BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THANH TÙNG
C¸I NH×N NGHÖ THUËT VÒ THÕ GIíI Vµ CON
NG¦êI
TRONG MéT Sè T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA
NGUYÔN KH¶I
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. TRẦN ĐĂNG XUYỀN
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của
cá nhân tôi. Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là
trung thực. Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công
trình nào đã được công bố trước đó.
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thanh Tùng
sau năm 1975, bằng những tìm tòi, thể nghiệm, trăn trở với “tinh thần dân chủ và
nhân bản” trong nhiều tác phẩm của mình, Nguyễn Khải luôn được các nhà nghiên
cứu đánh giá như một trong những cây bút “mở đường” tiên phong cho công cuộc
đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện đại.
1.2. Nguyễn Khải tự nhận mình là “giọt nắng nhạt” nhưng trang viết của ông
luôn đậm nồng hơi thở cuộc sống, kịp thời đem đến cho người đọc nhiều lí giải
đúng đắn và khêu gợi suy nghĩ về những vấn đề xã hội đang đặt ra trong cuộc sống.
Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Khải là một nhà văn lớn, sớm
định hình nên một lối viết đón bắt những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hôm nay,
của cái ngày mai rất gần. Ông cũng có quan niệm nghệ thuật rõ ràng “nghệ thuật là
khoa học thể hiện lòng người”. Bởi vậy, theo nhiều nhà nghiên cứu phê bình,
Nguyễn Khải là một nhà văn lớn, có tư tưởng và phong cách nghệ thuật. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu khảo sát để làm rõ những đặc điểm phong cách nghệ
thuật của Nguyễn Khải, các yếu tố định hình nên phong cách của nhà văn. Trong
các yếu tố đó, có những yếu tố ổn định, nhất quán nhưng cũng có những yếu tố phải
thay đổi, điều chỉnh theo từng giai đoạn sáng tác. Việc xác định được yếu tố hạt
nhân, có tính ổn định, xuyên suốt các giai đoạn sáng tác của Nguyễn Khải sẽ góp
phần nhận diện được phong cách nghệ thuật của nhà văn.
1.3. Một trong những yếu tố chủ yếu của phong cách văn xuôi Nguyễn Khải
chính là cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn. Nhà văn Marcel
1
Proust (Pháp) đã từng nói: “Phong cách nghệ thuật đối với nhà văn cũng như sắc
màu đối với họa sĩ, không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn” (Hồng
Sâm dịch). Ý kiến của Proust coi nhẹ những yếu tố kĩ thuật như lối viết, các biện
pháp nghệ thuật trong việc tạo dựng phong cách nhà văn nhưng đã nhấn mạnh đến
vấn đề “cái nhìn” như một yếu tố quyết định làm nên phong cách nghệ thuật. Do đó,
việc nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người trong một số tác phẩm
Năm 1983, trong cuốn Nhà văn hiện đại 1945-1975 - tập 2, nhà nghiên cứu
Phan Cự Đệ chỉ ra: “Truyện ngắn và truyện vừa có màu sắc trí tuệ của Nguyễn Khải
vẫn tạo nên một sức hấp dẫn đặc biệt nhờ ở tính thời sự nhạy bén của các sự kiện và
ý nghĩa lâu dài của các vấn đề đặt ra, nhờ ở những chi tiết tâm lí sâu sắc và chi tiết
sự việc sống động”[7, tr.51]. Như vậy, cái nhìn nghệ thuật thể hiện trong hệ thống
chi tiết đã được Phan Cự Đệ khẳng định như một dấu hiệu tạo nên sự hấp dẫn của
truyện ngắn Nguyễn Khải.
Trong cuộc luận bàn về sáng tác của Nguyễn Khải, hai nhà nghiên cứu Lại
Nguyên Ân và Trần Đình Sử cùng đi tìm nguyên nhân: vì sao sáng tác của Nguyễn
Khải gây được sự chú ý của độc giả. Theo Lại Nguyên Ân thì người đọc thích
Nguyễn Khải ở “chất văn xuôi”, nghĩa là tính hiện thực của tác phẩm khi viết về
“những con người, những sự việc những vấn đề của hôm nay”, “đề tài nhằm thẳng
vào cuộc sống hiện tại”. Còn Trần Đình Sử thì lại nhấn mạnh đến cái “cảm hứng
nghiên cứu” và “sự phân tích tâm lý” đã làm cho tác phẩm của nhà văn không rơi
vào minh họa đơn giản, một chiều. Điểu đó giúp sáng tác của Nguyễn Khải tránh
khỏi rơi vào sự quên lãng mau chóng.
Các bài viết và công trình nghiên cứu sau này của nhiều tác giả cũng bước
đầu đề cập cụ thể hơn về cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm Nguyễn Khải. Có thể
nhắc đến Đoàn Trọng Huy trong Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải
(1990) đã nhấn mạnh “cái nhìn hiện thực nghiêm ngặt” của Nguyễn Khải giúp nhà
văn phát hiện ra hiện thực luôn “có vấn đề”, ẩn chứa nhiều mâu thuẫn, xung đột
trong các sự kiện, hiện tượng của đời sống và tâm lí con người. Đến năm 1996, với
bài viết khá công phu Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học cách mạng từ
sau năm 1945, Vương Trí Nhàn đã nhận ra cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Khải ở
giai đoạn sau năm 1980 vẫn luôn hướng về “cái hôm nay” nhưng nó không chỉ là
3
hiện thực đậm tính thời sự, chính luận nữa mà đã đi sâu vào nhiều vấn đề thế sự, đời
ra sự phức hợp giọng điệu trong tác phẩm của ông. Bích Thu đã chỉ ra đó là giọng
triết lý, tranh biện; giọng điệu thể hiện sự trải nghiệm cá nhân tâm tình, chia sẻ;
giọng hài hước hóm hỉnh.
Ngoài ra, những năm gần đây, cũng có nhiều công trình luận văn tiến sĩ, thạc
sĩ của các trường đại học, viện nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu nhiều phương diện
khác nhau trong tác phẩm Nguyễn Khải như: tính triết luận, hình tượng tác giả, thế
giới nhân vật, đặc điểm ngôn ngữ trong văn xuôi Nguyễn Khải,… Nhưng do yêu
cầu và mục đích của luận văn nên chúng tôi không đề cập đến ở đây.
Trên cơ sở khảo sát những bài viết và công trình nghiên cứu về nhà văn
Nguyễn Khải, đặc biệt là những công trình có đề cập đến cái nhìn nghệ thuật trong
sáng tác của ông, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
1. Số lượng các bài viết, những ý kiến đánh giá về Nguyễn Khải và sáng tác
của ông rất phong phú. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định Nguyễn Khải là
một nhà văn sắc sảo, đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống, có nhiều tìm tòi, đổi
mới trong cách viết.
2. Hầu như cho đến nay, chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về
cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người trong những tác phẩm tiêu biểu của
Nguyễn Khải. Nếu có chỉ là những ý kiến, bài viết riêng lẻ, những nhận xét khái
quát còn sơ lược, hoặc mới chỉ chạm đến một phương diện nhất định trong cái nhìn
nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khải. Tuy nhiên, tất cả những bài viết và công trình
nghiên cứu trên đây đều là những gợi ý và định hướng quan trọng để chúng tôi triển
khai đề tài Cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người trong một số tác phẩm
tiêu biểu của Nguyễn Khải.
3. Phạm vi nghiên cứu
Do nhiều lí do và điều kiện khách quan, nên trong luận văn này, chúng tôi
chỉ tập trung nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người của Nguyễn
Khải qua một số tác phẩm tiêu biểu như sau:
Về tiểu thuyết và truyện vừa gồm có: Xung đột (1959), Tầm nhìn xa (1963),
Chúng tôi xác định coi cái nhìn nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khải là một
yếu tố quan trọng trong một hệ thống chung lớn hơn là phong cách nghệ thuật của
nhà văn, cùng cấp độ với một số yếu tố khác như giọng điệu nghệ thuật, thế giới
6
nhân vật,… Đồng thời, xác định cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Khải cũng là một
hệ thống chỉnh thể có nội dung và hình thức thể hiện riêng.
5.3. Phương pháp thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này nhằm thống kê và phân loại những đối tượng và
cách thức mà cái nhìn nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khải hướng tới và sử dụng
chủ yếu. Đồng thời chúng tôi cũng thống kê một số biện pháp tu từ nghệ thuật mà
Nguyễn Khải thường xuyên sử dụng, đã tạo nên một trường liên tưởng đặc trưng
như thế nào cái nhìn nghệ thuật của ông về con người và thế giới.
5.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để nhận ra những nét tương đồng và dị biệt giữa Nguyễn Khải và các nhà
văn cùng thời, chúng tôi so sánh ông với Chu Văn ở đề tài tôn giáo, so sánh với
Nguyễn Minh Châu về loại hình nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật và phương
thức tổ chức lời văn nghệ thuật.
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người trong một số tác
phẩm tiêu biểu của Nguyễn Khải góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật của
nhà văn có cơ sở khoa học. Luận văn sẽ giúp cho người đọc có thể nhận thức, phân
tích, lí giải những nét độc đáo trong cách nhìn con người và thế giới của Nguyễn
Khải. Từ đó, luận văn gợi mở một hướng nghiên cứu có tính hệ thống đối với cái
nhìn nghệ thuật của những tác giả lớn có phong cách nghệ thuật. Luận văn cũng góp
phần khơi gợi ý tưởng cho các công trình nghiên cứu Nguyễn Khải về sau.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính luận văn gồm 3 phần như sau:
Nam Cao không cần miêu tả nhiều về diện mạo, hay cách ăn mặc, nhà văn chỉ cần
đặc tả tiếng cười “rất sang” của hắn. Tiếng cười của một tên “lưu manh bậc thầy”
rất sành sỏi các thủ đoạn áp bức, bóc lột, đè nén những người nông dân nghèo khổ ở
cái làng Vũ Đại ấy.
Văn học phản ánh hiện thực, nhưng nó không làm cái việc phản ánh thụ
động như một tấm gương. Vai trò của nhà văn trong quá trình văn học phản ánh đời
sống là hết sức quan trọng. Chính vai trò của chủ thể, thái độ của nhà văn đối với
cuộc sống, làm cho văn học trở thành một lời tâm sự, một sự kí thác, một tiếng kêu
8
cảnh tỉnh hay thúc giục hành động, một sự bộc lộ thái độ, tư tưởng, tình cảm chủ
quan của nhà văn đối với thế giới và con người. Hình tượng con đường có thể xem
là đặc điểm chung của thơ ca cách mạng Việt Nam và thơ ca cách mạng thế giới.
Trong thơ Tố Hữu, con đường đã được thể hiện thật nổi bật, phong phú, nhất quán
và trở thành nét tư duy cơ bản, đặc sắc trong thơ ông: đó là con đường đi đày của
những người không chết - những người chiến sĩ, là con đường cách mạng mỗi lúc
mỗi hiện ra rõ mồn một, thênh thang, tít tắp, mở ra nhiều hướng, nhiều bình diện:
con đường ra trận, con đường chiến thắng, con đường thống nhất, con đường hạnh
phúc, con đường tình nghĩa, con đường sáng tạo, con đường của cha ông, con
đường thắng lợi, con đường sang nước bạn, con đường ra thế giới... Con đường
như thế đã thành một không gian nghệ thuật chung, không gian xã hội cho mọi
người Việt Nam, ở đó, người đọc có thể gặp gỡ hầu hết mọi tầng lớp quần chúng
đông đảo của cách mạng.
Trong hầu hết những truyện ngắn, truyện dài của Vũ Trọng Phụng, các tình
tiết, tình huống, các quan hệ nhân vật và số phận đều được nhà văn xếp đặt, tổ chức
theo nguyên tắc ngẫu nhiên, may rủi như : bố con trở thành kẻ thù, vợ chồng hóa ra
anh em, thằng bỗng hóa ra ông, ông lại hóa ra thằng, đang nghèo đói trở nên giàu có
hoặc ngược lại, cuộc sống quay cuồng vì vận hạn may rủi, vì số đen số đỏ...Thêm
tố như: thế giới quan, lí tưởng thẩm mỹ, vốn sống, kiến thức văn hóa, …
Vốn sống là nguồn chất liệu quan trọng và vô tận của văn học, là khâu nối liền
nhà văn với đời sống. Tuy nhiên, không phải vốn sống quyết định tất cả. Hễ có đi vào
đời sống là có tác phẩm, như có lúc đã lưu hành quan niệm như vậy. Thực tế cho thấy,
một số nhà văn cùng đi như nhau nhưng chất lượng tác phẩm viết ra lại không đồng
đều về quan điểm, lập trường, tư tưởng, về mặt sáng tạo nghệ thuật. Cũng có những
nhà văn đi về nhưng không viết được, hoặc những gì viết ra chưa đủ thể hiện sự nắm
bắt của tác giả ở chiều sâu bản chất sự vật.
Trong thế giới chủ quan của nhà văn, một yếu tố chiếm vị trí đặc biệt quan trọng
đó là thế giới quan. “Toàn bộ tư tưởng của con người hợp lại thành vũ trụ quan và nhân
sinh quan” (Lê Duẩn). Trong lĩnh vực sáng tác văn học, người ta thường gọi vũ trụ
quan là thế giới quan. Thế giới quan là “ hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm
về toàn bộ thế giới chung quanh mình. Theo nghĩa tổng quát, đó là toàn bộ những quan
10
điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm
triết học, xã hội và chính trị, luân lí, mĩ học, khoa học,...” [54, tr. 934].
Thế giới quan chi phối phạm vi hiện thực mà nhà văn quan tâm. Về chính trị và
xã hội, thế giới quan thể hiện ở quan điểm nhìn nhận những vấn đề cơ bản của con
người trong các quan hệ xã hội và trong mối tương quan giai cấp như vấn đề tự do của
con người, độc lập của dân tộc, vấn đề xâm lược và chống xâm lược, vấn đề áp bức bóc
lột và chống áp bức bóc lột, vấn đề quyền lợi và nghĩa vụ, cái riêng và cái chung... Sự lí
giải, đánh giá, chiều hướng giải quyết những vấn đề hiện thực phụ thuộc vào thái độ,
phương pháp nhận thức của nhà văn trong việc thừa nhận và phản ánh hiện thực trong
tính qui luật của nó. Cùng miêu tả mối quan hệ địa chủ - nông dân trong xã hội thực
dân nửa phong kiến Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, nhưng cách nhìn,
cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải, đánh giá của Khái Hưng trong Gia đình (1936), của
Hoàng Đạo trong Con đường sáng (1938) rất khác so với Ngô Tất Tố trong Tắt đèn
những điển hình mô tả từ một phương diện mới hoạt động của con người, tâm lý
của con người. Cái nhìn của nhà văn càng tinh bao nhiêu thì anh ta càng thâm
nhập sâu vào thực chất của sự vật, những khái quát nghệ thuật của anh ta, những
khám phá sáng tạo của anh ta càng lớn bấy nhiêu” [29, tr.89].
Như vậy, chính cái nhìn nghệ thuật của nhà văn là yếu tố quyết định làm nên cái
độc đáo, mới mẻ và sâu sắc trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực của mỗi tác
giả. Nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật của mỗi nhà văn là một con đường hữu hiệu, khả
dĩ có thể giúp ta nhận thức và lí giải những sáng tạo độc đáo, mang phong cách riêng
của mỗi nhà văn trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của họ.
1.1.2. Cái nhìn nghệ thuật
Theo nhà nghiên cứu văn học Trần Đình Sử, “cái nhìn nghệ thuật là hình
thức bên trong cơ bản của sáng tác nghệ thuật, trực tiếp qui định cấu tạo hình
thức của tác phẩm, thể hiện khả năng và chiều sâu lí giải con người và thế giới
của tác giả.” [58, tr.9]. Như vậy là cái nhìn nghệ thuật là một loại hình thức
mang tính quan niệm, nó kết tinh tất cả tư tưởng, vốn sống, kiến thức văn hóa,
… của nhà văn, mang tính độc đáo thuộc về phẩm chất tinh thần của người nghệ
sĩ. Nó mang tính thẩm mĩ và phải được thể hiện thông qua những sáng tác nghệ
thuật cụ thể.
12
Chúng ta không thể tìm được cái nhìn nghệ thuật của một nhà văn nếu
tách rời những sáng tác nghệ thuật của anh ta. Cái nhìn nghệ thuật ở mỗi nhà
vừa độc đáo, riêng biệt vừa thống nhất và ổn định, thể hiện qua toàn bộ sự
nghiệp sáng tác của họ. Thông thường, ở những nhà văn lớn có phong cách nghệ
thuật riêng mới có những cái nhìn nghệ thuật độc đáo, không lặp lại với ai và
cũng hiếm có ai có thể lặp lại được họ. Bởi lẽ, cái nhìn ấy có khả năng chi phối
toàn bộ thế giới hình tượng nghệ thuật, mối quan hệ phức tạp giữa nhiều cấp độ
nội dung và hình thức, tạo nên một chỉnh thể tác phẩm thống nhất, mang tính
đám con cháu của mình đã làm bại hoại gia phong thì uất lên mà chết. Cái chết
của ông cụ lập tức trở thành một niềm hạnh phúc vô bờ cho tất cả thành viên
trong gia quyến từ cụ cố Hồng – ông con giai cụ cố Tổ, vợ chồng Văn Minh –
ông cháu đích tôn, ông Phán mọc sừng, cô Tuyết, cậu Tú Tân, cho đến những
bạn bè, các đối tác làm ăn của gia đình như những ông tai to mặt lớn với đủ kiểu
râu ria - bạn cụ cố Hồng, đám giai thanh gái lịch bạn bè cô Tuyết, cô Hoàng
Hôn, tất nhiên không thể thiếu Xuân Tóc Đỏ, sư chùa Bà Banh,… Thậm chí,
niềm vui còn lan tỏa đến cả những nhân viên của sở cảnh sát đang lo thất nghiệp
như Min-đơ, Min-toa vì bỗng nhiên có người thuê giữ gìn trật tự cho đám ma.
Người dân khắp phố phường cũng được một phen “vui mắt” vì được xem một
đám tang “to tát chưa từng thấy”. Một đám tang có tất cả mọi lễ nghi, có sự
tham gia đông đảo của rất nhiều con cháu, bạn bè gần xa, thế nhưng nó lại thiếu
đi một điều quan trọng nhất để làm nên một đám tang đúng nghĩa. Đó chính là
tình người, sự tiếc thương chân thành dành cho người đã mất, là sự biết ơn,
thương xót, là đạo hiếu của con cháu dành cho ông cha mình. Thành ra đám tang
bỗng hóa thành đám rước. Nhưng đó là cuộc đưa rước của một đám “thây ma
sống” đang tiễn đưa một “thây ma chết”, là hành trình chôn vùi vĩnh viễn mọi
giá trị của đạo lí, của nhân cách, để cho đồng tiền, sự bỉ ổi, vô liêm sỉ, giả dối,
bịp bợm được lên ngôi. Thật là đáng sợ làm sao và chua xót biết bao! Có thể
nói, Vũ Trọng Phụng là nhà văn có biệt tài phát hiện ra mặt trái của xã hội, cái
xấu của con người. Đó là cái nhìn có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Nhà văn đứng về
phía người nghèo khổ, lầm than để lên án cái ác, công kích lối sống ăn chơi sa
đọa của những kẻ có tiền và có quyền. Đó là một cái nhìn tiến bộ, tích cực, phù
hợp với tình cảm và thái độ của đông đảo nhân dân lao động.
14
Nhắc đến văn học trước Cách mạng tháng Tám, chúng ta không thể bỏ
qua Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới, người đem đến một
vị của sự chia phôi, đổi thay vô tình khiến nhà thơ luôn lo âu, phấp phỏng trước
sự mong manh của cái đẹp, sự ngắn ngủi của hạnh phúc: “Thời gian giót từng
giọt buồn khô héo - Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều” ( Gửi hương cho gió).
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi - Khắp sông núi đều than thầm tiễn biệt”
(Vội vàng), “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” (Giục giã),… Chính vì thế, cái
điệp khúc thời gian không đứng đợi, tuổi trẻ sẽ mau qua, cái đẹp sớm tàn lụi, cái
tươi xanh sẽ chóng phai tàn, héo úa vang lên dồn dập trong thơ ông. Nó là cơ sở
để Xuân Diệu đề xuất một lối sống rất nhân văn và hiện đại: sống hết mình từng
phút giây, không chấp nhận sống nhạt nhòa, phẳng lặng, hay bỏ lỡ những gì tươi
đẹp nhất mà cuộc sống đã ban tặng.
Như vậy, ở những nhà văn lớn có cá tính sáng tạo và phong cách nghệ
thuật luôn xuất hiện cái nhìn độc đáo về thế giới và con người. Chính cái nhìn
nghệ thuật đó đã làm nên đặc sắc trong những tác phẩm của họ, giúp họ “tái tạo
thế giới” theo cách của riêng mình mà vẫn đầy tính thẩm mỹ và hấp dẫn.
1.2. Cơ sở hình thành cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người của
Nguyễn Khải
1.2.1. Tiểu sử và đặc điểm con người Nguyễn Khải
1.2.1.1. Tiểu sử
Nguyễn Khải, tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải, sinh năm 1930 tại Hà
Nội. Quê cha ở phố Hàng Nâu (thành phố Nam Định), quê mẹ ở xã Hiến Nam,
huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Cha ông từng làm chức tham biện (viên chức
cao cấp trong công sở dưới thời thực dân Pháp), sau đó được thăng chức tri
huyện. Nguyễn Khải là con vợ lẽ của một ông quan, ngoài thì tưởng là danh giá
nhưng kì thực chỉ là thứ của nợ phiền toái của cha mình. Bị bà cả khinh ghét,
ông còn bị chính người cha của mình và các anh chị trong nhà coi thường, khinh
miệt, có lúc bị sỉ nhục là “thằng mán tiền”, “thằng ăn cắp”,… [28, tr.381-382].
Tuổi thơ của ông chủ yếu chìm trong nỗi buồn tủi, nhục nhã, khi thì ở với mẹ
đẻ, khi ở với mẹ già (bà cả), khi ăn nhờ ở đậu nhà anh cả cùng cha khác mẹ.
Đến năm 12 tuổi, ông bị ông anh rể và các chị cùng cha khác mẹ “đuổi khéo” từ
chóng đi theo cách mạng và tham gia quân tự vệ chiến đấu ở Hưng Yên vào năm
1947. Vào quân đội, bên cạnh làm công tác tuyên huấn, ông từng bước làm quen
với việc viết báo, viết văn và được nhiều thế hệ nhà văn đàn anh đi trước chỉ
17
bảo, hướng dẫn. Cùng tinh thần làm việc hăng say, trách nhiệm, ông dần khẳng
định được tên tuổi của mình. Kể từ đây, cuộc đời của ông thực sự được giải
phóng, ông tìm thấy ý nghĩa tồn tại của mình, nhận ra giá trị của mình và những
người lao động bần cùng như ông. Tâm trí ông được khai sáng để hoàn toàn
phục vụ cách mạng và sự nghiệp sáng tác. Đây chính là con đường để ông đền
đáp ơn nghĩa cách mạng và rửa sạch nỗi nhục bị chính những người ruột thịt hắt
hủi, khinh miệt.
1.2.1.2. Đặc điểm con người
Ngay từ nhỏ Nguyễn Khải đã thể hiện tố chất thông minh, hoạt bát với
khả năng quan sát, nhận xét khá sắc sảo, pha chút hài hước. Ông kể lại khi còn
nhỏ có viết một bài quốc văn tả lại cảnh một me Tây cúng tuần bốn mươi chín
cho ông chồng chết bất đắc kỳ tử. Kết bài, ông có thắc mắc “hồn ma Tây, thầy
cúng Việt, ngôn ngữ bất đồng, làm sao hiểu được nhau mà về hưởng” [28,
tr.278]. Nhờ có bài văn ấy mà Nguyễn Khải được thầy Minh – một ông thầy ở
trường sơ học Việt Pháp rất yêu mến.
Ông còn là một người giàu nghị lực sống mãnh liệt, ý thức sâu sắc về
danh dự và lòng tự trọng. Điều này khiến ông nhận thức được mọi nỗi khổ nhục
chồng chất mà ông đã phải chịu đựng ngay từ thuở còn thơ dại. Mặt khác, lại
khiến ông kiên trì chống chọi với tất cả, chứ không cho phép bản thân buông
xuôi, đầu hàng trước nghịch cảnh.
Những tố chất ấy cùng với hoàn cảnh gia đình, thời đại đã tạo nên một
Nguyễn Khải phức tạp, có hai con người cùng tồn tại song song, vừa đối lập vừa
thống nhất. Trong ông có sự pha trộn của hai dòng máu: “Dòng máu của lớp
Nhu cầu khẳng định mình khiến ông luôn cẩn thận, tỉ mỉ trong công việc,
ham đi, ham viết, thường xuyên có mặt ở những điểm nóng, mang đậm tính thời
sự. Trang văn của ông vì thế thường thấm đẫm hơi thở của nhịp sống hiện tại.
Điều này cũng đảm bảo cho tác phẩm của Nguyễn Khải luôn có khả năng theo
kịp những chuyển biến mãnh liệt của thời cuộc.
Tóm lại, những đặc điểm về tiểu sử và con người của nhà văn Nguyễn
Khải đã góp phần hình thành nên cái nhìn nghệ thuật về con người và cuộc
sống, ảnh hưởng sâu sắc đến đời văn và phong cách nghệ thuật của ông. Đúng
như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét: “những trải nghiệm cay
19
đắng thời niên thiếu đầy éo le tủi nhục kia có vai trò quan trọng, nếu không nói
là quyết định, đối với đời văn và cái văn của Nguyễn Khải: hiểu đời hiểu người
cũng ở đấy, khôn ngoan lọc lõi cũng ở đấy, sắc cạnh, tỉnh táo cũng ở đấy, yêu
ghét khinh trọng cũng ở đấy, hèn nhát nhẫn nhục cũng ở đấy mà khẳng khái tự
trọng, thậm chí kiêu ngạo tự phụ nữa cũng ở đấy…” [53, tr.417].
1.2.2. Tư duy nghệ thuật độc đáo của nhà văn
1.2.2.1. Sự kết hợp giữa tư duy hình tượng và phân tích khoa học
Nguyễn Khải bộc bạch “Tôi quan niệm nghệ thuật đơn giản như sau: là khoa
học thể hiện lòng người, là lịch sử của lòng người (...). Sự thật chỉ có thể viết về
những tấm lòng, những tâm trạng của các giai cấp trong xã hội và mọi sự phức tạp,
tinh vi, ngoắt ngoéo có thực của nó, như thế mới là sự chân thật theo quan niệm của
tôi (...). Hãy nói về sự thật lòng người, sự chân thật, kết quả của sự nghiên cứu thận
trọng, tỉ mỉ của chúng ta” [14, tr.8-9].
Những ý kiến như thế cho thấy nhà văn có xu hướng muốn vươn tới một sự
kết hợp giữa tư duy hình tượng và phân tích khoa học trong việc phản ánh hiện thực
đời sống. Ông muốn chiếm lĩnh hiện thực đời sống cả "ở cái bề sâu, ở cái bề xa"
với khát vọng thể hiện chân thật lòng người trong những năm tháng lịch sử nhiều