Theo dõi tình hình mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sinh sản tại trại nguyễn thanh lịch huyện ba vì thành phố hà nội, và sử dụng phác đồ điều trị - Pdf 45

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

BÙI THANH MINH
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG MMA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI
SINH SẢN TẠI TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH HUYỆN BA VÌ
TP HÀ NỘI, VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành/Ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

BÙI THANH MINH
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG MMA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI
SINH SẢN TẠI TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH HUYỆN BA VÌ
TP HÀ NỘI, VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2017

Sinh viên

Bùi Thanh Minh


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1. Cơ cấu đàn qua các năm ................................................................... 5
Bảng 2.2. Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm tử cung .................................... 18
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí phác đồ điều trị bệnh .................................................. 36
Bảng 4.1. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng........................ 39
Bảng 4.2. Lịch vệ sinh phòng bệnh của trại lợn nái........................................ 40
Bảng 4.3. Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái ....................................... 41
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện tiêm phòng tại trại ............................................. 42
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện công tác điều trị ................................................. 45
Bảng 4.6. Kết quả thực hiện các công việc khác ............................................ 48
Bảng 4.7. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sau khi sinh tại trại
qua các tháng. ................................................................................ 49
Bảng 4.8. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA của đàn lợn nái sinh sản của trại

GSH:

Gonado Stimulin Hormone

LH:

Lutein Stimulin Hormone

PGF2:

Prostagladin

Nxb:

Nhà xuất bản

STH:

Somato Tropin Hormone

STT:

Số thứ tự

TT:

Thể trọng

VTM:



(Agalactia) - MMA ...................................................................................................16
2.2.3. Mất sữa (Agalactiae) .......................................................................................25
2.2.4. Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài ..................26
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................................28
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ....................................................................28
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ..................................................................31
PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...34
3.1. Đối tượng ...........................................................................................................34
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .........................................................................34
3.2.1. Địa điểm ..........................................................................................................34


v
3.2.2. Thời gian .........................................................................................................34
3.3. Nội dung thực hiện .............................................................................................34
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện ...............................................................34
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................................34
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................34
3.4.2.1 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin .....................................................34
3.4.2.2 Phương pháp điều trị lợn nái bị bệnh ............................................................35
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................37
4.1. Kết quả thực hiện nội dung của tiến bộ khoa học và quy trình kỹ thuật tại trang
trại Nguyễn Thanh Lịch ............................................................................................37
4.1.1. Kết quả thực hiện chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn tại trại............................37
4.1.2. Kết quả vệ sinh, thú y......................................................................................40
4.1.3. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh .................................................................42
4.2. Kết quả thực hiện chuyên đề nghiên cứu ...........................................................48
4.2.1. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA của đàn lợn nái theo các tháng trong năm..........48
4.2.2. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA của đàn lợn nái sinh sản theo lứa đẻ. ................50

công tác phòng trị bệnh có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất sinh sản của lợn
nái, hạn chế một số bệnh thường gặp ở đàn nái, góp phần không nhỏ trong việc tăng
số lượng, chất lượng thịt lợn, đem lại kinh tế cao cho người chăn nuôi.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất đồng thời để thấy rõ hơn về các
nhân tố ảnh hưởng tới tình hình nhiễm bệnh, triệu chứng, bệnh tích của lợn nái, góp
phần khống chế bệnh và làm giảm bớt thiệt hại về kinh tế trong ngành chăn nuôi
lợn hiện nay tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Theo dõi tình hình mắc hội chứng
MMA trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì TP Hà
Nội, và sử dụng phác đồ điều trị ".


2
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích của đề tài
- Đánh giá được thực trạng hội chứng viêm tử cung, viêm vú và mất sữa
(MMA) ở đàn lợn nái tại trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì TP Hà Nội, và sử
dụng phác đồ điều trị
- Đánh giá được ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng xuất sinh sản của
lợn nái
- Xây dựng được phác đồ điều trị và quy trình kỹ thuật phòng ngừa hội
chứng MMA ở lợn nái sinh sản.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
Theo dõi được tình hình mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sinh sản và
đưa ra biện pháp phòng trị bệnh.


3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập

Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào riêng.
Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công
nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa
cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn. Chuồng nuôi được xây
dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản bao gồm:
+ 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có 2
dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho
lợn mẹ.
+ 1 chuồng nái chửa: chuồng gồm 14 dãy mỗi dãy có 83 ô để nuôi và chăm
sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác
nhau. Dãy 1 được thiết kế để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2
có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái.
+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh.
+ 3 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công
lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, trong thời gian 3 tháng sau
khi đã làm vaccine đầy đủ và trước khi được đưa lên giống mỗi chuồng có thể nuôi
được từ 30 - 40 lợn hậu bị.
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống
giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và
bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa Hè ấm
áp vào mùa Đông bằng cách điều chỉnh quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong
chuồng. Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng
trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải.
Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng làm tinh lợn, với đầy đủ các dụng
cụ như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi
hấp, panh, kéo…
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều
được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng. Nhìn chung khu vực chuồng nuôi



Nái sinh sản

Con

1136

1343

1167

75,29

Nái hậu bị

Con

300

340

360

23,23

Đực khai thác

Con

22


không đủ tiêu chuẩn và phải loại thải.
Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa
học kỹ thuật. Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47
lứa/năm. Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn; số con cai sữa là 10,7 con/đàn; lợn con
theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và


6
chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của Công ty. Theo đánh giá của Công ty
Chăn nuôi CP Việt Nam thì trại hoạt động vào mức khá.
Trong trại có 24 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn
đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai
thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn Pietrain và
Duroc. Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được
Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại.
* Công tác vệ sinh thú y của trại
Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng. Nó có tác dụng tăng sức đề
kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những bệnh có tính
chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống.
- Công tác vệ sinh: chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè, mùa
Đông được che chắn cẩn thận, xung quanh các dãy chuồng nuôi đều trồng cây xanh
tạo độ thông thoáng và mát tự nhiên. Trước cửa vào các khu có rắc vôi bột từ đó
hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài đối với lợn nuôi trong
chuồng. Hàng ngày, luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân,
nước tiểu, khơi thông cống rãnh, phun thuốc sát trùng và rắc vôi theo quy định.
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng,
tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động.
- Công tác phòng bệnh: trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các
chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các

chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn tại cần phải được đẩy mạnh.
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1. Đặc điểm về sinh lý, sinh dục và sinh sản của lợn nái
2.2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái
Cơ quan sinh dục lợn cái cấu tạo gồm các bộ phận sau: Buồng trứng, ống dẫn
trứng, tử cung, âm đạo (bộ phận sinh dục bên trong) âm môn, âm vật, tiền đình (bộ
phận sinh dục bên ngoài)


8
* Bộ phận sinh dục bên trong
- Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một cặp treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm
trong xoang chậu. Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu
dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng. Kích thước dài 1,5 - 2,5 cm; khối
lượng khoảng 3 - 5 gram (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002) [18].
Buồng trứng có hai chức năng: nội tiết (tiết ra hormone sinh sinh dục cái
Estrogen) và ngoại tiết (bài noãn). Các hormone sinh dục cái: Estrogen,
Progesteron , Oxytocine, Relaxin và Inhibin tham gia vào việc điều khiển chu kỳ
sinh sản của lợn cái. Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống
dẫn của tuyến vú. Progesteron do thể vàng tiết ra kích thích sự phân tiết của tử cung
để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của
tuyến vú.
Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng được tiết
bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong
lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa. Relaxin do thể vàng
tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường
sinh dục khi lợn sắp sinh. Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn
(FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì (Trần Thị
Dân, 2004) [3].

Tử cung lợn thuộc loại sừng tử cung kép, gồm hai sừng thông với một thân
và cổ tử cung. Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng.
Thân tử cung dài 3 - 5cm. Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các
cột thịt xếp theo chiều cài răng lược, thông với âm đạo. Vách tử cung gồm ba lớp
được cấu tạo từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn và lớp nội mạc.
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], trương lực cơ càng cao (tử cung trở nên cứng)
khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực cơ giảm (tử cung mềm) khi có nhiều
Progesterone trong máu. Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của
tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ. Khi


10
mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng Progesterone, nhờ vậy
phôi thai có thể bám chắc vào tử cung.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết ra các chất vào lòng tử cung để giúp
phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến
ống dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp
màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại. Tuy nhiên, các tuyến
chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone. Sự phân
tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳ động dục.
- Âm đạo (Vigina)
Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [18], âm đạo là ống đi
từ cổ tử cung đến âm hộ. Đầu trước âm đạo dính vào cổ tử cung, đầu sau thông ra
tiền đình, có màng trinh đậy ở lỗ âm đạo.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, âm đạo
của lợn dài 10 - 12 cm (Trần Tiến Dũng và cs. 2002) [8].
Ngoài ra, âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống
thải các chất dịch từ trong tử cung.
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis)

đều có tuyến vú. Vị trí, số lượng của tuyến vú ở mỗi loài động vật khác nhau là
khác nhau: có loài tuyến vú ở ngực, có loài lại ở vùng bẹn, có loài có nhiều hoặc có
loài lại chỉ có 1 - 2 đôi vú. Tuyến vú phát triển mạnh ở con cái khi đến tuổi thành
thục về tính và phát triển to nhất ở thời kì chửa đẻ.
Gia súc còn non thì tuyến vú của con đực và con cái đều giống nhau. Theo
Trần Thị Dân (2004) [3] khi có chửa: Hệ thống ống dẫn tiếp tục phát triển nhanh,
gia tăng số lượng ống dẫn, bao tuyến bắt đầu hình thành và phát triển mô tuyến thay
dần mô liên kết, mô mỡ chiếm ưu thế. Hoạt động tiết sữa xuất hiện vào cuối thời kỳ
có chửa, sữa được hình thành gọi là sữa non. Sự phát dục của tuyến vú hoàn tất khi
kết thúc giai đoạn chửa, ngay sau khi đẻ gia súc bắt đầu tiết sữa để nuôi con non.
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc
trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi. Nó được duy trì qua các thế
hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng


12
của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, sử dụng… Để
đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người ta thường tập trung nghiên
cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:
* Tuổi động dục lần đầu
Tính từ lúc sơ sinh cho đến lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục. Các giống
lợn khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau.
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4] thì: tuổi động dục đầu tiên ở
lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn
nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg. Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7
tháng) khi đạt 65 - 80 kg.
Trần Văn Phùng và cs. (2004) [22] cho biết: tuỳ theo giống, điều kiện chăm
sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau. Lợn Ỉ, Móng Cái
có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn

thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại).
Lê Hồng Mận (2006)[16] cho biết: thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày,
lợn mẹ sẽ động dục trở lại.
* Chu kỳ sinh dục và thời điểm phối giống thích hợp
- Chu kỳ tính
Sau khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra
liên tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín
và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng. Khi vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi
lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng
rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [9].
Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục: đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này
buồng trứng to hơn bình thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường
sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động
sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng
phấn chưa cao. Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp
mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này
con vật bắt đầu xuất hiện tính dục.


14
+ Giai đoạn động dục: lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu
hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý. Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung
huyết. Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn
cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy lên lưng
con khác, thích gần con đực. Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp
tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại. Gia súc cái trong giai đoạn có thai
đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện.
+ Giai đoạn sau động dục: giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục
dần dần trở lại bình thường. Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn,

tác động của thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ để đẩy
bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá
trình sinh đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút niêm
dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài. Trước khi đẻ 1 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão
ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết.
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời gian
gia súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong.
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái
2.2.2.1. Thiếu sót về dinh dưỡng
Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh
hưởng đến viêm tử cung.
Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, gây viêm tử cung. Ngược lại
thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại vi trùng
xâm nhập cũng gây viêm tử cung.
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu vitamin A sẽ gây
sừng hóa niêm mạc, sót nhau.


16
2.2.2.2. Chăm sóc quản lý
- Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, tắm rửa giữ sạch sẽ thân thể lợn nái,
thụt rửa tử cung khi sinh, sử dụng nước sạch làm giảm tỷ lệ viêm tử cung.
- Viêm tử cung: vi khuẩn từ môi trường xâm nhập vào cơ quan sinh dục của
lợn nái trong quá trình sinh đẻ (nhất là khi thời gian đẻ của lợn nái kéo dài trên 4
giờ) hoặc do người dùng can thiệp trong quá trình đỡ đẻ gây trầy xước bên trong

cao (Hoy, 2004) [33]; (Shrestha, 2012) [42].
2.2.3.1. Bệnh viêm tử cung (Metritis)
* Đặc điểm
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Lợn nái
đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ
thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu động thực vật ở mỗi vùng
là khác nhau, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y.
* Nguyên nhân
Bệnh thường xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở những lợn nái sau khi phối
giống, xảy ra cả với những lợn nái hậu bị. Do những nguyên nhân chính sau:
+ Trong quá trình chửa, lợn nái ăn khẩu phần nhiều chất dinh dưỡng, ít vận
động hoặc nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Leptospirosis (lợn nghệ),
Brucellosis (sảy thai truyền nhiễm), Parvovirus và một số bệnh nhiễm khuẩn
khác… làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến việc đẻ khó, hay sảy thai, thai chết lưu
gây viêm tử cung. Trong quá trình đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự can thiệp đỡ đẻ
không đúng kỹ thuật, nhau thai bị sót lại là nguyên nhân dẫn đến lợn nái bị viêm dạ
con (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [15].
+ Trương Lăng (2000) [13] cho biết: Streptococcus và Colibacillus nhiễm
qua cuống rốn, đẻ khó, sảy thai, sót nhau hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cũng
gây xây sát, tạo các ổ viêm nhiễm trong âm đạo và tử cung. Trong tinh dịch bị
nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây viêm
nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái, do lợn đực nhảy trực tiếp mà niệu quản và
dương vật bị viêm cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm tử cung của lợn nái.
+ Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [6] còn cho biết: nguyên nhân gây viêm
tử cung chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết
(Staphylococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebsiella, E.coli dung
huyết, trùng roi (Trichomonas) và do nấm Candida albicans.
+ Theo Lê Hồng Mận (2006) [16] thì khi lợn đẻ, cổ tử cung, mép âm hộ bị
rách, bị nhiễm trùng kế phát gây viêm. Chuồng đẻ nền bẩn, dây rốn lợn con và nhau
thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung.


phân biệt

tử cung

tử cung

tử cung

Sốt nhẹ

Sốt cao

Sốt rất cao

Sốt
Dịch

Màu

Trắng xám, trắng sữa

Hồng, nâu đỏ

Nâu rỉ sắt

viêm

Mùi



Bỏ ăn hoàn toàn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status