ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------
ĐÀO THỊ MỸ LY
TÊN CHUYÊN ĐỀ:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI
NUÔI TẠI TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH - BA VÌ - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Chăn nuôi Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khoá học
: 2013 – 2017
Thái Nguyên - năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Giảng viên hƣớng dẫn : TS. Đỗ Quốc Tuấn
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành khóa luận của mình, tôi
đã nhận đƣợc sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hƣớng dẫn, sự giúp đỡ của các
thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y và trại lợn nái Nguyễn Thanh Lịch - Ba
Vì - Hà Nội.
Tôi cũng nhận đƣợc sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự
giúp đỡ, cổ vũ động viên của ngƣời thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.
Đỗ Quốc Tuấn đã rất tận tình và trực tiếp hƣớng dẫn tôi thực hiện thành công
khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trƣờng Đại học Nông Lâm đã tạo điều
kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận.
Qua đây tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cấp ủy, chính quyền
xã Ba Trại - Ba Vì - Hà Nội, chủ trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch - Ba Vì Hà Nội và các cán bộ kỹ thuật của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam đã
tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 06 năm 2017
Sinh viên
Đào Thị Mỹ Ly
ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Gam
Kg
:
Kilogam
KL
:
Khối lƣợng
Nxb
:
Nhà xuất bản
STT
:
Số thứ tự
iv
v
4.2. Kết quả thực hiện đề tài ........................................................................... 40
4.2.1. Một số đặc điểm sinh lý, sinh dục của đàn lợn nái ngoại CP909 ......... 40
4.2.2. Khả năng sinh sản của lợn nái ngoại CP909........................................ 43
4.2.3. Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác của lợn nái ngoại CP909 ................ 51
4.2.4. Hiệu quả kinh tế của một lợn nái sinh sản/năm ................................... 52
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ................................................................ 55
5.1. Kết luận .................................................................................................... 55
5.1.1. Chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái ngoại CP909 ............................... 55
5.1.2. Khả năng sinh sản của lợn nái ngoại CP909 ......................................... 55
5.1.3. Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác của lợn nái ngoại CP909 ................ 55
5.1.4. Hiệu quả kinh tế của một lợn nái sinh sản/năm .................................... 56
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 57
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia
súc ở các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc ta, vì đó là một nguồn cung cấp
thực phẩm với tỷ trọng cao cho con ngƣời, là nguồn cung cấp phân bón rất
lớn cho cây trồng và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ nhƣ da,mỡ… cho
ngành công nghiệp chế biến.
Việt nam là một trong những nƣớc nuôi nhiều lợn. Theo số liệu thống
Nội”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu của chuyên đề
- Đánh giá đƣợc khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại
Nguyễn Thanh Lịch - Ba Vì - Hà Nội.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản tại trại
Nguyễn Thanh Lịch - Ba Vì - Hà Nội.
1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề
- Sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm
trong việc chăn nuôi lợn nái sinh sản trong các cơ sở sản suất. Từ đó tự nâng
cao, củng cố kiến thức bản thân.
- Hoàn thành tốt công việc đƣợc phân công, nghiêm chỉnh chấp
hành nội quy sản xuất - kinh doanh, kỷ luật lao động, an toàn lao động
của trang trại.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Lịch sử
Huyện Ba Vì đƣợc thành lập ngày 26/7/1968 trên cơ sở hợp nhất các
huyện cũ Bất Bạt, Tùng Thiện và Quảng Oai của tỉnh Hà Tây. Thời kỳ 1975 1978 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Từ năm 1978 đến năm 1991 thuộc thành phố
Hà Nội. Từ năm 1991 đến năm 2008 thuộc Hà Tây. Từ 1/8/2008, Ba Vì là
một huyện của Hà Nội.
Vị trí địa lý
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc của thành
thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đƣa tới giống
lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật.
Hiện nay trang trại do ông Nguyễn Thanh Lịch làm chủ trại, cán bộ kỹ
thuật của công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt
động của trang trại. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi chăn nuôi, đều
đƣợc khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm thúc
đẩy sự phát triển của trang trại.
Đội ngũ cán bộ kỹ thật, công nhân gồm 30 ngƣời. Trong đó:
1 quản lý trại
1 công nhân nấu ăn nhà bếp
2 kỹ thuật trại: kỹ sƣ chuồng đẻ và kỹ sƣ chuồng bầu
2 tổ trƣởng: tổ trƣởng chuồng đẻ và tổ trƣởng chuồng
6 công nhân chịu trách nhiệm công việc chuồng bầu
13 công nhân chịu trách nhiệm công việc chuồng đẻ
1 công nhân chịu trách nhiệm công việc chuồng cách li
5
4 công nhân trực đêm
Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn nái Nguyễn Thanh Lịch nằm ở khu vực giáp đồi núi thuộc xã
Ba Trại, cách khu dân cƣ 0,5km với diện tích là 2 hecta.
Trại gồm 3 khu: khu hành chính, khu chăn nuôi, khu xử lý nƣớc thải
Khu hành chính
- Trại chỉ có 1 cổng chung duy nhất cho mọi ngƣời và xe ra vào, trƣớc
cổng có lắp đặt hệ thống phun sát trùng.
- Trong khu hành chính có đầy đủ: phòng họp của trại, nhà sát trùng
thay đồ khách, nhà ăn nhà bếp, nhà ở, nơi sinh hoạt cho cán bộ kỹ thật và
công nhân ở trại.
Đƣợc Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống,
thức ăn, thuốc thú y có chất lƣợng tốt.
Trang trại có vị trí thuận lợi, địa hình, đƣờng đi khá thuận tiện cho việc
vận chuyển con giống cũng nhƣ thức ăn chăn nuôi.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt đƣợc tình hình xã hội, luôn quan
tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân
nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Do đó đã
mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
Khó khăn:
Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu, do đó ảnh hƣởng đến tiến độ
công việc.
Thời tiết diễn biến phức tạp cho nên chƣa tạo đƣợc vành đai phòng dịch
triệt để.
7
Trang thiết bị vật tƣ, hệ thống chăn nuôi còn thiếu, sử dụng lâu nên hƣ
hỏng nhiều, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất.
2.1.2. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
Trang trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch là một trong những trang trại
có quy mô lớn của Ba Vì - Hà Nội. Với số vốn đầu tƣ lớn, áp dụng khoa học
kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao. Dƣới đây là
một số kết quả mà trại đã đạt đƣợc trong 3 năm gần đây:
Bảng 2.1: Số lƣợng và cơ cấu đàn lợn của trại
STT
Số lƣợng lợn của các năm (con)
340
360
23,23
3
Đực khai thác
22
21
19
1,22
4
Đực hậu bị
3
4
4
0,26
Giống lợn Yorkshire đƣợc hình thành ở vùng Yorkshire của nƣớc Anh.
- Đặc điểm ngoại hình:
Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (cũng có một số con đốm đen),
đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm dài mình hơi cong, bụng gọn chân dài chắc chắn,
có 12 - 14 vú.
- Khả năng sản xuất:
+ Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trƣởng phát dục nhanh, khối lƣợng khi
trƣởng thành lên tới 300kg (con đực), 250kg (con cái).
+ Lợn Yorkshire có mức tăng khối lƣợng bình quân 700kg/con/ngày,
tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lƣợng tỷ lệ nạc 56%.
+ Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lƣợng
sơ sinh trung bình 1,2 kg/con.
Giống lợn Landrace
- Nguồn gốc: Giống lớn này đƣợc tạo ra ở Đan Mạch (1895).
- Đặc điểm ngoại hình:
Lợn Landrace có hình nêm (còn gọi là hình tên lửa), màu lông trắng
tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xƣơng sƣờn, đầu dài hơi hẹp, tai rũ xuống
che cả mặt, bốn chân hơi yếu, lƣng vồng lên, mặt lƣng bằng phẳng, mông
phát triển, tròn. Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú, là giống lợn hƣớng nạc.
- Khả năng sản xuất:
+ Lợn có năng suất cao, sinh trƣởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng
khối lƣợng, tăng khối lƣợng bình quân 750g/con/ngày, tỷ lệ nạc 59%. Khối
lƣợng lợn trƣởng thành có thể lên tới 320kg ở con đực và 250kg ở con cái.
+ Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo. Đây là
giống lợn chuyên hƣớng nạc và đƣợc dùng để lai kinh tế.
Lợn CP909 (♂CP51 × ♀CP40)
9
Ống dẫn trứng dài 15 - 20cm, uốn khúc nằm ở cạnh trƣớc dây chằng
rộng. Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và đƣợc
chia làm 2 phần: Phần trƣớc tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn)
có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đƣờng kính dài
0,2 - 0,3cm nối với sừng tử cung. Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào
trong gồm có: Màng tƣơng mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: Cơ
vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp
chạy dọc và không có tuyến.
Tử cung (Uterus):
Tử cung là nơi cung cấp dinh dƣỡng và phát triển của thai. Tử cung
nằm trong xoang chậu, dƣới trực tràng, trên bóng đái. Tử cung gồm 3 phần:
Sừng, thân, cổ tử cung. Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo nhƣ ruột non, dài 30 50cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra
ngoài đƣợc. Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp
nếp nhăn nheo theo chiều dọc. Thai làm tổ ở sừng tử cung.
Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài
răng lƣợc với nhau. Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tƣơng mạc
đƣợc nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức
tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ, cơ dọc ở
ngoài, cơ vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp
niêm mạc trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết
chất nhờn.
2.2.1.3. Một số chỉ tiêu về sinh lý, sinh dục của lợn nái ngoại
Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, dƣới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt
11
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hƣởng rõ rệt tới
tuổi động dục. Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu Đông, điều đó có thể do ảnh hƣởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền
với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức.
+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một
số nhân tố khác nhƣ: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu
của con đực.
Sự thành thục về thể vóc:
Sự thành thục về thể vóc thƣờng diễn ra chậm hơn sự thành thục về
tính. Sau một thời kỳ sinh trƣởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định
con vật đạt tới mức độ trƣởng thành về thể vóc. Có nghĩa là cơ thể tƣơng đối
hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận nhƣ não đã phát triển khá
hoàn thiện, xƣơng đã cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định… Nói một cách
khác, khi gia súc đã thành thục về tính thì sự sinh trƣởng, phát triển của cơ thể
vẫn còn tiếp tục đến độ trƣởng thành. Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn
nuôi, không nên sử dụng gia súc vào mục đích sinh sản quá sớm vì:
Đối với gia súc cái nếu phối giống sớm khi cơ thể chƣa trƣởng thành về
thể vóc sẽ ảnh hƣởng xấu nhƣ: Trong thời gian chửa có sự phân tán dinh
dƣỡng, ƣu tiên cho phát triển bào thai, do vậy, nhu cầu dinh dƣỡng cho sự
sinh trƣởng và phát triển cho bào thai cũng bị ảnh hƣởng. Kết quả: mẹ yếu,
con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ cũng giảm xuống. Hơn nữa, do xoang
chậu chƣa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp, làm cho con vật đẻ khó (Hoàng
Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [15].
Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng.
Tuổi động dục lần đầu:
13
Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần đầu tiên. Tuổi động dục
động dục của lợn nái: Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích
thích bên ngoài nhƣ ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và
các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng
dƣới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có
tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh
chóng. Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục,thƣợng bì bao noãn
tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện
động dục ra bên ngoài.
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [15] chu kỳ động dục của
gia súc đƣợc chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn trƣớc động dục:
Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh. Hệ thống
mạch quản trong dạ con phát triển. Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dƣới
tác dụng của hormone estrogen. Thay đổi của đƣờng sinh dục: Tử cung, âm
đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết.
Giai đoạn động dục:
Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng. Bao noãn tiết
nhiều estrogen và đạt cực đại. Các thay đổi ở đƣờng sinh dục cái càng sâu sắc
hơn, để chuẩn bị đón trứng. Biểu hiện của con vật: Hƣng phấn về tính dục,
đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lƣng con
khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực.
Âm hộ ƣớt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ
đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn. Cuối giai đoạn này thì trứng rụng.
Giai đoạn sau động dục:
Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự
co bóp của đƣờng sinh dục. Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến
15
chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu, thời
gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau.
Qua nghiên cứu của Harmond (1994) (trích theo Đỗ Thị Thoa, 1998)
[19] cho thấy các chỉ tiêu quan trọng với lợn nái sinh sản gồm: Tuổi đẻ lứa
đầu, số con đẻ ra còn sống/ổ, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa. Kết quả
đó cũng cho thấy số con cai sữa/nái/năm của lợn Large White là 21,2 con và
của lợn Landrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17,9 con.
Ở Việt Nam vào những giai đoạn khác nhau, đã có những tiêu chuẩn
khác nhau để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái nhƣ: Số con đẻ ra còn
sống/lứa, khối lƣợng cai sữa/lứa, tuổi đẻ lứa đầu với nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng
cách giữa 2 lứa đẻ với lợn đẻ từ lứa thứ 2 trở đi. Trong điều kiện chăn nuôi
hiện nay dù là chăn nuôi lợn nái ở bất cứ khu vực nào thì thời gian cho con bú
của lợn nái cũng thấp hơn 60 ngày, thậm chí có những trang trại chăn nuôi với
quy mô trung bình và nhỏ cũng đã thực hiện đƣợc việc tách con vào 21 ngày
tuổi. Đó cũng là một giải pháp góp phần tăng năng suất sinh sản của lợn nái.
Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [21], khả năng sản xuất của lợn nái chủ
yếu đƣợc đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm. Từ đó cho
thấy số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số
lứa đẻ/nái/năm.
Ngoài các chỉ tiêu quan trọng trên thì chỉ tiêu về số con đẻ ra còn sống
cũng là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan tro ̣ng trong chăn nuôi l ợn nái. Chỉ tiêu
này đƣợc tính cho số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng,
không tính những con có khối lƣợng dƣới 0,2 kg đối với lợn nội; 0,5 kg đối
với lợn lai và lợn ngoại. Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít con
của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh
nhân tạo và chất lƣợng tinh dịch của lợn đực giống.
Các chỉ tiêu về số lƣợng đàn con của nái ngoại CP909.
17
18
quá trình chăn nuôi lợn nái. Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn
nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng, vệ sinh thú y, phòng chống dịch
bệnh. Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn cái nuôi con,
kỹ thuật nuôi dƣỡng lợn con theo mẹ cũng nhƣ khả năng tiết sữa của lợn mẹ
và sức đề kháng và khả năng phòng chống bệnh của lợn con (Vũ Đình Tôn ,
Võ Trọng Thành, 2006) [20].
Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để nuôi. Ngƣời ta có
thể tiêu chuẩn hoá số con để nuôi/lứa là từ 8 - 10 con. Nếu số con nhiều hoặc
ít khi đẻ. Đơn giản nhất là chuyển lợn từ ổ đông con sang ổ ít hơn 8 con, cần
ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi. Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số con nuôi
sống/ổ, khối lƣợng toàn ổ kể cả những con nuôi ghép. Việc “chuẩn hoá” số
con cho mỗi nái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản.
Số lƣợng lợn con/ổ có ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản của chính các con đó
sau này. Những lợn nái từng đƣợc nuôi trong ổ đông con sau này sẽ đẻ ra
những con cái nhẹ cân hơn, ảnh hƣởng này có ý nghĩa kinh tế lớn hơn các ổ
đẻ trên 10 con. Việc tiêu chuẩn hoá số con đẻ ra/ổ là 8 - 10 con sẽ giảm bớt
ảnh hƣởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định giá trị giống chính xác hơn, vì
sau khi đƣợc chuẩn hoá và đƣợc nuôi dƣỡng trong cùng một môi trƣờng nên
khả năng làm mẹ, tiết sữa nuôi con của lợn nái đƣợc đánh giá chính xác hơn
qua khối lƣợng của lợn con lúc 21 ngày tuổi.
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%):
Số lợn con cai sữa/nái/năm:
Là chỉ tiêu tổng quát nhất để đánh giá năng suất chăn nuôi lợn nái. Chỉ
tiêu này chịu ảnh hƣởng rất nhiều vào thời gian nuôi con và số ngày bị hao
hụt (thời gian chờ phối, mang thai, sảy thai, chết thai...). Trƣớc kia ở Việt
Nam thời gian lơ ̣n nái nuôi con trung bình 60 ngày, hiện nay tuỳ điều kiện cụ
thể số ngày cho con bú đã rút ngắn còn từ 21 - 45 ngày. Thực tế nên cai sữa