sáng kiến một số biện pháp dạy tập làm văn lớp 3 theo hướng đổi mới - Pdf 45

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ………………………………………………
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3 theo hướng
đổi mới
2. Lĩnh vực áp dụng: Giáo dục tiểu học
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân
môn khác. Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản,
đó là bài nói, bài viết. Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng,
thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy, trao đổi tư tưởng, tình cảm,
quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống.
Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức
cần thiết. Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn lớp 3 nói rêng. Vấn đề đặt ra là:
người giáo viên dạy tập làm văn theo hướng đổi mới như thế nào để đáp ứng
được khả năng tiếp thu của học sinh? Cách thức tổ chức, tiến hành tiết dạy Tập
làm văn ra sao để đạt hiệu quả như mong muốn.
Qua thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là
phân môn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt. Do đặc trưng phân môn
Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả
năng trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể
chuyện, viết thư, tường thuật, kể lại bản tin, tập tổ chức cuộc họp giới thiệu về
mình và những người xung quanh.Trong quá trình tham gia vào các hoạt động
học tập này, học sinh với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói. Nếu
bắt buộc phải nói, các em thường đọc lại bài viết đã chuẩn bị trước. Do đó, giờ


dạy chưa đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu và



học sinh cách dùng từ, giọng kể, điệu bộ khi làm bài nghe, nói, viết; sử dụng
linh hoạt các hình thức hoạt động trong tiết dạy tập làm văn theo hướng đổi mới;
dạy học hướng tập trung vào học sinh và chú trọng hình thức dạy học cá nhân;
dạy học phối kết hợp các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Các bước thực hiện của giải pháp:
a) Luôn chú trọng “tích hợp lồng ghép” khi dạy phân môn tập làm
văn lớp 3
Khi dạy tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp kiến thức giữa
các phân môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện
từ và câu, Tập viết để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân môn
Tập làm văn. Mối quan hệ này thể hiện rất rõ trong cấu trúc của sách giáo khoa:
các bài học được biên soạn theo chủ đề, chủ điểm, hai đơn vị học xoay quanh
một chủ điểm ở tất cả các phân môn.
Ví dụ: Chủ đề Cộng đồng dạy trong 2 tuần gồm các bài Tập đọc, Luyện từ
và câu…Trong quá trình rèn đọc, khai thác nội dung các bài đọc cung cấp cho
học sinh vốn từ về chủ đề Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ đề
Cộng đồng. Cụ thể khi dạy bài tập đọc: Kể chuyện: Các em nhỏ và cụ già-Tuần
8, giáo viên khai thác nội dung bài theo hệ thống câu hỏi sau:
+ Điều gì gặp bên đường khiến các bạn nhỏ phải dừng lại?
(Các bạn gặp một cụ già đứng ven đường, vẻ mặt mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ
u sầu)
+ Các bạn quan tâm đến ông cụ như thế nào?
(Các bạn băn khoăn và trao đổi với nhau. Có bạn đoán: a) Hay ông cụ bị
ốm, b) Hay cụ bị mất cái gì đó. Cuối cùng cả tốp đến tận nơi để hỏi thăm ông
cụ)
+ Vì sao các bạn quan tâm đến ông cụ?
Với câu hỏi này có thể các em sẽ trả lời như sau:
Vì các bạn là những trẻ ngoan.

thể:
Bài 1: Sắp xếp những từ ngữ vào ô trống trong bảng phân loại sau
Các từ: Cộng đồng, cộng tác, đồng bào, đồng đội, đồng tâm, đồng hương
Giáo viên giúp các em hiểu nghĩa các từ trên và sắp xếp vào các nhóm từ:

4


Nhóm 1: Những người trong

Nhóm 2: Thái độ hoạt động

cộng đồng
trong cộng đồng
Cộng đồng, đồng bào, đồng đội, Cộng tác, đồng tâm
đồng hương
Từ việc hiểu nghĩa của từ ở bài tập 1, học sinh hiểu ý nghĩa các thành ngữ
ở bài tập 2 và bày tỏ thái độ tán thành hay không tán thành thái độ ứng xử trong
cộng đồng thể hiện trong các thành ngữ đó:
Chung lưng đấu cật. (Mọi người cùng chung sức chung lòng để thực hiện
một công việc có nhiều khó khăn trở ngại)
Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại.(Phê phán thái độ thờ ơ, không
quan tâm , tương trợ người khác lúc khó khăn)
Ăn ở như bát nước đầy. (Ca ngợi con người ăn ở , cư xử với mọi người có
tình có nghĩa , trước sau không thay đổi).
Như vậy học sinh biết vận dụng những câu thành ngữ về thái độ ứng xử
trong cộng đồng khi nói-viết tập làm văn giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống.
Ở phân môn Chính tả Tuần 8, các em cũng được luyện viết các bài trong
chủ đề Cộng đồng. Ví dụ: Viết đoạn 4 trong bài các em nhỏ và cụ già.
Cụ ngừng lại và nghẹn ngào nói tiếp:

ngày với thầy cô, cha mẹ, bạn bè và mọi người xung quanh.
Vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm này, giáo viên tạo cho
học sinh nhiều cơ hội thực hành, luyện tập, không quá nặng về lý thuyết như
phương pháp dạy học truyền thống. Do vậy học sinh hào hứng tham gia vào các
hoạt động học tập, tích cực, sáng tạo trong làm văn. Việc hình thành và rèn
luyện các kỹ năng nghe-nói-đọc-viết cho học sinh thông qua phân môn Tập làm
văn đảm bảo đạt được hiệu quả tối ưu.
Ví dụ: Giảng dạy dạng bài tập nghe và tập nói.
Nghe và kể lại câu chuyện “Giấu cày”- Tập làm văn-Tuần 15.
Qua việc kể mẫu của giáo viên, quan sát tranh, gợi ý sách giáo khoa…
học sinh kể nội dung câu chuyện như sau:
Có một người đang cày ruộng thì vợ gọi về ăn cơm. Bác ta liền hét to trả
lời: - Để tôi giấu cái cày vào bụi đã.
Về nhà bác ta liền bị vợ trách: - Ông giấu cày mà la to như thế, kẻ gian
biết chỗ, nó lấy mất cày thì sao.
6


Lát sau, cơm nước xong, bác ta ra ruộng, quả nhiên thấy cày bị mất. Bác
ta liền chạy một mạch về nhà, nói thầm vào tai vợ: “Nó lấy mất cày rồi!”
Qua giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (kể cho
nhau nghe), việc kể lại nội dung câu chuyện trước lớp giúp các em thấy được sự
phê phán hóm hỉnh, hài hước, và kể lại nội dung câu truyện với giọng kể, cử chỉ,
điệu bộ gây cười ở người nghe, nét mặt phù hợp, nâng kịch tính câu chuyện lên
cao hơn.
Song song với việc rèn luyện kỹ năng nghe-nói, học sinh rèn kỹ năng viết:
nắm kỹ thuật viết, luật viết câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh, đúng về ngữ pháp, bố
cục, phù hợp văn cảnh hoặc môi trường giao tiếp. Mỗi bài văn của học sinh
không đơn thuần là kể, tả ngắn về con người, sự vật, sự việc mà thông qua đó
thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, thái độ yêu-ghét, trân trọng hay phê

trong việc nghe, nói, viết, kể lại câu chuyện bằng lời văn của mình. Do vậy, giáo
viên cần tổ chức tốt hoạt động quan sát tranh: quan sát từng đường nét, màu sắc,
hình ảnh, nội dung thể hiện của tranh. Học sinh cảm nhân được được những nét
đẹp của cảnh vật, con người và muốn bày tỏ trao đổi với bạn, với thầy cô.
Để các em làm tốt hoạt động này, trước hết giáo viên chú ý cho học sinh
sử dụng gợi ý trong sách giáo khoa, lắng nghe cô kể, bạn kể để nhớ được các ý
chính của nội dung câu chuyện.
Giáo viên chú trọng về lời văn kể và nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Giáo
viên cần hướng dẫn các em cách chọn lựa, sử dụng từ ngữ, hình ảnh để điễn đạt
sao cho dễ hiểu, sinh động. Có như vậy người nghe, đọc sẽ dễ dàng hình dung,
tưởng tượng, nắm bắt được sự việc, suy nghĩ tình cảm mà các em muốn thể hiện
qua bài nói, bài viết. Người nghe, người đọc tuy không trực tiếp nhìn diện mạo
của nhân vật, xem bối cảnh của sự việc như xem phim, xem kịch nhưng vẫn thấy
được thế giới nội tâm của nhân vật, quá trình diễn biến của sự việc qua những
hình ảnh miêu tả, so sánh cùng với những tình cảm, thái độ, sự đánh giá của các
em. Đó chính là điểm mạnh của nghệ thuật sử dụng ngôn từ.
Ví dụ: Dạy Tập làm văn-Tuần 12.
Bài tập 2:
Yêu cầu: Học sinh viết đoạn văn qua quan sát tranh (ảnh) về một cảnh
đẹp ở nước ta.

8


Thông qua việc quan sát tranh (ảnh) về một cảnh đẹp ở nước ta, giúp học
sinh nắm nội dung của tranh (ảnh), thấy vẻ đẹp của tranh (ảnh), từ đó các em lựa
chọn từ ngữ thích hợp để nói và viết thành đoạn văn, giúp cho người nghe-đọc
tuy không quan sát tranh (ảnh) nhưng vẫn thấy được vẻ đẹp của danh lam thắng
cảnh mà học sinh nói đến.
Bài tập 2 tuần 12: Học sinh quan sát ảnh chụp cảnh biển Phan Thiết. HS

một thể loại văn nào đó dưới dạng nói hoặc viết. Tiết học diễn ra theo tiến trình:
giáo viên hướng dẫn làm bài dựa theo dàn bài thuộc thể loại chung, đưa các câu
hỏi gợi ý... khiến học sinh dễ nhàm chán, có cảm giác bị bắt buộc theo khuôn
mẫu, không khuyến khích học sinh nói, viết những cảm xúc, nhận xét, đánh giá,
sự miêu tả của chính các em.
Trong chương trình thay sách giáo khoa lớp 3, mỗi tiết Tập làm văn là
một hệ thống bài tập có tính định hướng, gợi mở, với nhiều dạng bài: nghe-nói,
nói-viết, nghe-nói-viết...Vì vậy, giáo viên vẫn bám sát mục đích, yêu cầu của tiết
dạy, bài dạy nhưng linh hoạt, chủ động hơn trong cách tổ chức các hoạt động
dạy-học, phân bố thời gian hợp lý, vừa tránh được những nhược điểm nêu trên
vừa tạo được không khí học tập phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học
sinh.
Ví dụ 1: Tiết tập làm văn (tuần11) với hệ thống bài tập như sau:
Bài 1: Nghe kể lại câu chuyện “Tôi có đọc đâu”.
Yêu cầu: Học sinh nghe và kể lại câu chuyện.
Giáo viên sử dụng các hình thức dạy học:
- Giáo viên kể mẫu nội dung câu chuyện;
- Thảo luận theo nhóm, theo cặp: học sinh dựa vào gợi ý, sách giáo khoa,
tranh và việc nghe giáo viên kể để kể lại nội dung câu chuyện cho nhau nghe;
- Đại diện từng nhóm kể trước lớp;
- Học sinh nhận xét;
- Giáo viên nhận xét, bổ sung.
Cách tổ chức các hình thức hoạt động nêu trên huy động được tất cả học
sinh tham gia vào hoạt động học tập, tạo được không khí thi đua học tập giữa
từng học sinh với nhau, và giữa các nhóm học sinh.
Bài 2: Nói về quê hương em hoặc nơi em đang ở.
Yêu cầu: Học sinh làm việc cá nhân với vở bài tập.
10



11


Dạy tập làm văn theo hướng tập trung vào học sinh không phải chỉ tìm ra
một câu trả lời có sẵn mà học sinh phải đưa ra được câu trả lời trên cơ sở suy
nghĩ và hiểu biết của chính các em. Quá trình tư duy đó đòi hỏi học sinh phải
vận dụng những vốn tri thức, hiểu biết phù hợp với vấn đề đặt ra trong câu hỏi;
phân tích, sắp xếp những tri thức đó, đưa ra những kết luận và chọn phương án
trả lời tốt nhất. Nói ngắn gọn lại: học sinh tìm ra câu trả lời qua việc thu thập,
sàng lọc thông tin và phân tích dữ kiện.
Ví dụ: Dạy Tập làm văn-Tuần 5.
Bài: Tập tổ chức một cuộc họp.
- Học sinh chọn nội dung cuộc họp cho phù hợp;
- Xác định đúng mục đích cuộc họp, nguyên nhân của cuộc họp;
- Nêu lên tình hình chung;
- Đưa ra cách giải quyết (nhiều thành viên trong tổ, lớp được bày tỏ ý
kiến);
- Người điều hành cuộc họp thống nhất ý kiến, thống phất phương án giải
quyết vấn đề, giao việc cho từng thành viên.
Các em tự lựa chọn nội dung cuộc họp tức là các em nói về vấn đề mình
am hiểu nhất, phù hợp yêu cầu bài. Từ việc hiểu biết đó các em bàn cụ thể chi
tiết có cách giải quyết thoả đáng, giúp cho người điều hành có ý kiến tập trung
sâu sắc.
Từ nhận xét, bày tỏ ý kiến của học sinh, giáo viên định hướng, hướng dẫn
học sinh hình thức tổ chức: Người tổ chức cuộc họp, các thành viên trong tổ bất
kỳ ai cũng có thể là người điều hành và cũng là thành viên. Vì vậy khả năng
diễn đạt mỗi học sinh được điều chỉnh hoàn thiện dần.
Như vậy thông qua một tiết Tập làm văn đã phát huy tính độc lập sáng tạo
của học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, định hướng cho học sinh cách làm bài.
e) Dạy học phối kết hợp các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Từ những kết quả nêu trên, tôi rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
- Dạy Tập làm văn theo phương pháp “tích hợp, lồng ghép” các phân môn
trong môn Tiếng Việt. Biết kết hợp mối quan hệ chặt chẽ về yêu cầu kiến thức
phân môn Tập làm văn của các khối lớp;

13


- Chú trọng phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp, rèn kỹ năng
nghe-nói-đọc-viết cho học sinh;
- Giáo viên biết tổ chức tốt cho học sinh cách quan sát tranh, cách dùng
từ, giọng kể, lời nhân vật, nói viết thành câu;
Động viên khuyến khích học sinh tự học, học theo phương pháp tự tìm
tòi. Giáo viên tổ chức, phối hợp linh hoạt các hình thức và phương pháp dạy học
theo hướng đổi mới. Dạy học hướng tập trung vào học sinh, coi học sinh là chủ
thể của hoạt động, tổ chức các hoạt động giúp các em chiếm lĩnh tri thức và rút
ra kết luận phù hợp với bài học;
- Giáo viên biết cách phối hợp hoạt động học tập với các hoạt động ngoài
giờ lên lớp./.
Bến Tre ngày 10 tháng 4 năm 2016

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status