ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ ĐẮC CẦM
Tên đề tài:
“THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN ĐÀN LỢN CON
SAU CAI SỮA (4-10 TUẦN TUỔI) TẠI TRẠI CHĂN NUÔI TRẦN ĐĂNG
PHẨM, XÃ PHÚC THUẬN, HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Hệ chính quy
Chuyên ngành
: Chăn nuôi Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khoá học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ ĐẮC CẦM
Tên đề tài:
“THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN ĐÀN LỢN CON
SAU CAI SỮA (4-10 TUẦN TUỔI) TẠI TRẠI CHĂN NUÔI TRẦN ĐĂNG
PHẨM, XÃ PHÚC THUẬN, HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Lớp
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học
: Hệ chính quy
: 43 – Chăn nuôi Thú y
: Chăn nuôi Thú y
: Chăn nuôi Thú y
: 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lê Minh Toàn
Giảng viên Khoa CNTY – ĐHNL Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2015
ii
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học ................................................................................ 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ................................................................................ 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
2.1. Cơ sở khoa học ....................................................................................... 4
2.1.1. Khái niệm chung về bệnh tiêu chảy.......................................................... 4
2.1.2. Nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy.......................................................... 5
2.1.3. Cơ chế sinh bệnh ......................................................................................... 15
2.1.4. Triệu chứng ................................................................................................... 17
2.1.5. Bệnh tích ........................................................................................................ 17
2.1.6. Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh tiêu chảy ......................................... 17
2.1.7. Biện pháp phòng và trị tiêu chảy cho lợn .............................................. 19
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .......................................... 24
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ............................................................ 24
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................... 25
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 27
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 27
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................ 27
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 27
v
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm................................................................. 27
3.4.2. Phương pháp theo dõi................................................................................. 27
3.4.3. Phương pháp tính toán ............................................................................... 28
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu......................................................................... 29
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 30
4.1. Công tác phục vụ sản xuất .................................................................... 30
nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 Châu Á và ở vị
trí hàng đầu khu vực Đông Nam Châu Á.
Để có được kết quả trên ngoài việc tăng nhanh số đầu lợn, ngành chăn
nuôi lợn nước ta đã và đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào thực tế sản xuất, từ khâu cải tạo con giống, nâng cao chất lượng thức
ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng. Tuy vậy bên
cạnh những tiến bộ đạt được, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói
riêng còn gặp không ít khó khăn đặc biệt là vấn đề dịch bệnh. Dịch bệnh
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn
tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm
học vừa qua.
Tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Th.S Lê Minh Toàn đã tận tình giúp đỡ
và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo trong khoa Chăn nuôi thú y
đã giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn công ty RTD cùng toàn thể anh em kỹ thuật,
công nhân trong trại lợn ông Trần Đăng Phẩm đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã tạo
điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như
trong thời gian thực tập tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa
vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi
sai sót.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Đỗ Đắc Cầm
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Khái niệm chung về bệnh tiêu chảy
Tiêu chảy là tình trạng bệnh lý đường tiêu hoá, con vật có hiện tượng ỉa
nhanh, nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do rối loạn chức năng
tiêu hoá (ruột tăng cường co bóp và tiết dịch), hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự
thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với
những thay đổi trong khẩu phần ăn.
Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, loài gia súc hoặc nguyên
nhân chính gây bệnh mà bệnh tiêu chảy được gọi bằng nhiều tên khác nhau:
bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ gọi là bệnh lợn con phân trắng hay bê
nghé phân trắng... còn ở gia súc sau cai sữa gọi là chứng khó tiêu hay hội
chứng rối loạn tiêu hoá... Nếu xét về nguyên nhân chính gây bệnh có các tên
gọi như: bệnh phó thương hàn, bệnh viêm dạ dày ruột...
Tiêu chảy do rất nhiều nguyên nhân gây ra và được đánh giá là bệnh phổ
biến trong các bệnh của đường tiêu hoá, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi với các
triệu chứng chung là ỉa chảy, mất nước, mất chất điện giải, suy kiệt dẫn đến
có thể chết. Tuy nhiên, thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể
nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 – 6 lần trở lên) và nước
trong phân từ 75 -76% trở lên gọi là bệnh tiêu chảy.
Ở nước ta trong những năm gần đây, bệnh tiêu chảy của lợn vẫn đang là
động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ. Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ
diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng.
Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu hóa của
con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong hệ vi
sinh vật đường ruột.
6
Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ
dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy. Nhiều tác giả nghiên cứu
về bệnh tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp những điều kiện thuận lợi,
những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với
số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh.
Trịnh Văn Thịnh (1964)[37], Vũ Văn Ngữ (1979)[26], Trương Quang
(2005)[31] cho rằng do một tác nhân nào đó, trạng thái cần bằng của khu hệ
vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản lên
quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng loạn khuẩn. Loạn khuẩn đường ruột là nguyên
nhân chủ yếu gây bệnh ở đường tiêu hoá, đặc biệt là gây ỉa chảy.
Bình thường vi khuẩn E.coli cư trú ở ruột già và phần cuối ruột non,
nhưng khi gặp điều kiện thận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào
thành ruột, đi vào máu đến các nội tạng.Trong máu, nhờ cấu trúc kháng nguyên
O và khả năng dung huyết, vi khuẩn chống lại các yếu tố phòng vệ không đặc
hiệu, khả năng thực bào. ở các cơ quan nội tạng, vi khuẩn này tiếp tục phát
triển và sự cư trú của chúng làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý.
Đào Trọng Đạt và cs (1996)[6] cho biết, khi sức đề kháng của cơ thể giảm
sút E.coli thường xuyên cư trú trong đường ruột của lợn thừa cơ sinh sản rất nhanh
và gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, gây tiêu chảy.
Khi tiến hành xét nghiệm 140 mẫu phân lợn khoẻ ở các lứa tuổi khác
nhau (từ sơ sinh đến lợn nái) Hồ Văn Nam và cs (1997)[20] đã cho biết 100%
>60 ngày tuổi.
Nguyễn Thị Ngữ (2005)[25] khi nghiên cứu về E.coli và Salmonella trong
phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy cho biết: ở lợn không tiêu chảy có
83,30% - 88,29% số mẫu có E.coli; 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt Salmonella.
8
Nguyễn Bá Hiên (2001)[9] nghiên cứu biến động của vi khuẩn đường
ruột thường gặp ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy đã chỉ ra rằng: Khi lợn bị
tiêu chảy, số lượng vi khuẩn E.coli trung bình tăng 1,90 lần, số lượng vi
khuẩn Cl.perfringens tăng 100 lần so với lợn khoẻ mạnh.
* Do virus
Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng virus cũng là nguyên nhân gây
tiêu chảy ở lợn. Nhiều tác giả đã nghiên cứu và kết luận một số virus như
Porcine circovirus type 2 (PCV2), Rotavirus, TGE, PED, Enterovirus,
Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất định gây bệnh tiêu chảy ở lợn. Sự xuất
hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức đề
kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính.
Trước tiên là virus TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý
nhiều trong bệnh tiêu chảy ở lợn. TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền
nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là
nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng. Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn
nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh. Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong
niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997)[18] virus TGE có sự liên hệ đặc biệt
với các tế bào màng ruột non. Khi virus xâm nhập vào tế bào nó nhân lên và
phá hủy tế bào trong vòng 4 – 5 tiếng. Sữa và các thức ăn khác ăn vào không
tiêu hóa được ở lợn nhiễm virus TGE. Các chất dinh dưỡng không được tiêu
hóa, nước không được hấp thu, con vật tiêu chảy, mất dịch, mất chất điện giải
trùng đường ruột tác động gây ra bệnh tiêu chảy như: Sán lá ruột lợn
(Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…
Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996)[13] sán lá ruột lợn và giun đũa
lợn ký sinh trong đường tiêu hóa, chúng làm tổn thương niêm mạc đường tiêu
hóa gây viêm ruột ỉa chảy.
10
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1997)[16] giun đũa ký sinh
trong ruột non của lợn là loài Ascaris suum. Vòng đời giun đũa lợn phát triển
và gây bệnh không cần vật chủ trung gian, lợn trực tiếp nuốt phải trứng gây
nhiễm và phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở đường tiêu hóa. Số
lượng giun có thể từ vài con đến hàng nghìn con trong một cơ thể lợn.
Tác giả Nguyễn Kim Thành (1999)[35] cho biết trong đường ruột của lợn
tiêu chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với số lượng không nhỏ. Trong quá trình
ký sinh, trao đổi chất của giun sán còn thải ra các chất cặn bã gây hại cho cơ thể
lợn, làm lợn gầy còm, chậm lớn, ảnh hưởng đến năng xuất chăn nuôi.
Theo Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng (1995)[16], lợn nhiễm giun đũa với
biểu hiện lâm sàng là tiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm
ruột, tiết độc tố để đầu độc và chiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn
con gầy yếu, chậm lớn, suy dinh dưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không
đầy đủ, sản phẩm thịt giảm đến 30%.
2.1.2.2. Nguyên nhân khác
Do thời tiết khí hậu, do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, do strees, do ảnh
hưởng của điều kiện chuồng trại, do ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến
bệnh tiêu chảy ở lợn.
* Do thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ
thểgia súc. Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá
trực tiếp cho người từ thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những
độc tố còn tồn dư trong thực phẩm.
Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protid và axit amin không cân đối dối dẫn đến
quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt. Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng,
hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng γglobulin huyết
thanh cũng giảm. Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo
điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh. Nếu khẩu phần thức ăn của
lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm cho lợn con dễ mắc
bệnh. Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hòa thức ăn đạm và chất béo.
Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương, cơ thể suy nhược, sức đề
kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột tăng độc lực và gây bệnh.
Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm
bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường. Thiếu một
vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa.
Laval A (1997)[15] cho biết, thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần
thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm
giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây bệnh tiêu
chảy. Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều là
nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn.
* Do strees
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuông nuôi, vận chuyển đi xa
đều là các tác nhân strees quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức
khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [3].
13
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998)[11] hệ thống tiêu hóa (dạ dày, ruột)
của lợn mẫn cảm đặc biệt với strees. Hiện tượng strees thường gây nên biểu
hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng.
25% từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 – 15% từ không khí bên ngoài
chuồng nuôi đưa vào. Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất
xấu đến cơ thể gia súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp. Độ ẩm trong
chuồng nuôi từ 55 – 85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu
độ ẩm chuồng nuôi >90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc. Nhiều
thí nghiệm cho thấy lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài
không muốn ăn, giảm sức tiêu hóa thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh tật
trong đó có bệnh tiêu chảy.
Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại. Về mùa nóng, nếu
độ ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm cho
con vật nóng thêm. Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ
thể lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ
thể lợn sẽ mất nhiệt nhiều hơn. Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều
tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp,
ẩm độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh, sau khi đẻ 30 phút
thân nhiệt lợn con có thể giảm thấp đến 5 – 6ºC sau đó mới dần ổn định. Nếu
nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và
ngược lại, nếu nhiệt độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng sẽ kéo dài thời gian
phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu rõ rệt. Con vật bị strees nhiệt –
nguyên nhân gây ỉa chảy. Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là từ 80 – 85%.
Đào Trọng Đạt và cs (1996)[6], Phạm Khắc Hiếu và cs (1998)[11] cũng
cho rằng các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài
ngày tuổi. Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và
độ ẩm. Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 đến 85%. Vì thế việc làm khô và giữ
ấm chuồng là vô cùng quan trọng.
15
Theo Phan Địch Lân và Phạm Sỹ Lăng (1997)[16] chuồng trại ẩm, lạnh
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc và chết của bệnh tiêu chảy trên đàn lợn con trong
3 năm (2012-2014).......................................................................... 34
Hình 4.2. Biểu đồ tỉ lệ mắc bệnh theo độ tuổi ................................................ 37
17
Lợn con trong tình trạng nhiễm độc, truỵ tim mạch mà chết. Những con
chữa khỏi bệnh thường tăng trọng giảm, chậm lớn, còi cọc.
2.1.4. Triệu chứng
Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì chỉ sau 2 – 3
ngày rồi hạ xuống trở về lúc bình thường, có con thân nhiệt hạ xuống do ỉa
chảy mất nước nhiều. Lợn gầy tóp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo,
nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân. Tiêu
chảy có thể ở mức nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước hoặc tiêu chảy nặng
với triệu chứng phân toàn nước. Phân lợn có màu sắc khác nhau vàng kem
hay hơi xanh, trắng hoặc xám. Phân có thể chảy tự do từ hậu môn xuống sàn.
Trong trường hợp nặng, triệu chứng lâm sàng là mất nước, rối loạn trao đổi
chất, tiêu chảy có thể gây sốt hoặc không sốt và lợn con suy nhược rất nhanh
rồi chết. Khối lượng cơ thể giảm 30 – 40% do mất nước. Cơ bụng hóp lại, lợn
gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt. Sự mất
nước và giảm khối lượng cơ thể làm cho lợn bị suy sụp nhanh, những con lợn
con này thường bị chết. Trong trường hợp mạn tính hay bệnh ít nghiêm trọng,
da quanh hậu môn và vùng háng có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính,
lợn ít bị mất nước và điều trị tích cực thì có thể khỏi bệnh.
2.1.5. Bệnh tích
Những bệnh tích điển hình quan sát thấy như: Xác lợn gầy, vùng đuôi bê
bết phân. Niêm mạc mắt, miệng nhợt nhạt. Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc
thức ăn chưa tiêu, mùi khó ngửi. Thành dạ dày phù và xuất huyết, niêm mạc
Nguyễn Thị Kim Lan (2006)[14] về thức ăn, lợn nuôi thức ăn tổng hợp
dạng viên, không qua chế biến, mắc tiêu chảy với tỷ lệ 8,96%. Tỷ lệ này tăng
lên khi cho thức ăn truyền thống mang tính tận dụng và ăn rau sống (16,1%)
(Nguyễn Thị Kim Lan (2006) ) [14].
Điều kiện chuồng trại vệ sinh cũng có ảnh hưởng khá rõ rệt đến tỷ lệ mắc
tiêu chảy ở lợn. Lợn nuôi trong nền lát gạch có tỷ lệ tiêu chảy là 9,49%, lợn