Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Dịch vụ Khoa học Kỹ thuật - Pdf 45

Khoá luận tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý, hệ thống
cơ sở hạ tầng của nớc ta đã có sự phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đó chính là thành quả của ngành xây dựng
cơ bản trong đó chúng ta không thể không kể đến đóng góp của các đơn vị xây lắp
điện.
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp là chủ thể độc lập, tự hạch toán
kinh doanh, đợc chủ động lựa chọn phơng thức sản xuất phù hợp, chịu trách nhiệm
bù đắp chi phí bỏ ra, tạo lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Chính vì vậy họ quan
tâm đến công tác kế toán chi phí và giá thành là lẽ đơng nhiên. Họ phải biết bỏ ra
những chi phí nào, bỏ ra bao nhiêu và kết quả sản xuất thu đợc cái gì, là bao
nhiêu Lợi nhuận cao chính là mục tiêu cần đạt đ ợc của các doanh nghiệp. Trong
quá trình tìm kiếm và tối đa hoá lợi nhuận, bằng những biện pháp tối u nhất thì hệ
thống biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành luôn đợc coi trọng. Điều này
có ý nghĩa rất lớn đối với các đơn vị xây lắp. Bởi đặc điểm nổi bật của ngành là
sản phẩm mang tính đơn chiếc, kết cấu sản phẩm đa dạng, phức tạp, giá trị sản
phẩm lớn, thời gian thi công dài, sản xuất xây lắp tiến hành ngoài trời, phụ thuộc
nhiều vào điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu nơi xây dựng công trình. Do đó
công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn là vấn đề trọng
tâm trong toàn bộ công tác kế toán ở các doanh nghiệp và là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà quản lý doanh nghiệp. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm phải đợc tổ chức sao cho có thể cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin
cần thiết đồng thời đa ra các biện pháp và phơng hớng cụ thể để thực hiện tốt chức
năng: là công cụ phục vụ đắc lực cho quản lý.
Qua nghiên cứu lý luận cũng nh tìm hiểu thực tế tại xí nghiệp Dịch vụ khoa học
kỹ thuật, nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề, em xin mạnh dạn chọn đề tài:
Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
1
Khoá luận tốt nghiệp
phẩm tại Xí nghiệp Dịch vụ Khoa học Kỹ thuật để làm khoá luận tốt nghiệp

án thi công thích hợp, đảm bảo tiến độ thi công và yêu cầu kỹ thuật.
Chu kỳ sản xuất xây lắp kéo dài là cho nguồn vốn đầu t bị ứ đọng nên các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này dễ gặp phải rủi ro ngẫu nhiên nh hao
mòn vô hình, thất thoát do điều kiện tự nhiên
Sản phẩm xây lắp thờng đợc tiến hành theo từng hợp đồng cho từng trờng hợp
cụ thể. Vì vậy công tác sản xuất mang tính cá biệt cao và chi phí lớn. Trớc khi tiến
hành hoạt động xây lắp trên thực tế đơn vị xây lắp phải tiến hành khảo sát địa bàn
thi công và lập bảng thiết kế công trình. Theo đó lên kế hoạch chi phí khối lợng
vật t chủng loại, quy cách vật t theo chi phí dự toán đã đợc Bộ xây dựng ban hành.
Sản phẩm xây lắp có các đặc điểm sau:
3
Khoá luận tốt nghiệp
Sản phẩm xây lắp thờng cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất
phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản
lý, hoạch toán tài sản rất phức tạp. Do vậy kế toán phải tổ chức tốt quá trình hạch
toán ban đầu nhằm kiểm soát chặt chẽ tài sản của đơn vị khi sử dụng, di chuyển.
Sản phẩm xây lắp hoàn thành không nhập kho mà đợc tiêu thụ ngay theo giá
dự toán hay giá đấu thầu đã thoả thuận với chủ đầu t nên tính chất hàng hoá của
sản phẩm thể hiện không rõ. Không những thế, khi bàn giao sản phẩm xây lắp cho
chủ đầu t kế toán phải lập biên bản quyết toán và biên bản bàn giao công trình có
sự xác nhận của cả hai bên. Chủ đầu t thờng giữa lại một tỷ lệ phần trăm nhất định
trên tổng giá trị công trình nhằm ràng buộc trách nhiệm vật chất của bên xây lắp
về nghĩa vụ bảo hành công trình trong khoảng thời gian nhất đinh.
Sản phẩm xây lắp là các công trình vật kiến trúc có quy mô lớn kết cấu
phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài Do vậy việc tổ chức hạch
toán quản lý nhất thiết phải có các dự toán thiết kế, thi công.
Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nớc ta hiện nay phổ biến
theo hình thức khoán gọn các công trình, hạng mục công trình, khối lợng hoặc
công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp..). Trong giá
khoán gọn, không chỉ có tiền lơng mà còn có đủ chi phí về vật liệu, công cụ, dụng

1.1 Khái niệm
Trong xây dựng cơ bản, chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống và
lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành sản
phẩm xây lắp trong một thời kỳ nhất định.
Để phục vụ cho công tác quản lý và hạch toán kế toán, chi phí sản xuất đợc tập
hợp theo từng thời kỳ nhất định phù hợp với kỳ báo cáo thờng là tháng, quý, năm.
Cũng cần phân biệt chi phí sản xuất và chi tiêu. Chi phí sản xuất và chi tiêu là
hai khái niệm không hoàn toàn giống nhau, có trờng hợp chi phí sản xuất không
phải là chi tiêu, có trờng hợp chi tiêu không phải là chi phí sản xuất. Chi phí sản
xuất là những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra
để tiến hành hoạt động sản xuất trong một kỳ nhất định, còn chi tiêu là việc giảm
đi của tài sản, vật t tiền vốn một cách đơn thuần của doanh nghiệp trong kỳ mà
không kể chúng dùng vào việc gì. Nh vậy chi tiêu và chi phí sản xuất có sự khác
biệt nhau về số lợng và thời gian. Chi phí sản xuất có phạm vi hẹp hơn chi tiêu, chi
tiêu cũng có thể là chi phí, ví dụ khi mua nguyên vật liệu đa ngay vào sản xuất,
không phải là chi phí trong trờng hợp nguyên vật liệu về nhập kho. Mặt khác, cũng
có những khoản chi tiêu cha xảy ra hoặc đã xảy ra ở kỳ trớc đợc đa vào chi phí sản
xuất của kỳ này nh việc trích trớc tiền lơng của công nhân nghỉ phép hay việc phải
trả một lần tiền thuê nhà xởng của kỳ tr ớc phân bổ một lần vào kỳ này và các kỳ
tiếp theo.
Việc phân biệt chi phí sản xuất và chi tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm
hiểu bản chất và nội dung, phạm vi và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất.
6
Khoá luận tốt nghiệp
Việc hiểu rõ chi phí sản xuất trong doanh nghiệp giúp kế toán tính đúng tính đủ
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, từ đó chỉ tiêu giá thành mới thể hiện vai
trò của nó trong công tác quản lý, kiểm tra và giám sát quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Để có cách nhìn nhận sâu sắc hơn về khái niệm chi phí sản xuất trong doanh
nghiệp xây lắp cần tìm hiểu cách phân loại, đối tợng tập hợp cũng nh phơng pháp

tiếp thi công, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý thi công, chi phí hội họp,
tiếp khách, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác
1.2.2. Phân loại chi phí theo yếu tố.
Để phục vụ cho tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng
nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí đợc
phân loại theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích
định mức vốn lu động cũng nh việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí.
Theo quy định hiện nay trong doanh nghiệp xây lắp có các yếu tố chi phí sau:
Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế nh: xi măng, sắt, thép, sỏi, cát sử dụng vào quá
trình thi công
Yếu tố nguyên liệu, động lực: đợc sử dụng trong quá trình thi công công trình
nh dầu mỡ , xăng, khí nén
Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: phản ánh tổng số tiền lơng và
phụ cấp tiền lơng cho công nhân trực tiếp thi công, gián tiếp thi công và nhân viên
quản lý.
8
Khoá luận tốt nghiệp
Yếu tố BHXH, BHYT,KPCĐ ttrích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng
và phụ cấp phải trả.
Yếu tố khấu hao TSCĐ: Tổng số khấu hao TSCĐ trong kỳ của tất cả các
TSCĐ sử dụng trong kỳ.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: là các chi phí về thuê, mua dịch vụ phục
vụ cho quá trình thi công các công trình nh: điện, điện thoại, phôtô, fax, dịch vụ
chuyển fax nhanh (EMS)...
Yếu tố chi phí bằng tiền khác: bao gồm các khoản chi phí khác cha phản ánh
vào các yếu tố trên nh: chi phí hội họp, tiếp khách
1.2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối l ợng công việc, sản phẩm,
sản xuất hoàn thành.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm các loại:

Trớc khi tiến hành một hoạt động cần xác định rõ mục đích, đối tợng (cũng
nh) phơng pháp để tiến hành hoạt động đó. Cũng nh vậy, việc tập hợp chi phí sản
xuất cũng cần xác định đối tợng và phơng pháp tập hợp.
Xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định phạm vi hay giới
hạn của chi phí nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, phân tích chi phí và tính giá
thành sản phẩm. Tức là cần xác định nơi phát sinh chi phí và đối tợng chịu chi phí.
Căn cứ xác định đối tợng tập hợp chi phí là các đơn đặt hàng. Muốn xác định
chính xác hợp lý đối tợng tập hợp chi phí sản xuất trong ngành xây dựng cơ bản
thì trớc hết phải xem xét những đặc thù của ngành.
Ngành xây dựng cơ bản có đặc điểm riêng về sản xuất với loại hình sản xuất đơn
chiếc, quy mô sản xuất phức tạp. Mỗi hạng mục công trình có thiết kế, dự toán,
cấu tạo khác nhau. Do đó, đối tợng tập hợp chi phí là các công trình, hạng mục
công trình, các đơn đặt hàng, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục,
Trên thực tế các đơn vị xây lắp chủ yếu tập hợp chi phí theo từng công trình hay
đơn đặt hàng.
Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí phù hợp với thực tế sản xuất kinh
doanh của đơn vị có ý nghĩa rất lớn, giúp kế toán chi phí tổ chức nhanh chóng, hợp
lý các khâu hạch toán ban đầu, phản ánh vào tài khoản và vào sổ sách có liên
quan.
1.3.2 Ph ơng pháp tập hợp chi phí.
Có hai phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất.
1.3.2.1 Phơng pháp ghi trực tiếp.
Điều kiện áp dung:
11
Khoá luận tốt nghiệp
Chỉ áp dụng cho những loại chi phí sản xuất mà khi phát sinh nó chỉ liên quan
đến một đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và một đối tợng tính giá thành.
Nội dung phơng pháp
Kế toán phải tổ chức việc ghi chép ban đầu theo đúng đối tợng tập hợp chi phí
sau đó từ số liệu ban đầu đợc ghi trực tiếp vào các tài khoản hoặc sổ, thẻ kế toán

i
: Chi phí phân bổ cho đối tợng i
t
i
: Tiêu thức phân bổ của đối tợng i
2. Giá thành sản phẩm
2.1 Khái niệm
Trong quá trình sản xuất ở các doanh nghiệp nói chung, một mặt doanh nghiệp
phải bỏ ra những yếu tố chi phí để tiến hành sản xuất, mặt khác doanh nghiệp thu
đợc những sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Những sản phẩm lao vụ đó cần
thiết phải đợc tính giá tức là phải xác định đợc lợng chi phí bỏ ra để sản xuất
chúng.
Nh vậy, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá sinh ra để tiến hành sản xuất một khối lợng sản
phẩm lao vụ hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lợng giá
trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải đợc bồi hoàn
để đợc tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh
trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
13
Khoá luận tốt nghiệp
2.2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá cũng nh yêu
cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ khác nhau.
Do đó ta có căn cứ phân loại giá thành nh sau:
2.2.1 Căn cứ vào cơ sở số liệu tính giá thành.
Theo tiêu thức này chỉ tiêu giá thành đợc chia thành giá thành dự toán, giá
thành kế hoạch và giá thành thực tế.

Giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp chỉ bao gồm những chi phí phát sinh
liên quan đến việc xây dựng hay lắp đặt sản phẩm xây lắp (chi phí nguyên, vật liệu
trực tiếp; chi phí nhân công trực tiếp; chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản
xuất chung). Giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp đợc ghi sổ cho sản phẩm
hoàn thành bàn giao cho khách hàng. Giá thành sản xuất cũng là căn cứ để tính
toán giá vốn hàng bán và lãi gộp của các doanh nghiệp sản xuất nói chung và các
doanh nghiệp xây lắp nói riêng.
Giá thành toàn bộ.
Giá thành toàn bộ sản phẩm xây lắp bao gồm giá thành sản xuất cộng thêm chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho sản phẩm đó. Nó chỉ đợc tính
toán, xác định khi sản phẩm đã đợc bàn giao và ghi nhận doanh thu. Giá thành
toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lãi trớc thuế thu nhập doanh
nghiệp.
2.3 Đối tợng và phơng pháp tính giá thành sản
phẩm xây lắp.
2.3.1 Đối t ợng tính giá thành .
Trong kinh doanh xây dựng do tính đơn chiếc của sản phẩm, mỗi sản phẩm đều
đợc lập dự toán riêng nên đối tợng tính giá thành là các công trình, hạng mục công
trình, hay khối lợng công việc có thiết kế riêng đã hoàn thành.
15
Khoá luận tốt nghiệp
Xác định đối tợng tính giá thành là cơ sở để kế toán lập thẻ tính giá thành sản
phẩm. Tổ chức tính giá thành theo đối tợng phục vụ cho việc kiểm tra tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh xây lắp.
Cùng với việc xác định chính xác đối tợng tính giá thành kế toán phải xác định kỳ
tính giá thành.
2.3.2 Kỳ tính giá thành.
Công tác tính giá thành đợc thực hiện theo kỳ và kỳ tính giá thành là mốc thời
gian mà bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tổng hợp số liệu để tính
giá thành thực tế cho các đối tợng tính giá thành. Kỳ tính giá thành trong XDCB

,

D
CK
: giá trị công trình dở dang đầu kỳ, cuối kỳ.
C: Tổng chi phí tập hợp theo đối tợng.
Nếu sản phẩm dở dang không đáng kể thì tập hợp chi phí trong kỳ cho mỗi đối
tợng tính giá thành chính là tổng giá thành của sản phẩm hoàn thành trong kỳ giá
thành bằng tổng chi phí.
2.3.3.2 Phơng pháp tổng cộng chi phí.
Phơng pháp này phù hợp với việc xây lắp công trình lớn, phức tạp. Trong trờng
hợp này đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là chi phí đội xây lắp còn đối tợng tính
giá thành là giá thành sản phẩm hoàn thành cuối cùng.
Giá thành = D
đk
+ C1 + C2 + +Cn -D
ck
Trong đó:
C1, C2, Cn là chi phí sản xuất ở từng đội xây lắp; hoặc từng hạng mục
công trình.
2.3.3.3 Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Theo phơng pháp này doanh nghiệp ký với chủ đầu t hợp đồng thi công gồm
nhiều công việc khác nhau mà không cần hạch toán riêng cho từng công việc khác
nhau khi đó đối tợng tập hợp chi phí sản xuất cũng là đối tợng tính giá thành đều
là đơn đặt hàng. Toàn bộ chi phí thực tế tập hợp riêng cho từng đơn đặt hàng từ khi
khởi công cho đến khi hoàn thành chính là giá thành của đơn đặt hàng đó.
Khi bắt đầu thi công công trình, kế toán mở bảng tính giá thành cho từng công
trình. Cuối mỗi tháng (quý) căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp vào từng đội
sản xuất theo từng đơn đặt hàng trong sổ kế toán chi tiết để ghi sang bảng tính giá
thành có liên quan. Khi nhận đợc chứng từ xác nhận công trình hoàn thành bàn

Định mức mới tính cho
sản phảm làm dở dang
đầu kỳ
Chênh lệch
do thoát ly định
mức
=
Chi phí thực tế phát
sinh theo khoản mục
_
Chi phí định mức
theo khoản mục
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất thi công chi phí sản xuất xây lắp thể hiện hao phí
trong kỳ của doanh nghiệp, chi phí này phải đợc xem xét trong mối quan hệ với
mặt thứ hai của quá trình sản xuất đó là kết quả sản xuất. Quan hệ so sánh này đã
hình thành chỉ tiêu giá thành sản phẩm xây lắp. Tuy nhiên chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm cũng có sự khác nhau. Chi phí sản xuất không những chỉ liên quan
đến khối lợng sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến sản phẩm dở dang
cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Chi phí sản xuất gắn với từng thời kỳ phát sinh. Giá
thành sản phẩm gắn với khối lợng sản phẩm xây lắp hoàn thành.
Mặc dù vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất là căn cứ, cơ sở để tính giá
thành sản phẩm lao vụ, công việc đã hoàn thành. Chi phí sản xuất trớc hết thể hiện
theo các yếu tố chi phí, sau đó đến giai đoạn tính giá thành, chi phí sản xuất đợc
thể hiện theo các khoản mục tính giá thành. Mức tiết kiệm hay lãng phí của doanh
18
Khoá luận tốt nghiệp
nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Do đó
quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.

xuất, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, đề xuất các biện pháp nhằm tiết kiệm
chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
5. Vai trò, ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp.
Không thể phủ nhận vai trò to lớn và tính thiết yếu của công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất nói chung
và doanh nghiệp xây lắp nói riêng. Công tác kế toán chi phí sản xuất giúp doanh
nghiệp xây lắp tập hợp đợc toàn bộ các chi phí phát sinh trong qúa trính sản xuất.
Từ đó nhà quản lý có thể nắm bắt đợc số lợng chi tiêu, tình hình sử dụng vốn của
doanh nghiệp để đa ra các biện pháp quản lý đúng đắn kịp thời. Từ việc tập hợp
chi phí sản xuất, đơn vị có thể tính giá thành sản phẩm chính xác, đầy đủ. Đồng
thời doanh nghiệp có thể đa ra các giải pháp để hạ giá thành sản phẩm và mang lại
lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Bởi trong nền kinh tế thị trờng, vũ khí tối u nhất
của các doanh nghiệp trong môi trờng cạnh tranh chính là giá bán sản phẩm.
III. Nội dung hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây
lắp.
1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
1.1. Chứng từ kế toán.
Kế toán chi phí nguyên vật liệu sử dụng các chứng từ sau:
Hoá đơn GTGT (theo mẫu 01, 02 GTGT do Bộ tài chính phát hành)
Hoá đơn bán hàng (theo mẫu 01a-BH, 01b-BH, hoặc các hoá đơn của công
ty in theo quy định của Bộ tài chính)
20
Khoá luận tốt nghiệp
Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT/BTC)
1.2. Tài khoản kế toán sử dụng.
Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản 621-
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí
nguyên vật liệu phát sinh liên quan trực tiếp đến việc xây dựng hay lắp đặt các

thực hiện xây lắp
1.4 Sổ kế toán sử dụng.
- Sổ tổng hợp Tài khoản 621.
- Sổ chi tiết tài khoản 621.
2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
2.1 Chứng từ kế toán.
Kế toán sử dụng các chứng từ sau:
- Bảng chấm công (mẫu 01-LĐTL của Bộ tài chính)
22
Khoá luận tốt nghiệp
- Bảng thanh toán tiền lơng (mẫu 02-LĐTL của Bộ tài chính)
- Hợp đồng thuê nhân công, hợp đồng làm khoán.
2.2. Tài khoản sử dụng.
Để theo dõi khoản mục chi phí nhân công trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản
622. Tài khoản này dùng để tổng hợp và kết chuyển số chi phí tiền công của công
nhân sản xuất xây lắp (bao gồm tiền lơng, tiền thởng, các khoản phải trả khác có
tính chất tiền lơng của công nhân sản xuất xây lắp). Cuối kỳ kết chuyển sang tài
khoản 154.
Tài khoản 622 không phản ánh chi phí trích 19% (BHYT, BHXH, KPCĐ)
Kết cấu tài khoản 622 nh sau:
Bên nợ:
- Chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ.
Bên có:
- Kết chuyển , phân bổ vào tài khoản 154
Tài khoản 622 không có số d cuối kỳ.
2.3 Phơng pháp kế toán.
Phản ánh số tiền lơng, tiền công trả cho lao động thuộc danh sách do doanh
nghiệp quản lý và lao động thời vụ thuê ngoài theo từng loaị công việc cụ thể, chi
tiết theo từng đối tợng sản xuất.
23

tiền ca cũng không hạch toán vào tài khoản này mà phản ánh vào tài khoản 627
chi phí sản xuất chung . Có thể nói chi phí sử dụng máy thi công là một loại chi
phí đặc trng của ngành kinh doanh xây lắp. Kết cấu tài khoản sử dụng nh sau:
Bên nợ: Tập hợp chi phí máy thi công phát sinh.
Bên có: Kết chuyển (phân bổ) chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình,
hạng mục công trình.
Tài khoản 623 không có số d cuối kỳ và đợc chi tiết thành 6 tiểu khoản.
+TK 6231: Chi phí công nhân
+TK 6232: Chi phí vật liệu
+TK 6233: Chi phí dụng cụ sản xuất
+TK 6234: Chi phí khấu hao máy thi công
+TK 6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài
+TK 6238: Chi phí bằng tiền khác
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status