết chương 1.................................................................................................... 25
CHƢƠNG 2: VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƢỜI MƢỜNG Ở XÃ
CẨM CHÂU HUYỆN CẨM THỦY TỈNH THANH HÓA............................... 26
2.1. Nhà ở truyền thống. .......................................................................................... 26
2.1.1. Quy trình tạo ra ngôi nhà sàn truyền thống. ....................................................... 27
2.1.2. Một số nghi thức cầu cúng và kiêng kỵ khi làm nhà. .................................... 33
3.2.3. Một số nguyên nhân dẫn đến biến đổi văn hóa ẩm thực. ............................. 76
3.2.4. Một số nguyên nhân dẫn đến phương tiện vận chuyển và công cụ lao
động. ........................................................................................................................ 77
3.3. Một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật chất
truyền thống của người Mường xã Cẩm Châu, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh
Hóa. ......................................................................................................................... 78
3.3.1. Đối với nhà sàn truyền thống. ....................................................................... 79
3.3.2. Đối với trang phục. ....................................................................................... 80
3.3.3. Ẩm thực ......................................................................................................... 82
3.3.4. phương tiện vận chuyển và công cụ lao động. .............................................. 83
Tiểu kết chương 3.................................................................................................... 84
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 86
DANH SÁCH NGƢỜI CUNG CẤP THÔNGT IN ........................................... 88
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 86
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Văn hóa là một trong những thành tố quan trọng giúp ta hiểu và phân
biệt được giữa dân tộc này với dân tộc khác, các dân tộc có thể sử dụng cùng
ngôn ngữ, có thể có chung một hình thái xã hội cũng có thể có chung các
hoạt động hình thức phát triển kinh tế nhưng họ sẽ có sự khác nhau về văn
hóa. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng mà khi nhìn vào đó ta có thể
phân biệt được đây là dân tộc nào.
Khi nghiên cứu về văn hóa của một dân tộc người ta thường chia văn
hóa dân tộc đó thành hai yếu tố: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn
hóa tinh thần bao gồm các yếu tố như ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo tín
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Liên quan đến văn hóa Mường hiện nay ở nước ta có rất nhiều sách
nghiên cứu như:
+ Đẻ đất đẻ nước – sử thi dân gian Mường, NXB văn hóa dân tộc,
Hà Nội, 1976.
+ Nguyễn Hải, Tản mạn văn hóa Mường, NXB thông tin và truyền
thông, 2012.
+ Vũ Ngọc Khánh, Văn hóa bản Mường Việt Nam, NXB Đà Nẵng,
thang 10 – 2011.
+ Bùi Thiện, Văn hóa dân gian Mường, NXB văn hóa dân tộc, 2010.
+ Bùi Huy Vọng, Tang lễ cổ truyền người Mường, NXB đại hộc quốc
gia Hà Nội, 2010.
+ Giáo sư Nguyễn Từ Chi, Hoa văn Mường, NXB văn hóa dân tộc, 1978.
+ Vương Anh, Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa, trong sách Kỷ
yếu Văn hóa dân tộc Mường, Sở Văn hóa Thông tin, Hội Văn hóa các dân
tộc Hòa Bình xuất bản, 1995…vv.
5
Nhìn chung tất cả cuốn sách nêu trên đều chứa đựng những nội dung
liên quan đến đời sống văn hóa của dân tộc Mường, trong đó đề cập đến các
vấn đề cơ bản như:
- Khái quát về nguồn gốc, tên gọi, địa bàn cư trú của dân tộc Mường.
- Đề cập đến đời sống văn hóa vật chất cũng như đời sống văn hóa tinh
thần của dân tộc Mường.
- Có những cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về một hoặc một số lĩnh
vực trong văn hóa Mường như: Trong tang ma, ẩm thực, nghệ thuật dân gian
Mường, trang phục Mường, nhà ở…vv, từ đó khẳng định giá trị, vai trò, vị trí
Nghiên cứu về văn hóa vật chất truyền thống và văn hóa vật chất trong xu
hướng phát triển hiện nay của người Mường tại xã Cẩm Châu huyện Cẩm Thủy
tỉnh Thanh Hóa để từ đó thấy được sự biến đổi trong văn hóa vật chất, cũng
thoong qua đó đề tài sẽ nêu lên một số giải pháp nhằm bảo tồn phát huy những
giá trị văn hóa vật chất của người Mường tại xã Cẩm Châu huyện Cẩm Thủy.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Để đạt được mục đích trên đề tai cần làm rõ các vấn đề sau:
- Khái niệm văn hóa và khái niệm văn hóa vật chất.
- Văn hóa vật chất truyền thống của người Mường tại xã Cẩm Châu
huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa.
- Khái niệm về sự biến đổi.
- Sự biến đổi trong văn hóa vật chất của người Mường trong xu thế
hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những biến đổi văn hóa vật chất
của người Mường trong giai đoạn hiện nay.
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Văn hóa vật chất của cộng đồng dân tộc Mường tại xã Cẩm Châu
huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể:
+ Phương pháp điền dã dân tộc học.
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
là cày cấy và vun trồng sau này Cultura chuyển từ nghĩa đen là trồng trọt, làm
đất sang nghĩa bóng là vun trồng tinh thần, trí tuệ, cải thiện và nâng cao tập
quán, hành vi con người. Quan điểm của các nhà nghiên cứu phương tây nhấn
mạnh ba khía cạnh của văn hóa:
- Văn hóa với tư cách là sự phát triển của cá nhân trong xã hội.
- Văn hóa là cái đặc thù của mỗi xã hội với môi trường xã hội nhất định.
- Văn hóa là cái có thể hòa hợp, đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các
môi trường văn hóa khác nhau, giữa các vùng, các quốc gia khác nhau trên
quy mô khu vực và trên thế giới.
+ Quan điểm của các xã hội Phương Đông: Ở phương đông từ văn hóa
được tách thành hai khái niệm riêng biệt đó là „văn” và “hóa”. “ văn” là màu
sắc, đường nét giao nhau, là lễ nghĩa, là sự giáo dục bằng đạo đức, là những
9
cái tốt đẹp tốt đẹp trong cuộc sống đã được đúc kết lại ở dạng ký hiệu biểu
tượng. “hóa” là sự cải biến hóa sinh, là quy luật của tạo hóa sinh sôi nảy nở,
là sự giao thác của hai sự vật dẫn tới một hoặc cả hai sự vật biến đổi, là đem
những điều đã đúc kết được hóa thân trở lại cuộc sống.
+ Văn hoá trong quan niệm triết học Mácxít, là kết quả của quá trình
biến đổi bản thân con người, với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của
con người. Văn hoá theo đó xuất hiện từ lao động, hiện ra như một nhiệm vụ
thực tiễn biến đổi các quan hệ qua lại giữa con người và thế giới. Văn hoá là
một quá trình cải biến con người thành chủ thể của sự vận động lịch sử, thành
một cá nhân toàn vẹn.
+ Trong Tuyên ngôn của “Hội nghị quốc tế về chính sách văn hoá” do
UNESCO tổ chức vào tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô, văn hoá được xác định:
là tổng thể các dấu hiệu tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc biệt, xác
định tính cách của một xã hội xã hội hay một nhóm xã hội. Nó bao hàm
không chỉ cuộc sống nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lối sống, các quyền
nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày
về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa”. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.
Văn hóa theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là toàn bộ những
gì do con người sáng tạo ra, là “thiên nhiên thứ hai”, ở đâu có con người,
quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hoá. Bản chất của văn
hoá là có tính người và tính xã hội. Văn hoá là một thực thể sống của con
người. Người ta có thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy và cảm thấy bằng những
11
cách khác nhau của một nền văn hoá, một thời đại văn hoá, một giá trị văn
hoá do con người tạo ra. Dù là văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần cũng
đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo
ra vì mục đích của cuộc sống.
+ Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng
và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra đinh nghĩa về văn
hóa như sau:
Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình
hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên.
+ Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần
Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại thẻ hiện đời sống
tinh thần của con người dưới hình thức vật chất. Là kết quả của sự sáng tạo
biến những vật và chất liệu thành những đồ vật có giá trị sử dụng và tính thẫm
mỹ nhằm phục vụ cuộc sống của con người.
Thông qua các định nghĩa ta có thể khẳng định các yếu tố nhà cửa,
trang phục, phương tiện đi lại, ẩm thực, công cụ lao động tồn tại trong cuộc
sống của chúng ta đều là các giá trị thuộc văn hóa vật chất.
1.1.3. Biến đổi văn hóa
1.1.3.1. Điều kiện cần và đủ để biến đổi văn hóa.
Một nền văn hóa muốn biến đổi trước tiên nó phải có điều kiện cần.
13
+ Điều kiện cần trong biến đổi văn hóa đó là môi trường sinh sống mới
và sự tiếp xúc với những nền văn hóa khác đó sẽ là những điều kiện cần yếu
dẫn đến sự biến đổi văn hóa.
+ Điều kiện đủ: Điều kiện đủ để đưa đến vay mượn và thích nghi văn
hóa là sự có mặt của những yếu tố sau đây:
+ Tinh thần khai phóng của người vay mượn.
+ Sự tự do chấp nhận cái mới lạ của người vay mượn.
+ Sự lợi ích của những gì được vay mượn học hỏi.
Văn hóa không biến đổi nếu các thành phần trong nền văn hóa đó
không có tinh thần cởi mở, không chấp nhận những cái mới lạ của nền văn
hóa khác. Mặc khác dù các thành phần chấp nhận những cái mới lạ của văn
hóa nhưng không được tự do để học hỏi, thực hiện thì văn hóa cũng không có
cơ hội thay đổi.
1.1.3.2. Khái niệm giao lưu và tiếp biến văn hóa.
Giao lưu và tiếp biến văn hóa là hiện tượng xảy ra khi những nhóm
người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau
a) Đặc điểm tự nhiên.
* Vị trí địa lý: Cẩm Châu là xã thuộc Huyện Cẩm Thủy, Tỉnh Thanh
Hóa. Xã Cẩm Châu nằm ở phía nam của Huyện Cẩm Thủy, cách trung tâm
huyện Cẩm Thủy là 8 km2 và cách thành phố Thanh Hóa là 68km2. Cẩm Châu
có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp các xã Cẩm Thạch, Cẩm Bình và xã Cẩm Sơn huyện
Cẩm Thủy.
- Phía Đông giáp xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
- Phía Nam giáp xã Cẩm Tâm huyện Cẩm Thủy và xã Đồng Thịnh,
huyện Ngọc Lặc.
- Phía Tây giáp các xã Quang Trung và Thạch Lập huyện Ngọc Lặc.
15
*Địa hình: Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc –Đông Nam, độ cao
trung bình từ 200 – 400 m, địa hình đồi núi chiếm chủ yếu.
* Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, không quá nóng, lượng mưa vừa
phải, mùa đông lạnh, tương đối khô, biên độ tương đối lớn. Nhiệt độ trung
bình tháng giêng là 15,5 - 16,0oC, tháng Bảy là 28 - 29 oC. Nhiệt độ tối thấp
tuyệt đối có thể xuống tới 2oC, tối cao tuyệt đối có thể tới 38 - 40oC. Hàng
năm có 10-15 ngày có gió Tây khô nóng. Sương muối chỉ xảy ra trung bình
vào 1 – 3 ngày trong mùa đông.
* Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Cẩm Châu là Tổng
diện tích tự nhiên là: 3783,34 ha. Trong đó có 2 loại đất chính là đất xám feralít
(ký hiệu AC fa). Đất hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau, nhưng chủ yếu
là đá magma trung tính. Địa hình phổ biến là các dạng đồi thấp, đồi bát úp, tầng
dầy đất phần lớn trên 1m, độ dốc phần lớn dưới 80 và đất phù sa bão hoà bazơ
điển hình (ký hiệu Fle- h). đất được chia làm các loại sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 1348,53 ha
trồng xen canh cây lương thực để đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, với
phương châm: "Lấy ngắn nuôi dài".
Hệ thống giao thông ngày càng hoàn thiện từ cấp thôn đến xã, có tỉnh
lộ 519 và đường mòn Hồ Chí Minh đi qua đây là tiềm năng lợi thế của địa
phương trong việc phát triển Tiểu thủ công nghiệp - Dịch vụ và giao thương
với các địa phương trong và ngoài tỉnh.
Xã Cẩm Châu có 35,88 ha đất dành cho xây dựng công nghiệp. Trong
những năm qua, Đảng bộ và chính quyền xã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Hiện nay trên địa bàn xã có 01 Nhà
máy chế biến gỗ dăm xuất khẩu, đã và đang hoạt động hiệu quả, ổn định. Đây
là điều kiện thuận lợi để địa phương phát triển ngành trồng rừng.
17
Xã Cẩm Châu có đội ngũ cán bộ, công chức đang từng bước được
chuẩn hoá, có tinh thần đoàn kết nội bộ cao. Tình hình trật tự an toàn xã hội
luôn được giữ vững ổn định. Các tệ nạn xã hội và hủ tục lạc hậu đang từng
bước được loại bỏ. Đây là một nhân tố quan trọng để đưa xã Cẩm Châu phát
triển đi lên đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới hiện nay.
Ngoài ra vùng còn có các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng đó là
các núi đá vôi.
1.2.2. Khái quát về cộng đồng dân tộc Mường xã Cẩm Châu huyện
Cẩm Thủy.
1.2.2.1. Lịch sử hình thành cộng đồng Mường tại xã Cẩm Châu huyện
Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
Cộng đồng người Mường ở Cẩm Châu có nguồn gốc từ nhánh Mường
trong(theo quan niệm của đồng bào là Mường gốc), được xuất xứ từ Mường
Ống , huyện Bá Thước ngày nay. Theo truyện kể của những người già trong
xã thì người Mường bắt đầu di cư đến đây sau nạn đói khủng khiếp mọi người
hạt ngô xuống và lấy chân gạt đất lấp lại có thể nói hình thức này đơn giản
hơn rất nhiều so với thao tác trồng ngô của người Kinh. Họ đặc biệt không
dùng bất kỳ loại phân nào khi trồng ngô, chỉ sau khi ngô được 3 – 4 lá mới
tiến hành bón phân một lần, đến lúc thu hoạch ngô chỉ bón thêm một lần phân
cho ngô nữa đó là vào lần ngô bắt đầu trổ. Ngoài cây ngô người Mường còn
trồng đậu và sắn nhưng do hiệu quả kinh tế kém hơn nên diện tích trồng đậu
và sắn rất ít. Người Mường cũng trồng một số cây khác: Cây công nghiệp như
cây mía, cây luồng, cây keo, cây lát. Cây ăn quả như: vải, nhãn, cam....
Những loại cây này năng suất kinh tế tuy cao hơn nhưng đòi hỏi phải có nhiều
vốn để đầu tư và nó lại lâu được thu hoạch nên ít được trồng.
Chăn nuôi của người Mường ở Xã Cẩm Châu chủ yếu là chăn nuôi trâu
với số lượng không lớn. Trung bình mỗi gia đình có một đến hai con. Người
Mường nuôi trâu chủ yếu phục vụ mục đích lấy sức cày kéo, chưa có mục
19
đích nuôi để bán lấy thịt. Điều kiện đồi núi rất thuận tiện cho việc chăn thả
trâu, tuy nhiên do nguồn vốn có hạn nên họ chỉ nuôi với quy mô nhỏ.
Ngoài ra họ có nuôi gà để cung cấp thực phẩm cải thiện bữa ăn và còn tăng
thêm nguồn thu nhập nhưng gà được nuôi cũng chỉ dưới quy mô nhỏ. Lợn
cũng được nuôi nhưng số lượng rất ít do ở đây rất hay bị dịch bệnh. Ngày nay
với sự hỗ trợ vốn của nhà nước các hộ gia đình đang có xu hướng phát triển
kinh tế theo mô hình VAC đang từng bước đạt hiệu quả cao và có xu hướng
mở rộng xu hướng phát triển này.
1.2.2.3. Tổ chức cộng đồng.
Hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ lang đạo. các
dòng họ lang đạo ( Bùi, Lê xuân, Chương) thay nhau cai quản. Đứng đầu mỗi
Mường là các Lang Cun, dưới Lang Cun có các Lang xóm, cai quản một xóm.
Ngày nay trong mỗi làng thì có trưởng xóm và trưởng làng. Trưởng
trai mang sang để uống , nếu không đồng ý thì nhà gái sẽ trả lại cả trai rượu.
Tuy nhiên đây đây chưa phải lần quyết định đi đến lễ cưới nên dù trả rượu
hay uống, nhà trai vẫn tiến hành sang nhà gái lần nữa. Sau khi thăm lời được
3 – 5 ngày nhà trai lại cử đại diện và ông mối qua để nhà gái trả lời, lần này
dù đồng ý hay không đồng ý nhà gái cũng sẽ trả lời để nhà trai được biết. Nếu
đồng ý thì họ sẽ quyết định ngày cưới đã chọn sẵn. Nhà trai phải chuẩn bị các
lễ vật để đem sang nhà gái.
Tổ chức lễ cưới có thể to nhỏ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng
gia đình. Đám cưới thường được tổ chức trong bốn ngày. Ngàythứ nhất mời
Cụ Mộng (bên ngoại), ngày thứ hai mời các đầu thông gia và khách xa, ngày
thứ ba mời trong làng xóm, anh em bạn bè thân thiết và một ngày đi đón dâu.
Trong bốn ngày này tùy thuộc vào số lượng khách, kinh tế của chủ nhà để làm
cỗ bàn. Sau khi đám cưới kết thúc, cô dâu và chú dể phải thực hiện một số
nghi lễ, sau những nghi lễ này họ mới chính thức trở thành vợ chồng. Khi kết
21
thúc đám cưới gia đình nhà trai làm bữa cơm đơn giản mời bà mối, phù dâu,
phù dể đến để cảm ơn họ, kèm theo một khoản tiền.
Sau đám cưới khoảng 3 ngày thì cô dâu cùng chú dể được phép về nhà
bố mẹ đẻ của cô dâu, họ sẽ ở lại 3 ngày, sau 3 ngày này cô dâu và chú dể xin
phép về nhà của chú dể. Ngày nay đám cưới người Mường nơi đây đã có
nhiều thay đổi về nghi thức cũng như trang phục của cô dâu và chú dể cũng
có sự biến đổi.
1.2.2.5. Tang ma của người Mường Cẩm Châu.
Khi trong gia đinh có người chết gia đình sẽ phải báo cho trưởng làng
biết sau đó trưởng làng sẽ đánh ba tiếng cồng để báo cho làng biết trong làng
có người chết. Sau tiếng cồng thì con cháu người thân mới được khóc và bắt
đầu phát tang, nếu trong gia đình có người chết mà không báo trưởng thôn và
chết mới được làm. Sau khi đã đặt quan tài xuống người con dâu cả phải bỏ
nắm đất trước rồi tới những người trong gia đình sau đó mới tới những người
trong làng xóm.
Trong đám tang người con gái nếu đã đi lấy chồng thì phải mang một
con lợn không quy định nhỏ hay to để cúng. Sau đám tang người con trai cả
mang rượu gạo nếp, gà đến nhà chồng của chị hoặc em gái để làm vía giải hạn
tang cho gia đình họ.
Trong đám tang người Mường Cẩm Châu không thể thiếu món canh
loóng. Món canh loóng gồm có lá đắng, lòng lợn, thịt lợn và cây chuối rừng.
món canh loóng có ý nghĩa chia tay với người chết, đám ma nào cũng phải có
và người nào tham gia vào đám ma cũng phải ăn món này. Trong đồ cúng của
người Mường Cẩm Châu không thể thiếu rượu, xôi, món lòng lợn và món
xườn nướng, mòn lòng lợn bắt buộc phải có nó thể hiện tấm lòng của người
sống đối với người chết.
Người Mường Cẩm Châu cũng làm 3 ngày cho người chết. Khi người
chết được 3 ngày gia đình có người chết phải làm xôi, gà và rượu cúng người
chết đồng thời họ phải đắp lại mộ vì hôm đưa tang họ chỉ lấp lớp đất mỏng,
23
sau lấp đất họ dùng tre đóng cọc rào khung mộ xung quanh, ở mộ nếu là con
gái thì đặt 9 ống nước, 9 bó củi, 9 bó nứa, con trai thì 7 ống nứa, 7 ống nước
và 7 bó củi cùng với một ít gạo.
Người Mường ở Cẩm Châu có tổ chức làm 49 ngày cho người chết
nhưng không tổ chức làm giỗ cho người chết, họ chôn cất một lần và sau
khoảng một năm họ làm lễ đoạn tang.
1.2.2.6. Tín ngưỡng.
Ngoài việc thờ cúng tổ tiên người Mường còn có tục thờ thần Suối, thờ
thần Đồi ( thần nương rẫy), mỗi năm cứ vào khoảng đầu tháng 2 người
Mường tổ chức cùng nhau lên nương đồi để đốt rẫy sau đó mỗi nhà đều tổ
địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm về kinh tế xã hội thành
phần dân tộc…tiếp đến là khái quát về dân tộc Mường ở xã Cẩm Châu, trong
phần khái quát này tôi đưa ra vấn đề giải thích về nguồn gốc của dân tộc
Mường ở đây, giới thiệu sơ lược về các hoạt động kinh tế, hình thái xã hội,
các hoạt động văn hóa tang ma, đám cưới, tín ngưỡng…vv.
Thông qua chương 1 chúng ta sẽ có cái nhìn khái quát nhất về dân tộc
Mường sinh sống tại xã Cẩm Châu, các diều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên
thiên nhiên sẽ có vai trò tác động và hình thành nên bản sắc văn hóa của dân
tộc Mường nơi đây.
Với những nội dung trên, chương 1 sẽ là cơ sở, là nền tảng để chương 2
và chương 3 nghiên cứu vấn đề một cách chuyên sâu.
25