Tìm hiểu xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn - Pdf 45

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực tiễn cho chúng ta thây, trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
thì giao thông đường bộ được coi là một lĩnh vực quan trọng, là một bộ phận
trong kết cấu hạ tầng quốc gia; cùng với đường sắt, đường thủy, đường không,
chúng tạo thành mạch máu của sự phát triển đất nước. Ở phạm vi hẹp, giao
thông đường bộ đáp ứng nhu cầu dịch chuyển, giao dịch giữa các chủ thể khác
nhau của nền kinh tế. Còn ở tầm vĩ mô, hoạt động giao thông đường bộ có liên
quan trực tiếp đến an ninh, trật tự an toàn xã hội cũng như sự phát triển kinh tế
- xã hội – văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc, đẩy mạnh giao lưu, hội nhập với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Do tầm quan trọng của giao thông
đường bộ, nên việc đầu tư phát triển lĩnh vực này đã trở thành điều kiện tiền đề
tiên quyết cho sự phát triển quốc gia. Trong xu thế mang tính quy luật đó, Việt
Nam không phải là ngoại lệ.
Những năm qua, cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
nhằm tạo tiền đề, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng tiến trình hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội, Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện pháp luật về giao thông đường
bộ, trong đó có nội dung quan trọng là xử phạt vi phạm hành chính.
Dưới góc độ luật học, xử phạt vi phạm hành chính là một chế định quan
trọng của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, để điều chỉnh hoạt động xử phạt các
vi phạm hành chính. Dưới góc độ quản lý, xử phạt vi phạm hành chính là một
hoạt động để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động xử
phạt vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói
riêng hướng tới mục phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ
vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi

1





TTATGT đường bộ; phạt tiền 1.470 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm trước số xử lý
vi phạm giảm 314.188 trường hợp (-10,8%), tiền phạt tăng 57,2 tỷ (+4,04%);
tước giấy phép lái xe 138.675 trường hợp; tạm giữ 313.473 phương tiện các
loại [39].
Trước tình hình này, đã có nhiều nguyên nhân được được chỉ ra, trong đó
có nguyên nhân thuộc về công tác phòng chống vi phạm của cơ quan công
quyền có liên quan tới sự khiếm khuyết của hệ thống thi hành pháp luật như:
triển khai thực hiện luật chưa quyết liệt, chậm phát hiện vi phạm, xử phạt thiếu
tính răn đe, xử phạt thiếu nghiêm túc. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề xử phạt
vi phạm hành chính là cần thiết, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn
có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đặc biệt là đối với những người làm công tác quản
lý nhà nước về giao thông đường bộ hay những người nghiên cứu về khoa học
luật, khoa học hành chính công.
Ở bình diện địa phương, tình trạng vi phạm hành chính giao thông đường
bộ cũng diễn ra ngày cảng nhiều, trong đó có tỉnh . là tỉnh có hệ thống giao
thông khá đa dạng. Tỉnh có Sân bay Buôn Ma Thuột tuyến từ Buôn Ma Thuột
đến các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, thành
phố Đà Nẵng…. Ngoài ra, 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, có quốc lộ 14
chạy qua nối với thành phố Đà Nẵng qua các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và nối với
Thành phố Hồ Chí Minh qua Đắk Nông, Bình Phước và Bình Dương... Song
song với biên giới Campuchia có quốc lộ 14C; Quốc lộ 27 nối thành phố Buôn
Ma Thuột với tỉnh Lâm Đồng. Quốc lộ 26 từ đi tỉnh Khánh Hòa, nối với quốc
lộ 1A tại thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hòa. Những tuyến
quốc lộ này là mạch máu trung gian quan trọng của vùng. Chính vì thế, tình
hình vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ của tỉnh là một vấn đề quan trọng. Làm tốt được hoạt động này, có nghĩa là
huyết mạch giao thông của tỉnh sẽ được thông suốt, góp phần lớn vào mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội của nói riêng và của kinh tế miền Tây Nguyên nói

hành chính, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (mã số 85 98 008), Hà Nội;
Đề tài lần đầu tiên đề cập đến một cách toàn diện về việc xây dựng một
hệ thống khoa học của việc xử phạt vi phạm hành chính. Từ đó, đề tài làm nền
tảng pháp lý nghiên cứu áp dụng cho việc xử phạt vi phạm hành chính trên
nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có cả lĩnh vực giao thông đường bộ.
-

TS. Vũ Thư (1996), Chế tài hành chính – Lý luận và thực tiễn,
4


Chuyên đề hội thảo khoa học về giao thông, Hà Nội;
Tác giả đã đề cập sâu về nội dung chế tài hành chính cả trên phương
diện lý luận và thực tiễn. Công trình nghiên cứu đã làm tài liệu tham khảo hiệu
quả cho nhiều tác giả của các trường Đại học trong cả nước khi hoàn thành
giáo trình Luật Hành chính như Học viện Hành chính quốc gia, Đại học Luật
Hà Nội…
-

Nguyễn Văn Thạch (1997), Trách nhiệm hành chính – Lý luận và

thực tiễn, Chuyên đề Hội thảo về giao thông, Hà Nội;
-

PGS.TS Bùi Xuân Đức (2006), Về vi phạm hành chính và hình

thức xử phạt vi phạm hành chính: Những hạn chế và giải pháp đổi mới, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật. Tác giả nhìn nhận thực tế sâu sắc và đưa ra những hạn
chế về cách phân loại vi phạm hành chính và những điểm còn tồn tại, bất hợp
lý của hình thức xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong Pháp lệnh xử

-

Nguyễn Văn Đô (2007), Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh

vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc
sỹ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội;
Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Đô đề cập đến vấn đề xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên phạm vi toàn quốc khá
toàn diện với lý luận sâu và đặc biệt là bảng số liệu phong phú về nhiều nội
dung đã khái quát được khá rõ về hoạt động về đề tài nghiên cứu. Nhưng, nhìn
chung thì Luận văn của tác giả lại khá giống với một bản báo cáo của ngành
Công an về hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB trên
phạm vi toàn quốc vì tác giả không có sự đánh giá trên phương diện của người
nghiên cứu vấn đề về những tồn tại của hoạt động trên.
-

Phạm Trung Hòa (2008), xử phạt vi phạm hành chính về trật tự

an toàn giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông ở Việt Nam, Luận văn
Hành chính công, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội;
Mặc dù chỉ có độ dài 88 trang song Luận văn của tác giả Phạm Trung
Hòa đã đề cập toàn diện về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB của Cảnh sát giao thông ở Việt Nam. Là luận văn mang tính chuyên
ngành sâu sắc, tác giả đã có lý luận sâu sắc, thực tế rõ ràng và cả những giải
pháp toàn diện cho hoạt động mà đề tài đề cập đến.
-

Trần Sơn Hà (2011), cải cách thủ tục hành chính trong xử phạt vi


Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về vi phạm hành
chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, giao thông đường
bộ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình vi phạm hành chính và
hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên
7


địa bàn tỉnh trong thời gian qua. Từ đó, rút ra được những ưu điểm và hạn chế
của công tác này.
Ba là, trên cơ sở quán triệt các quan điểm có tính chất chỉ đạo, đề xuất
một số giải pháp góp phần làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở trong thời gian
tới.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
-Quy phạm pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ; công tác thực hiện pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh của
cơ quan có thẩm quyền.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-Về thời gian: Từ năm 2011 đến tháng 6/2016.
-Về không gian: Tỉnh .
-Về đối tượng: Chủ yếu khảo sát công tác xử phạt hành chính của
lực lượng cảnh sát giao thông Công an tỉnh .
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật

chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;
Chương 2: Thực trạng công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ ở tỉnh thời gian qua;
Chương 3: Giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh .

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Như chúng ta đã biết, Nhà nước là một tổ chức được xã hội thành lập nên để
thực hiện việc quản lý, phát triển xã hội. Để có thể thực hiện được vai trò đó,
Nhà nước luôn phải tác động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống các quy

9


tắc quản lý nhà nước được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Trên thực tế, trong đời sống xã hội luôn xảy ra tình trạng vi phạm các quy tắc
quản lý nhà nước. Các vi phạm đó diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội, từ
những hành vi đơn giản và phổ biến như hút thuốc lá nơi công cộng, đến những
hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm hơn như tham gia giao thông đường bộ
không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều, lạng lách đánh võng, gây tai nạn,…
hoặc hành vi làm ô nhiễm môi trường, xây dựng trái phép, trốn thuế… Những
hành vi vi phạm rất đa dạng và “có mặt” trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà
nước.
Dưới góc độ lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi
các mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó. Tổng hợp các yếu

10


học được pháp luật lao động, hành chính và các văn bản nội quy của từng cơ
quan, doanh nghiệp quy định.
Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 đã đưa ra định nghĩa pháp lý về
“vi phạm hành chính”. Khoản 1 Điều 2 của Luật quy định [33]: Vi phạm hành
chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Định nghĩa trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính,
đó là: tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính trái pháp luật
hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, do đó nó cũng bao gồm
các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và
khách thể. Dưới đây, các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm
hành chính sẽ được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau.

Mặt khách quan của vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế
giới khách quan của vi phạm hành chính, thông thường các biểu hiện ra bên
ngoài của hành vi vi phạm là hành vi, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện
hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi
phạm hành chính.
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ
chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây tác
hại đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý. Những biểu hiện này
được kiểm soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành
chính. Hành vi là biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hành
chính, chúng có ý nghĩa quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặt

làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội; Ba là, hậu quả vi phạm đã
xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của
12


hành vi vi phạm. Ngoài những biểu hiện trên, về mặt khách quan của vi phạm
cc̣n có một số dấu hiệu khách quan khác như: thời gian, địa điểm, công cụ và
phương tiện vi phạm.
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên trong của
chủ thể. Yếu tố cơ bản nhất của mặt chủ quan là tính có lỗi. Lỗi chính là trạng
thái tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi
vi phạm và hậu quả của hành vi đó. Yêu cầu về lỗi trong Luật hành chính
không cao như trong Luật hình sự, trong nhiều trường hợp chỉ cần có lỗi nghĩa
là người vi phạm biết hoặc có thể biết tính chất sai phạm của mình là đủ để xác
định vi phạm hành chính xảy ra. Đối với luật hình sự đòi hỏi phải chính xác
hơn, không chỉ xác định lỗi mà còn phải xác định cho được hình thức và mức
độ lỗi; mặt khác lỗi trong Luật hình sự chỉ đặt ra với cá nhân vi phạm, trong
hành chính lỗi đặt ra cho cả cá nhân và tổ chức vi phạm.
Lỗi trong vi phạm hành chính thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là chủ thể nhận thức được hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Lỗi vô ý trong vi phạm hành
chính là lỗi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình
thiếu thận trọng mà không nhân thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mặc dù
họ có đầy đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định
Chủ thể của vi phạm hành chính
Khác với luật hình sự xác định chủ thể tội phạm chỉ có thể là cá nhân, trong
luật hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức; cá
nhân hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có
năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính.

hành chính gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế. Cơ quan, tổ
chức nước ngoài nếu vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc
quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải thì bị xử phạt như cơ quan, tổ chức Việt
Nam (trừ tổ chức được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao).
Khách thể của vi phạm hành chính

14


Khách thể của vi phạm hành chính là cái mà vi phạm xâm hại tới. Đó chính là
các quan hệ xã hội được các quy tắc quản lý nhà nước bảo vệ. Các quan hệ xã
hội bị/có thể bị vi phạm hành chính xâm phạm rất đa dạng, đó là: trật tự nhà
nước và xã hội, sở hữu xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân,...
Khách thể của vi phạm hành chính được chia thành các loại sau: Khách thể
chung: đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hay
nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung.
Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với nhau
trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước. Các quan hệ này được
phát sinh trong cũng một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước, do vậy chúng
có mối liên hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lý nhà nước.
Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật quy định và bảo
vệ, bị chính hành vi vi phạm hành chính phạm xâm hại tới.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
Trên cơ sở lý luận về vi phạm hành chính nói chung đã được phân tích ở trên,
chúng ta sẽ làm rõ vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói
riêng.
Văn bản pháp quy hiện hành trực tiếp quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) và đường sắt là Nghị định số


Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực giao thông đường bộ được
bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hành chính.
-

Đặc trưng của cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông

đường bộ thường là sử dụng kết cấu trực tiếp. Việc xác định vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được quy định tập trung và chủ yếu
ở văn bản chuyên ngành về giao thông đường bộ, chứ không theo lối kết cấu
dẫn chiếu như một số lĩnh vực khác – nơi mà việc xác định vi phạm thường
phải căn cứ vào các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, ví dụ như lĩnh vực
bảo vệ môi trường.

16


-

Tính chất và mức độ hậu quả của vi phạm hành chính trong lĩnh vực

giao thông đường bộ phụ thuộc chủ yếu vào những thiệt hại thực tế và hành vi
đó gây ra hoặc có thể gây ra cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác
và của chính chủ thể vi phạm.
-

Giao thông đường bộ được tạo thành bởi nhiều thành phần, dẫn đến hoạt


chương XIX, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) [30] về
Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Đó là các điều luật từ
Điều 203 đến Điều 207 (Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ; Điều 203. Tội cản trở giao thông đường bộ; Điều
204. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm
an toàn; Điều 205. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều
khiển các phương tiện giao thông đường bộ ; Điều 206. Tội tổ chức đua xe trái
phép; Điều 207. Tội đua xe trái phép).
Vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ đều là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội, điểm khác nhau ở đây chỉ là “mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi”. Hành vi vi phạm hành chính về giao thông
đường bộ ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với hành vi bị coi là tội phạm về môi
trường. Để xác định mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của vi phạm hành
chính và tội phạm nói chung, có thể dựa trên những tiêu chí sau: i) Tính chất
của khách thể bị xâm hại; ii) Chủ thể; iii) Mức độ hậu quả; iv) Số lượng tang
vật, hàng hóa,…vi phạm; v) Tái phạm hành chính (đã bị xử phạt hành chính mà
còn vi phạm); vi) Hình thức lỗi, động cơ, mục đích.
Có thể thấy, việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm
trong lĩnh vực giao thông đường bộ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn trong
công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ của các cơ quan chức
năng. Việc xác định thiếu chính xác các hành vi có thể là nguyên nhân có tính
bước ngoặt cho những sai phạm trong quá trình áp dụng pháp luật của các cá
nhân, tổ chức có thẩm quyền. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu sâu ở chuyên
khảo khác. Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung vào nội dung chính là
18


hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
tỉnh , tức là tiếp cận vấn đề dưới góc độ hoạt động áp dụng pháp luật của các
cơ quan hành chính nhà nước.

định của Luật Giao thông đường bộ về tiêu chuẩn, điều kiện an toàn đối với
các công trình hạ tầng giao thông đường bộ.
Nhóm thứ ba: Các hành vi vi phạm quy chế về phương tiện tham gia giao
thông đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 3 Chương II của Nghị định số
46/2016/NĐ-CP (từ Điều 16 đến Điều 20). Đây là các hành vi vi phạm quy
định tại của Luật Giao thông đường bộ về tiêu chuẩn, điều kiện an toàn với các
phương tiện giao thông đường bộ.
Nhóm thứ tư: Các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện
tham gia giao thông đường bộ.
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 4 Chương II của Nghị định số
46/2016/NĐ-CP (từ Điều 21 đến Điều 22). Đây là các hành vi vi phạm quy
định của Luật Giao thông đường bộ về điều kiện chuyên môn, độ tuổi, sức
khỏe… đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Nhóm thứ năm: Các hành vi vi phạm về vận tải đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 5 Chương II của Nghị định số
46/2016/NĐ-CP (từ Điều 23 đến Điều 28). Đây là các hành vi vi phạm quy
định của Luật Giao thông đường bộ về điều kiện an toàn đối với người, hàng
hóa khi vận chuyển bằng phương tiện giao thông đường bộ.
Nhóm thứ sáu: Các hành vi vi phạm khác liên quan đến giao thông
đường bộ Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 6 Chương II của Nghị
định số 46/2016/NĐ-CP (từ Điều 29 đến Điều 38). Các hành vi này tuy không
trực tiếp ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ nhưng lại có những tác
động xấu đến trật tự, an ninh xã hội.
Như vậy có thể thấy, về mặt quy phạm pháp luật, việc quy định rõ ràng và tập
trung các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại
Nghị định số 46/2016/NĐ-CP là một sự thuận lợi cho công tác tra cứu và áp
20





hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh
thần so với trạng thái ban đầu của họ.
Như vậy, có thể thấy hai nội dung của thuật ngữ “xử phạt vi phạm hành chính”
là: 1) là hệ thống các quy định pháp luật hành chính điều chỉnh hoạt động áp
dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền xử phạt hành chính, 2) là hoạt động
xử phạt hành chính, từ khâu phát hiện vi phạm, tìm kiếm quy định áp dụng, đến
khâu áp dụng biện pháp xử phạt tương ứng với vi phạm. Khái niệm xử phạt vi
phạm hành chính nêu trên phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây của hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính:
-

Thứ nhất: Xử phạt vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có vi

phạm hành chính xảy ra. Cơ sở để xử phạt hành chính là hành vi vi phạm hành
chính. Như vậy, để thực hiện hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trước hết
đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền xử phạt phải xem xét đã có vi phạm hành
chính xảy ra hay chưa.
-

Thứ hai, xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật do

các cá nhân có thẩm quyền quản lý hành chính thực hiện. Việc tiến hành xử
phạt vi phạm hành chính đòi hỏi phải đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật
quy định. Kết quả xử phạt vi phạm hành chính phải thể hiện bằng quyết định
xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt hành chính được áp dụng theo trình tự do các quy phạm thủ tục của
luật hành chính quy định (trình tự hành chính) chứ không phải trình tự, thủ tục
tư pháp. Việc áp dụng trình tự này đơn giản hơn nhiều so với trình tự áp dụng

Ngoài những đặc điểm chung nói trên, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ còn có những đặc điểm riêng, đó là:
-

Do đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường

bộ nên hoạt động xử phạt vi phạm hành chính có thể được bắt đầu ở những địa
điểm bất kỳ không có định nơi mà hành vi vi phạm diễn ra. Nếu vi phạm hành
chính trong những lĩnh vực khác thường gắn liền với những địa điểm tĩnh (xây
dựng, môi trường, thuế, công nghệ thông tin,…) thì vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào mà có sự tham gia
của người dân vào giao thông đường bộ. Như đã đề cập ở phần đầu, giao thông
đường bộ là một hệ thống – mạng lưới đường bộ phủ khắp địa bàn một đơn vị
hành chính, một khu vực nhất định. Do vậy mà đặc thù của quá trình xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực này gắn liền với sự “di động” của địa điểm nơi
diễn ra hành vi vi phạm.
-

Cũng chính từ đặc thù nói trên mà mà hoạt động xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ chủ yếu được được thực hiện trên cơ
23


sở bắt quả tang hành vi vi phạm. Đường bộ là nơi diễn ra hoạt động của con
người khi tham gia giao thông. Đó là một không gian công cộng không của
riêng ai. Do vậy mà hành vi vi phạm hành chính thường dễ được biểu hiện ra
bên ngoài – tức tính dễ bị phát hiện. Vì vậy mà vi phạm cần được bắt quả tang
và không nhất thiết phải trải qua thủ tục giám định như trong lĩnh vực môi
trường. Cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ chủ

phạm hành chính là công cụ quan trọng để Nhà nước, xã hội đấu tranh phòng
ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của
Nhà nước. Để thực hiện được mục đích đó, có nhiều yếu tố chi phối, nhưng
yếu tố chất lượng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính là yếu tố đầu tiên,
quan trọng nhất, tạp cơ sở pháp lý cho toàn bộ quá trình xử phạt vi phạm hành
chính, trong đó có lĩnh vực giao thông đường bộ.
Pháp chế vừa là mục đích, vừa là yêu cầu của việc xây dựng và thực hiện
pháp luật, theo đó, đòi hỏi cần sự hiện diện đầy đủ của một hệ thống các quy
phạm pháp luật có chất lượng tốt, và quá trình thực hiện nghiêm minh. Nếu
một hệ thống pháp luật xử phạt vi phạm hành chính có chất lượng tốt, thì
không thể có cơ sở cho một quá trình thực thi pháp luật tốt được, cho dù có đầu
tư nhiều tiền của và nhân lực cho các quá trình thực hiện ấy.
1.2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật pháp luật
Cũng như yếu tố trên, yếu tố tổ chức thực hiện pháp luật là một nội dung của
yêu cầu pháp chế. Thực tế chứng tỏ rằng, có một hệ thống pháp luật toàn diện,
đầy đủ và chất lượng cao là vô cùng cần thiết, nhưng nếu các quy phạm này
không được thực hiện tốt trong đời sống thì chúng cũng chỉ là pháp luật trên
giấy, chứ chưa phải là pháp luật trong đời sống.
Quá trình thực hiện pháp luật là quá trình các cơ quan nhà nước tổ chức để các
thực thể trong xã hội thực hiện các quy tắc xử sự mà pháp luật yêu cầu. Tại
đây, các quy phạm pháp luật được sự tương tác và đảm bảo bằng các năng lực
của nhà nước, biến thành yếu tố vật chất tác động vào thực tế đời sống nhằm
hướng các hành vi của xã hội theo yêu cầu mà pháp luật đã đề ra. Trong quá
trình này, những ưu, nhược điểm của pháp luật sẽ được biểu hiện, để từ đó
chúng được nhận thức và sửa chữa, hoàn thiện.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status