CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ......................................
1. Tên sáng kiến: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua
một số tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam - lớp 9 ”
2. Lĩnh vực: Giáo dục
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
- Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học nhằm
thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục toàn diện;
- Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận
nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – từ chỗ quan tâm học sinh học được gì
đến việc học sinh vận dụng và sáng tạo trong thực tiễn. Để thực hiện được điều đó, nhất
định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ
một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về
kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề,
coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập
để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục. Vì
thế đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn vẫn đang là một vấn đề quan trọng góp phần
vào đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Dạy học các truyện hiện đại Việt
Nam - Ngữ văn lớp 9 chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình. Từ các tác phẩm
truyện (đoạn trích) học sinh sẽ có những ngữ liệu để khai thác những kiến thức thuộc
phân môn: Tiếng Việt và Tập Làm Văn. Đồng thời nắm vững về tác phẩm truyện hiện đại
Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực là các em đã có một lượng kiến thức, kỹ
năng tương đối để phục vụ tốt cho kì thi tuyển vào lớp 10 Trung học phổ thông, làm tiền
đề cho bậc học tiếp theo.
1
cứu một số phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển
năng lực của người học để vận dụng vào việc dạy – học một số tác phẩm truyện hiện đại
Việt Nam - lớp 9;
STT TÊN TÁC PHẨM
TÁC GIẢ
TIẾT PPCT
1
2
3
Làng
Lặng lẽ Sa Pa
Chiếc lược ngà
Kim Lân
Nguyễn Thành Long
Nguyễn Quang Sáng
Tiết 61, 62
Tiết 66, 67
Tiết 71, 72
4
Những ngôi sao xa xôi
+ Năng lực hợp tác.
– Năng lực công cụ, bao gồm:
+ Năng lực tính toán;
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ;
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC)
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả những
yếu tố chủ quan(mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các
vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống;
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát
triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sản phẩm cuối
cùng” của quá trình dạy học là kết quả học tập của HS;
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và
chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm của chương
trình dạy học định hướng phát triển năng lực:
Chương trình định hướng nộiChương trình định hướng phát triển
dung
năng lực
Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết
Mục tiêu dạy học được mô tả
Mục
tiêu
và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện
không chi tiết và không nhất thiết
giáo dục
được mức độ tiến bộ của HS một cách liên
phải quan sát, đánh giá được
tục
Việc lựa chọn nội dung dựa vàoLựa chọn những nội dung nhằm đạt được
các khoa học chuyên môn, khôngkết quả đầu ra đã quy định, gắn với các
Nội
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra,
Đánh giá kếtTiêu chí đánh giá được xây dựng
có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học
quả học tậpchủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái
tập, chú trọng khả năng vận dụng trong
của HS
hiện nội dung đã học.
các tình huống thực tiễn.
3.2.3.2. Các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn:
3.2.3.2.1. Dạy học đọc – hiểu:
- Dạy học đọc – hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản. Vậy thế nào là dạy học đọc hiểu? Dạy học
đọc – hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo viên
về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận,
khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho học
sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc –
hiểu cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai
đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình
thành năng lực đọc – hiểu của học sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm
mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy. Năng lực đọc – hiểu còn là sự tích hợp
kiến thức kỹ năng của các phân môn cũng như kinh nghiệm sống của học sinh;
- Quan niệm và phương pháp dạy đọc – hiểu khá tương đồng với cách tiếp cận đọc –
hiểu của PISA. Nhưng dạy đọc – hiểu của ta nhấn mạnh đến việc hình thành cho học sinh
cách đọc văn bản theo các kiểu loại và phương thức biểu đạt.
- Các nhiệm vụ cơ bản của người học khi đọc – hiểu:
+ Tìm kiếm thông tin từ văn bản;
+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối…thông tin để tạo nên hiểu biết
chung về văn bản;
+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản;
5
trong môn học Ngữ văn, HS cần vận dụng tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ, văn
6
hoá, văn học, lịch sử, địa lí, phong tục, vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm của bản
thân. Điều này cũng thể hiện rõ một trong những nhiệm vụ của môn học là hướng đến
việc cá thể hoá người học;
Quan điểm dạy học tích hợp còn gắn với dạy học theo phân hóa. Phân hoá là việc
phân chia HS thành các nhóm khác nhau, mỗi nhóm học theo một chương trình phù hợp
với đặc điểm tâm lý, khả năng học tập, nhịp độ học tập, phù hợp nhu cầu học tập của HS,
trên cơ sở đó phát triển tối đa năng lực của từng HS. Trong môn học Ngữ văn, dạy học
phân hóa thể hiện ở việc tạo điều kiện để mỗi HS bộc lộ thế mạnh và khả năng và sở thích
cá nhân trong việc tự kiến tạo kiến thức cho mình, thông qua các hoạt động thảo luận
nhóm, khuyến khích các tìm tòi cá nhân, các hướng tư duy và lập luận theo các góc độ
khác nhau trong quá trình học tập. Quá trình tổ chức dạy học này sẽ tạo cho HS một nền
tảng kiến thức, kĩ năng, phương pháp học tập bộ môn, đáp ứng với những thử thách được
đặt ra trong học tập và trong cuộc sống.
3.2.3.2.3 Thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự tham gia tích
cực của học sinh trong học tập. Trong thảo luận nhóm, HS được tham gia trao đổi, bàn
bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Thảo luận nhóm còn là
phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo
thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm
cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn.
3.2.3.2.4. Đóng vai:
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày những suy
nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định”. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm
giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của
người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của
mình. Phương pháp đóng vai giúp HS rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày
được nội dung, các phần trong văn bản. Trong quá trình đọc lần 2, HS sẽ lấy bút chì gạch
dưới những chi tiết, sự kiện liên quan đến phần bài học cần phân tích. HS chuẩn bị bài
soạn ở nhà theo yêu cầu, gợi ý của GV và kết hợp các câu hỏi trong SGK vào vở bài soạn.
GV kiểm tra việc đọc - hiểu văn bản của HS tại lớp bằng nhiều hình thức khác nhau (vấn
đáp, thảo luận, cảm nhận…). Đối với truyện, GV hướng HS trong phần đọc - hiểu là nắm
8
được nội dung chính của truyện. Diễn biến truyện (những sự việc chính). Nhân vật nào là
trọng tâm. Truyện có gì đặc sắc về nghệ thuật. Trong quá trình đọc HS ghi lại những cảm
nhận ban đầu của riêng mình về tác phẩm. Tìm hiểu tư liệu có liên quan đến bài học. Làm
tất cả các câu hỏi sách giáo khoa đưa ra. Thường xuyên trao đổi với bạn bè, hỏi thầy cô về
những điều mình băn khoăn hoặc chưa hiểu. Tự rèn luyện cách đọc, viết thường xuyên để
nâng cao cách hành văn.
3.2.4.1.1. Phương pháp dạy học đọc – hiểu truyện ngắn Làng– Kim Lân.
- Công việc chuẩn bị: GV hướng dẫn HS đọc và tóm tắt những nội dung chính trong
văn bản. Gạch dưới những chi tiết chính trong từng sự việc đó. Nhân vật chính trong
truyện là ai? Có điều gì đặc biệt? Tìm những chi tiết thể hiện cụ thể. Truyện hay là nhờ
tình huống nào? Cảm nhận của em về nhân vật ra sao? " HS trả lời các câu hỏi trên kết
hợp với câu hỏi trong SGK.
Hoạt động trên lớp, yêu cầu học sinh thực hiện các nhiệm vụ:
Bước 1: HS đọc văn bản: GV gọi một HS đọc đoạn đầu của văn bản từ "……" nhằm
thể hiện nội dung chính của truyện GV gọi HS tóm tắt ngắn gọn nội dung các phần và các
sự việc chính. HS trả lời các câu hỏi. " Mở đầu truyện là gì? " Diễn biến thế nào? " Kết
thúc ra sao? HS tóm tắt nội dung từng phần HS chia bố cục văn bản;
- HS sẽ tìm kiếm thông tin về văn bản. Ông Hai rất tự hào về làng… sau đó phải đi
tản cư. Ông nghe tin làng Dầu theo việt gian, ông đau khổ, xấu hổ, tủi nhục cuộc đấu
tranh nội tâm gay gắt. Tin làng Dầu được cải chính, ông vui mừng khoe: Tây đốt làng, đốt
nhà ông nhẵn;
GV cho HS nhận xét về kết cấu của văn bản, về cốt truyện (Làng). Làng: có cốt
HS nêu cảm nhận về nhân vật. Theo em, tình huống truyện có gì đặc biệt không? Điều
này có góp phần làm nên thành công của tác phẩm không? ( tình huống truyện: Khi ông
Hai nghe tin làng của ông theo Tây làm Việt gian, tình huống truyện tạo xung đột nội tâm
sâu sắc, bộc lộ rõ nét tính cách nhân vật, làm sáng tỏ chủ đề của truyện (tình yêu làng,
lòng yêu nước của ông Hai). Đưa ra kết luận về văn bản: Tình yêu làng, yêu nước đã hòa
làm một trong ý nghĩ, tình cảm, việc làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất, hòa quyện
như tình yêu nước được đặt cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống
10
mang tinh thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì
kháng chiến chống Pháp.
+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản: Nhà văn đã khẳng định niềm tin về
ngôi làng kháng chiến và tình cảm của người dân Việt Nam luôn trung thành với cách
mạng, với kháng chiến với cụ Hồ;
+ Đánh giá khuynh hướng tư tưởng của người viết: Kim Lân là một cây bút hàng
đầu về đề tài phong tục. Trong truyện Làng, sự thông hiểu về lề thói, phong tục của làng
quê được ông vận dụng hết sức khéo léo vào xây dựng tâm lí, hành động, ngôn ngữ nhân
vật. Cốt truyện đơn giản, sức nặng lại dồn cả vào mạch diễn biến tâm trạng, vào lời thoại
của nhân vật nên câu chuyện có sức hấp dẫn riêng, ấn tượng riêng, độc đáo. Trong số rất
nhiều những nhân vật nông dân khác, người đọc khó có thể quên một ông Hai yêu làng
quê, yêu đất nước, thuỷ chung với kháng chiến, với sự nghiệp chung của dân tộc;
+ Khái quát hóa ở mức phê bình: Một truyện ngắn xuất sắc giai đoạn đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp.
+ Làm rõ phong cách của người viết: Ngôn ngữ của vùng quê Bắc Bộ, cốt truyện
tâm lí, sử dụng thành công các hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm ... nên tác
phẩm có sức hấp dẫn, ấn tượng riêng, độc đáo;
+ Giải quyết những vấn đề trong cuộc sống như: Tình yêu làng, lòng yêu nước trong
mỗi người.
biết sống vì mọi người.
3.2.4.1.3. Phương pháp dạy học đọc – hiểu truyện ngắn Chiếc lược ngà (trích) Nguyễn Quang Sáng
- Công việc chuẩn bị: Đọc, tóm tắt văn bản, tìm hiểu bối cảnh lịch sử Miền Nam
những năm chống Mĩ.
- Hoạt động trên lớp: GV hướng dẫn HS đọc và tìm hiểu những yếu tố ngoài văn
bản. Tác giả: HS nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn chương, đề tài thể
hiện. Hoàn cảnh sáng tác.
GV hướng dẫn HS đọc - tìm thông tin trong văn bản:
Bước 1: Gọi HS đọc văn bản theo từng phần nội dung văn bản - tóm tắt nội dung
từng phần và chia bố cục văn bản.
Bước 2: Phân tích - đánh giá
GV hướng dẫn HS tìm hiểu cách tổ chức, kết cấu truyện. Tình huống truyện được
xây dựng thế nào? Cốt truyện ra sao? Định hướng phân tích. HS dựa vào nội dung truyện
13
trả lời: " bất ngờ, tự nhiên, hợp lý " đơn giản - câu chuyện diễn ra xoay quanh những nhân
vật nào? Tác giả xây dựng nhân vật bé Thu theo diễn biến nào? (mới gặp - những ngày
đoàn tụ- khi chia tay ). Qua đó, em hãy nêu cảm nhận của em về nhân vật bé Thu HS thảo
luận nhóm. GV kết luận, chuyển sang nhân vật người cha. Tính cách nhân vật anh Sáu
phát triển và thay đổi như thế nào đối với con? HS tìm và gạch dưới các chi tiết SGK. GV
đặt câu hỏi HS trình bày cảm nhận của mình về nhân vật Anh Sáu. GV đặt câu hỏi nâng
cao cảm xúc HS. Em hiểu gì về cuộc sống con người trong chiến tranh? Thái độ ra sao?
Câu hỏi thảo luận. HS trình bày cảm nhận: Yêu thương con sâu sắc. Người cha đáng
kính. Một người cán bộ cách mạng hy sinh vì đất nước. Mất mát, hy sinh. Căm ghét chiến
tranh.
Bước 3: Tổng hợp
Chi tiết trong tác phẩm làm em xúc động nhất? Em có thích câu chuyện này không?
Tại sao? Tình huống bất ngờ. Miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật thành công. Em hiểu thế
nào về ý nghĩa nhan đề "Chiếc lược ngà"? HS giải thích qua cảm nhận, GV chốt ý thành
của tác phẩm? Tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ, dũng cảm, có tinh thần trách nhiệm, sẵn
sàng hi sinh vì đất nước…
Bước 3 tổng hợp: GV gọi HS giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm. Từ ý nghĩa nhan
đề của truyện, theo em nhà văn đã thể hiện được vẻ đẹp gì của những cô gái thanh niên
xung phong? Qua đó, em có suy nghĩ gì về họ? Truyện viết có thực tế không? Điều gì làm
cho em ấn tượng nhất? - HS giải thích qua sự hiểu biết, cảm nhận riêng cá nhân (tác giả
đã mượn hình ảnh những ngôi sao luôn tỏa sáng trên bầu trời, hay đó chính là hình ảnh
đẹp tỏa sáng của những cô gái từ những điều xa xôi của đất nước như Phương Định, Nho,
chị Thao phải rời quê vào tận Trường Sơn để tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Điều kiện sống, chiến đấu, làm việc cực kì khó khăn nguy hiểm thế mà họ vẫn lạc quan,
yêu đời, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phẩm chất yêu nước, tinh thần chiến đấu, sẵn sàng hi
sinh của họ luôn tỏa sáng, cao đẹp như những vì sao sáng trên bầu trời). HS phát biểu
(ngôi kể, lời kể, miêu tả, xây dựng tính cách nhân vật).
+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản: Truyện “Những ngôi sao xa xôi”
của Lê Minh Khuê làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc
sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái
thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đó chính là hình ảnh đẹp, tiêu biểu
về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ;
16
+ Đánh giá khuynh hướng tư tưởng của người viết: Lê Minh Khuê viết về người
phụ nữ trong mối quan hệ với những cuộc chiến, khám phá cái đẹp biểu hiện ở nỗi đau
bên cạnh sự ngợi ca vẻ đẹp của lí tưởng, một bản anh hùng ca đầy âm hưởng sử thi. Nhà
văn đã thể hiện được dấu ấn riêng qua cái nhìn tinh tế;
+ Khái quát hóa ở mức phê bình: Tác phẩm là truyện ngắn đầy chất thơ miêu tả
thành công vẻ đẹp tâm hồn đầy mơ mộng , rất quả cảm, anh dũng của thế hệ trẻ Việt Nam
trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước;
+ Giải quyết những vấn đề trong cuộc sống: Nối tiếp bản anh hùng ca về cuộc
láy đó trong đoạn văn. Từ đoạn văn , em hãy viết một đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình
yêu làng, yêu nước của tuổi trẻ hôm nay.
Ngoài ra còn có thể tích hợp các nội dung bài học với các môn học khác, những hiểu
biết xã hội mà học sinh có thể đã biết như: kiến thức về lịch sử Việt Nam những năm
chống Pháp ở miền núi,.. Phần này giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu trước.
Đến lớp các em sẽ vận dụng cái “phông” văn hóa này để tiếp nhận tác phẩm.
3.2.4.2.2. Truyện ngắnLặng lẽ Sa Pa- Nguyễn Thành Long
Ví du: Cho đoạn văn : Trời ơi, chỉ còn có năm phút! Chính là anh thanh niên giật
mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay
cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lạị chiếc ghế,
thong thả đi đến chỗ bác già. Ô ! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này ! Anh thanh niên
vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn
cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay
vội đi.
( Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
- Học sinh trả lời được các câu hỏi sau để củng cố kiên thức tiếng Việt và làm văn:
Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên? Tìm câu có hàm ý và
cho biết hàm ý là gì? Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép “Để người con
gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô
gái”. Từ chỉ trong câu Trời ơi, chỉ còn có năm phút! Thuộc từ loại gì? Câu Trời ơi, chỉ còn
có năm phút! thuộc kiểu câu gì?
18
- Với truyện này, ta cũng có thể yêu cầu học sinh vận dụng những hiểu biết về hoàn
cảnh lịch sử xã hội nước ta những năm 1970 – để nêu bật đặc điểm sáng tác Nguyễn
Thành Long xây dựng sắc nét với những đặc điểm, suy nghĩ, hành động tích cực, một
mẫu người của một giai đoạn lịch sử có nhiều gian khổ hi sinh nhưng cũng thật trong
sáng, đẹp đẽ. Những trang viết của Nguyễn Thành Long khiến ta thêm yêu con người và
gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ
không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà
bước tới.”
(Theo Ngữ văn 9, tập 2, NXB GD, 2005, trang 117)
Các câu: - Đất nóng. - Vắng lặng đến phát sợ. Thuộc loại câu gì? Nhận xét giá trị
nội dung, nghệ thuật của đoạn văn. Chi tiết nào trong đoạn văn thể hiện tâm trạng hồi
hộp, lo sợ, căng thẳng cuả các cô gái thanh niên xung phong. Đề xuất luận điểm cho đoạn
văn trên và viết đoạn văn nghị luận (từ 8 đến 10 câu) từ luận điểm đã đề xuất.
3.2.4.3. Thảo luận nhóm.
Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp dụng với nhiều bài học, điều quan trọng
ta phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính phức hợp, có vấn đề,
cần huy động sự suy nghĩ của nhiều người.
- Làng– Kim Lân: GV tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm ở các nội dung: tình
huống truyện (Đó là tình huống gì? Tình huống này có tác động tới ai? Sự tác động ấy
đem đến hiệu quả gì? Tình huống ấy có quan hệ thế nào đến chủ đề tác phẩm?) có thể
thảo luận về các nhân vật trong truyện để rút ra các nhận định về nhân vật,…
- Lặng lẽ Sa Pa- Nguyễn Thành Long: : GV tổ chức cho học sinh thảo luận những
nét riêng của mỗi nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp chung gì của con người? HS nêu chủ đề tác
phẩm? Nêu suy nghĩ về lẽ sống của thanh niên hiện nay?
- Những ngôi sao xa xôi- Lê Minh Khuê : GV tổ chức cho HS thảo luận những điểm
chung của các nhân vật? Nêu cảm nhận của em về thế hệ trẻ VN thời kỳ chống Mỹ? HS
trình bày ý kiến của nhóm, tổ. GV chốt lại các ý chính xoáy vào chủ đề tác phẩm. Tư
tưởng chủ đạo của tác phẩm?
3.2.4.4 Phương pháp đóng vai
20
Tổ chức cho học sinh nhập một vai giả định để trình bày những suy nghĩ và cảm
nhận của mình, giúp các em suy nghĩ sâu sắc hơn.
hợp tác, sáng tạo, giúp năng lực thực hành tập làm văn được tốt hơn;
- Khả năng học tập của HS được nâng lên, học sinh đã bước đầu có được những
năng lực cần thiết mà môn học hướng tới.
Kết quả cụ thể chất lượng bộ môn Ngữ văn các lớp 9 khi đã áp dụng sáng kiến:
Học kì I năm học: 2014-2015
Giỏi: 28,0 %, Khá: 37,6 %, TB: 34,4 , Yếu: 0%,
Học kì I năm học: 2015-2016
Giỏi: 37,5 %, Khá: 34,7 %,
TB: 27,8 % Yếu: 0%, Kém: 0
Với kết quả trên có thể khẳng định việc áp dụng các giải pháp trên đã mang lại kết quả
tốt và mang tính bền vững./.
22
- Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu: Không có
- Tài liệu kèm theo: Không có
* DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
-
HS: Học sinh
GV: Giáo viên
SGK: Sách giáo khoa
23