1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Danh mục các bảng, biểu đồ 6
PHẦN I: MỞ ĐẦU 7
1. Sự cần thiết của đề tài 7
2. Mục tiêu của đề tài 9
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
4.1. Phương pháp phân tích tài liệu 9
4.2. Phương pháp nghiên cứu định tính 10
4.2.1. Phương pháp phỏng vấn sâu 10
4.2.2. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung 10
4.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng 10
5. Phương pháp chọn mẫu 10
6. Kết cấu đề tài 11
PHẦN II: TỔNG QUAN 12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ 12
I.1. Khái niệm và đặc điểm của ngành khai thác thủy sản nói chung và nghề khai
thác hải sản xa bờ nói riêng 12
I.1.1. Khái niệm 12
I.1.2. Vị trí của ngành khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa bờ nói
riêng 12
I.1.3. Đặc điểm của ngành khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa bờ
nói riêng 14
I.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ 15
2
I.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ 15
IV.1.5. Trình độ khoa học công nghệ 44
IV.2. Hiệu quả của Chương trình khai thác hải sản xa bờ 45
IV.3. Đánh giá chung 47
CHƯƠNG V: TÁC ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
HẢI SẢN XA BỜ KHÁNH HÒA GIAI ĐOẠN 2001 – 2005 48
V.1. Tiến trình điều tra hiệu quả kinh tế - xã hội hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005 48
V.1.1. Phương pháp điều tra 48
V.1.2. Phương pháp thu thập số liệu 49
V.1.3. Khái quát về khối tàu điều tra 50
V.1.3.1. Số lượng hộ ngư dân và tàu được điều tra 50
V.1.3.2. Địa điểm tiến hành điều tra 51
V.1.4. Khái quát về các nhóm nghề điều tra 51
V.1.5. Các nhân tố tác động đến tiến trình điều tra 52
V.2. Phân tích kết quả điều tra theo các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 53
V.2.1. Giá trị sản xuất ngành khai thác hải sản 53
V.2.2. Hiệu quả kinh tế đội tàu theo nhóm nghề 55
V.2.3. Thu nhập bình quân/ lao động khai thác hải sản theo nhóm nghề 57
V.2.3.1. Thu nhập bình quân/ lao động bạn 59
V.2.3.2. Thu nhập bình quân/ lao động khai thác của gia đình chủ ghe 59
V.2.4 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản 60
V.2.4.1. Năng lực khai thác 60
V.2.4.2. Cơ sở hạ tầng 60
V.2.4.3. Trình độ khoa học công nghệ 61
V.2.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khai thác hải sản 62
4
V.2.5.1. Cơ cấu nghề nghiệp 63
V.2.5.2. Cơ cấu vốn đầu tư 63
V.2.5.3. Cơ cấu thành phần kinh tế 63
4. Kết luận 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 88
6
Danh mục các bảng, biểu đồ
Bảng 3.1: Mùa vụ đánh bắt của các nghề khai thác 35
Bảng 3.2: Phân bố cụm dân cư nghề cá 37
Bảng 4.1: Số lượng tàu thuyền toàn tỉnh Khánh Hòa 38
thực phẩm khác. Chính vì vậy mà có sự chuyển hướng của nhu cầu từ thực phẩm và các
động thực vật nói chung chuyển sang các loại thực phẩm thủy sản. Hơn nữa, do tác động
của sự gia tăng dân số mà nhu cầu của con người về thực phẩm thủy sản ngày càng tăng
lên về chất lượng, số lượng, chủng loại. Điều này đã thúc đẩy ngành thủy sản phát triển
ngày càng mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng của thế giới nói chung và của các
nước có thế mạnh về thủy sản nói riêng.
Việt Nam với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,… thuận lợi nên
có truyền thống lâu đời về ngành thủy sản, đặc biệt là nghề khai thác hải sản. Trong thời
gian qua, hoạt động khai thác hải sản đã không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu
nguyên liệu thủy sản ngày càng tăng.
Tuy nhiên, nghề khai thác thủy sản cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề cần giải quyết. Sản
lượng khai thác hải sản vùng biển ven bờ đã được đánh giá là vượt ngưỡng khả năng khai
thác cho phép của nguồn lợi vùng biển. Với cơ cấu đối tượng khai thác tương đối ổn định,
năng suất khai thác đã giảm từ 0,9 tấn/cv/năm (năm 1990) xuống còn 0,34 tấn/cv/năm
(năm 2005). Theo tính toán của Viện Nghiên cứu Hải sản, năm 2000 sản lượng khai thác
hải sản ở vùng nước có độ sâu < 50m đã vượt khả năng khai thác cho phép của nguồn lợi
là 1,8 lần.
Do vậy, nghề khai thác hải sản xa bờ đã và đang được ngành thủy sản quan tâm chú
trọng phát triển nhằm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp phù hợp với cơ cấu phân bố nguồn lợi,
nâng cao hiệu quả kinh tế đội tàu khai thác, góp phần tăng thu nhập và đảm bảo an ninh
quốc phòng trên biển. Khai thác hải sản xa bờ thực sự phát triển từ sau khi có Quyết định
393/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 9 tháng 6 năm 1997 về việc
8
ban hành Quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước cho
các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt xa bờ.
Khánh Hòa là một tỉnh có thế mạnh về ngành thủy sản. Tuy nhiên, cũng như tình hình
chung của cả nước, ngành thủy sản Khánh Hòa cũng có những vấn đề cần khắc phục cải
thiện để đưa ngành thủy sản tỉnh nhà phát triển theo hướng bền vững. Một trong những
vấn đề nổi cộm của ngành trong thời gian qua được các phương tiện thông tin đại chúng
Đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển hoạt động khai thác hải sản xa bờ theo
hướng bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận: tập trung nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội
của hoạt động khai thác hải sản xa bờ Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005.
Do đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình ở Khánh Hòa hoạt động khai
thác hải sản xa bờ có tàu công suất từ 90cv trở lên.
(Vì theo Điều 2 – Quyết định 393/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành vào
ngày 9/6/1997 về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế
hoạch Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt xa
bờ, thì tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp công suất máy chính từ 90cv trở lên.)
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài quán triệt nguyên tắc kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng trên cơ sở chọn
mẫu ngẫu nhiên mang tính đại diện theo tiêu chí nhóm nghề khai thác hải sản xa bờ. Sử
dụng các phần mềm máy tính trong môi trường Excel và SPSS để tiến hành phân tích.
Trên cơ sở thống kê, phân tích các dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập qua các
cuộc điều tra mẫu, đề tài sẽ tiến hành so sánh, phân tích đánh giá các mặt tác động tới
kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ.
Đề tài được thực hiện kết hợp với nghiên cứu của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy
sản.
4.1. Phương pháp phân tích tài liệu :
Trước khi tiến hành điều tra thực địa, đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để
bước đầu nắm được những vấn đề liên quan đến hiệu quả về kinh tế - xã hội của hoạt
10
động khai thác hải sản xa bờ ở Khánh Hòa. Kết quả của phương pháp nghiên cứu này là
nắm được tổng quan vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở đó, giúp cho việc chọn mẫu được
chính xác hơn. Đồng thời, phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu, phát hiện những khía
cạnh nghiên cứu chưa được đề cập.
4.2. Phương pháp nghiên cứu định tính :
hải sản xa bờ.
Chương 2: Tình hình nghiên cứu.
Phần III: Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản
xa bờ Khánh Hòa.
Chương 3: Điều kiện tự nhiên và tiềm năng nguồn lợi thủy sản ở địa phương
Chương 4: Thực trạng hoạt động khai thác xa bờ Khánh Hòa.
Chương 5 : Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ Khánh Hòa
giai đoạn 2001 – 2005.
Phần IV: Kiến nghị và kết luận 12PHẦN II: TỔNG QUAN
với tài nguyên thiên nhiên.
- Đặc trưng trong toàn bộ lịch sử nghề cá là sự phát triển của nghề khai thác bao giờ
cũng vượt lên trước sự nghiên cứu của ngành khoa học về kinh tế nghề cá và về đối
tượng khai thác, trước khi khoa học có khả năng nêu lên một cách đầy đủ về đối
tượng khai thác bất kỳ nào thì sự khai thác các đối tượng đó đã phát triển và trở
thành một hoạt động mạnh mẽ trong thực tế.
- Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật, trình độ
chuyên môn hóa ngày càng cao, ngành khai thác thủy sản ngày càng có điều kiện tận
dụng và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản trên tất cả các vùng nước. Từ đó thúc
đẩy phân công lao động ngày càng sâu sắc, tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả tài
nguyên, nguồn lợi để sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa và nguyên liệu đáp ứng
cho nhu cầu xã hội.
- Do nhu cầu của tiêu dùng và xuất khẩu ngày càng tăng lên mạnh mẽ và sự giới hạn
của các tài nguyên, nguồn lợi mà sự phát triển của ngành khai thác thủy sản trên thế
giới nói chung đang có xu hướng chững lại để nhường chỗ cho ngành nuôi trồng
phát triển. Tuy nhiên, trong toàn bộ hệ thống kinh tế thủy sản thì ngành khai thác
thủy sản vẫn là ngành sản xuất vật chất cơ bản để đảm bảo cho sự phát triển của cả
hệ thống.
Trong đó, khai thác hải sản xa bờ giữ vị trí vô cùng quan trọng trong cơ cấu ngành
khai thác thủy sản.
- Là ngành được định hướng chuyển đổi nhằm giảm áp lực khai thác thủy sản ven bờ
đang dần cạn kiệt.
- Là ngành cung cấp nguồn nguyên liệu giá trị cao cho ngành chế biến xuất khẩu, giúp
gia tăng giá trị sản phẩm thủy sản xuất khẩu và nâng cao kim ngạch xuất khẩu.
14I.1.3. Đặc điểm của ngành khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa
bờ nói riêng:
Do sự giống nhau giữa các sinh vật thủy sản và các động thực vật cũng như khả năng
ngư dân (chiếm hơn 90% tổng sản lượng khai thác). Nói cách khác, khai thác thủy sản
nước ta mang đặc tính của một nghề cá đa loài, quy mô nhỏ.
Ngành khai thác hải sản xa bờ là một bộ phận của ngành khai thác thủy sản nên bên
cạnh những đặc điểm chung, ngành khai thác hải sản xa bờ còn có những đặc điểm riêng:
- Vốn cố định và vốn lưu động cần một lượng rất lớn để đóng tàu và chi phí hoạt động
cho tàu ra khơi. Do tính chất của nghề khai thác hải sản xa bờ nên thời gian hoạt
động kéo dài trên biển, cần chi phí khá lớn về nhiên liệu và bảo quản vì vậy đòi hỏi
phải có một lượng vốn lưu động nhiều.
- Thời gian cho một chuyến khai thác thường kéo dài và khoảng cách từ bờ ra ngư
trường là khá xa. Điều này cho thấy rằng có một khoảng thời gian dài để sản phẩm
sau khai thác trên tàu, nếu không có các phương pháp bảo quản thận trọng sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng thuỷ sản.
- Độ rủi ro cao, thiệt hại cho tàu và người lớn do hoạt động ở các ngừ trường khơi là
chủ yếu.
- Để đánh bắt hải sản có kết quả cao đòi hỏi thuyền trưởng phải xác định đúng ngư
trường đánh bắt, chủ yếu dựa trên cơ sở kinh nghiệm của thuyền trưởng để dự báo
ngư trường khai thác.
I.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ:
I.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa
bờ:
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì tác động có nghĩa là gây ra sự biến đổi nào
đó cho sự vật được hành động hướng tới. Như vậy, tác động kinh tế - xã hội của hoạt động
16
khai thác hải sản xa bờ tức là những sự biến đổi về đời sống kinh tế xã hội do sự phát triển
của nghề khai thác xa bờ tại địa phương trong thời gian qua gây ra đối với ngư dân nói
riêng và người dân địa phương nói chung.
I.2.2. Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về kinh tế:
1. Giá trị sản xuất ngành khai thác hải sản:
mà chủ yếu là doanh thu của sản phẩm sau khai thác. Cuối cùng, việc xác định lợi nhuận
bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí cũng như sử dụng những chỉ tiêu này để xác định tỷ
suất sinh lợi của hoạt động khai thác hải sản mang lại cao hay thấp.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản: Tỷ suất lợi nhuận
trên chi phí. Chỉ tiêu này cho ta biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Như vậy, nếu chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả khai thác càng lớn.
Ta có công thức tính:
Doanh thu
- Biến phí (Chi phí nhiên liệu, Chi phí bảo quản, Chi phí lương thực-thực phẩm, Chi
phí sửa chữa nhỏ, Các chi phí khác và Chi phí tiền lương)
= Giá trị gia tăng
- Chi phí sửa chữa lớn
- Chi phí bảo hiểm, thuế
= Dòng tiền thu được
- Khấu hao
- Lãi vay
= Lợi nhuận khai thác
: Tổng chi phí (Biến phí, Chi phí sửa chữa lớn, Chi phí bảo hiểm, thuế, Khấu
hao, Lãi vay)
= Tỷ suất lợi nhuận/ chi phí
Trong đó:
Doanh thu khai thác:
Doanh thu từ khai thác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà các thủy thủ tham gia hoạt
động đánh bắt trên tàu thu được từ việc khai thác và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản. Trong
18
một năm, doanh thu bao gồm tổng doanh thu khai thác trong mùa chính và trong mùa phụ.
Doanh thu khai thác không bao gồm phần thu nhập do cá nhân thủy thủ làm thêm trong
quá trình tham gia đánh bắt và cũng như không bao gồm phần sản phẩm khai thác được
chia cho các thủy thủ để làm thức ăn cho gia đình. Doanh thu khai thác cũng được hiểu là
+ Thuế phải nộp nhà nước: là những khoản đóng góp ngân sách nhà nước, bao
gồm: thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp. Các khoản thuế trên đối
với hoạt động khai thác hải sản chủ yếu là thuế khoán, ngư dân thường đóng một khoản
nhất định cho dù hoạt động khai thác có thay đổi.
- Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về
mức độ hoạt động. Khoản chi phí này phát sinh trong quá trình hoạt động và bằng 0 khi
tàu không tham gia khai thác. Trong khai thác hải sản nghề lưới rê thu ngừ, chi phí biến
đổi bao gồm chi phí chuyến biển và chi phí tiền lương.
+ Chi phí chuyến biển: Trong khai thác hải sản chi phí chuyến biển thường được
tính bằng khoản chi phí bỏ ra để mua nhiên liệu, bảo quản, lương thực, các chi phí sửa
chữa nhỏ tàu…chi phí này được bù đắp bằng doanh thu trước khi chia lương cho thủy thủ.
Chi phí chuyến biển bao gồm:
Chi phí nhiên liệu: bao gồm chi phí dầu diesel, nhớt phục vụ cho hoạt động của
máy tàu.
Chi phí bảo quản: chủ yếu chi phí mua đá, muối dùng để bảo quản sản phẩm
khai thác.
Chi phí lương thực, thực phẩm: bao gồm những chi phí phục vụ ăn uống trong
quá trình khai thác.
Các loại phí phải trả và chi phí khác: bao gồm phí neo đậu tàu thuyền, phí cập
cảng thực hiện một số dịch vụ hậu cần trước khi ra khơi và một số khoản phí
khác.
Chi phí sửa chữa nhỏ: là những khoản chi phí sửa chữa tàu, ngư cụ, trang thiết
bị trên tàu phát sinh trong khi tàu đang hoạt động khai thác hải sản. Chi phí này
thường nhỏ và xảy ra thường xuyên và được tính vào chi phí của chuyến biển.
20
+ Chi phí tiền lương: Là số tiền mà chủ tàu trả công làm việc cho thuỷ thủ tham
gia khai thác. Trong hoạt động khai thác hải sản tại Việt Nam, chi phí tiền lương được chi
trả bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng đối với nghề lưới rê thu ngừ thì chi phí này
chủ yếu được chi trả bằng tỷ lệ phần trăm của doanh thu trừ chi phí biến đổi chưa có
* 1/2 hoặc 2/5 (tùy theo cách ăn chia theo tỷ lệ 5:5 hay 6:4)
= Tổng số tiền công của lao động bạn trên tàu
: số lao động bạn trên tàu
= Thu nhập bình quân/ lao động bạn/ chuyến
* số lao động trong gia đình chủ ghe tham gia khai thác trên tàu
+ lợi nhuận khai thác
= Thu nhập bình quân từ khai thác thủy sản/ hộ chủ ghe/ chuyến
: số lao động trong gia đình chủ ghe tham gia khai thác trên tàu
= Thu nhập bình quân/ lao động đi biển trong gia đình chủ ghe/ chuyến
(Thu nhập bình quân/ lao động bạn/ chuyến sẽ bằng không khi Doanh thu chuyến biển
nhỏ hơn hoặc bằng Tổn chuyến biển.)
4. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản: năng lực khai thác, cơ
sở hạ tầng, trình độ khoa học công nghệ,…
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản là sự áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại nhằm cải biến toàn bộ hoạt động khai thác hải
sản lên một trình độ phát triển cao hơn.
Các nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản bao
gồm :
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa về năng lực khai thác: thể hiện ở sự gia tăng về số
lượng tàu thuyền máy công suất lớn (>90cv) tham gia đánh bắt, sản lượng đánh bắt, năng
suất đánh bắt, thành phần loài đánh bắt có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, ở nội dung này
cần có sự quy hoạch quản lý chặt chẽ của Nhà nước vì nếu không sẽ dễ gây ra dư thừa
năng lực, làm giảm hiệu quả kinh tế và suy thoái nguồn lợi.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa về cơ sở hạ tầng: thể hiện qua việc mở rộng nâng cấp
các bến cá, cảng cá theo hướng hiện đại, bảo đảm các điều kiện dịch vụ thuận tiện, nhanh
22
chóng cho cá tàu đánh bắt; xây dựng các mô hình chợ cá và trung tâm đấu giá thủy sản để
thống nhất quản lý kiểm soát cá sản phẩm đánh bắt, đồng thời ổn định thị trường nguyên
liệu cho các doanh nghiệp chế biến và bảo đảm quyền lợi cho ngư dân.
Đây là chỉ tiêu để đánh giá hoạt động khai thác hải sản xa bờ đang nằm trong giai đoạn
nào của chu kỳ phát triển.
Như ta đã biết, có 4 giai đoạn trong 1 chu kỳ phát triển bao gồm: giai đoạn phát triển,
giai đoạn hưng thịnh, giai đoạn suy thoái, và giai đoạn suy vong.
Đánh giá chỉ tiêu này nhằm xác định hoạt động khai thác hải sản xa bờ đang nằm trong
giai đoạn nào để từ đó có những dự báo chính xác về sự phát triển của nghề trong tương
lai và có các chính sách, biện pháp nhằm duy trì tốc độ phát triển của nghề trong thời gian
dài nếu ở giai đoạn 1 và 2, hoặc vực dậy sự phát triển của nghề nếu ở giai đoạn 3 và 4.
Và mục tiêu cuối cùng là tạo sự phát triển ổn đinh, lâu dài, bền vững cho nghề khai
thác hải sản xa bờ.
I.2.3. Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về xã hội:
1. Giải quyết lao động và việc làm:
Đây chính là chỉ tiêu phản ánh số lao động tham gia hoạt động nghề, số lượng việc làm
được tạo ra cho các lao động khai thác và lao động hoạt động trong các lĩnh vực liên quan
như dịch vụ hậu cần nghề cá,…
Như vậy chỉ tiêu này càng cao thì hiệu xã hội thu được càng lớn. Tuy nhiên, chỉ tiêu
này chỉ phản ánh về số lượng, còn về chất lượng chúng ta cần sử dụng thêm các chỉ tiêu
khác.
2. Phát triển nguồn nhân lực:
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành khai thác hải sản, vấn đề
phát triển nguồn nhân lực là một nội dung quan trọng, nhất là lao động đang trong tình
trạng thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng như hiện nay.
Phát triển nguồn nhân lực chính là tạo được một nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng
cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Để thực hiện tốt công tác này, các cấp quản lý cần tiến hành dự báo nhu cầu lao động,
có biện pháp thu hút và đào tạo lao động theo nhu cầu thị trường.
24
Để đánh giá chỉ tiêu này, chúng ta cần xem xét các chính sách về phát triển nguồn
nhân lực của Nhà nước cũng như việc thực hiện và đánh giá thông qua kết quả đạt được.
Mức sống là chỉ tiêu đánh giá chất lượng sống của người dân. Mức sống cao tức chất
lượng sống cao, mức sống thấp tức chất lượng sống thấp.
Trong đề tài, mức sống của ngư dân được đánh giá dựa trên chỉ tiêu về thu nhập bình
quân/ người/ tháng và mức chi tiêu bình quân/ người/ tháng, có sự so sánh với các chỉ tiêu
tương tự đối với thống kê chung cho cả địa phương.
7. Dân trí và trình độ học vấn, đào tạo nghề của ngư dân:
Đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động trong nghề khai thác.
Dân trí và trình độ học vấn, đào tạo nghề của ngư dân là trình độ nhận thức của ngư
dân về các vấn đề kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật,…
Thông thường, dân trí khó xác định mà người ta thường xác định thông qua trình độ
học vấn, đào tạo nghề. Trình độ học vấn và đào tạo nghề càng cao thì chất lượng lao động
càng tốt, bởi vì nó phản ánh được trình độ tay nghề, kỹ thuật sản xuất cũng như việc sử
dụng các thiết bị hiện đại vào sản xuất đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
8. Tạo dòng di cư
Di cư thường được hiểu là chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng cách
đủ lớn buộc người di cư phải thay đổi hộ khẩu thường trú.
Di cư thường xảy ra khi địa phương đó không có đủ việc làm hoặc không có điều kiện
để người lao động phát triển. Và khi đó sẽ tạo nên áp lực giải quyết một loạt các vấn đề
kinh tế xã hội ở địa phương có lượng người di cư đến nhiều.
Lao động di cư là tốt nếu như đây là lực lượng lao động có chất lượng. Lao động di cư
là gánh nặng khi chất lượng lao động di cư kém.
Lao động di cư còn phản ánh sự thiếu lao động ở địa phương mà lao động di cư đến.
Khi đó, chất lượng lao động ít được chú trọng mà người ta chỉ quan tâm nhiều đến số
lượng. Điều này là một ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của nghề khai thác
hải sản ở địa phương.