BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
ðÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA ðÀN GÀ
LOHMANN MEAT BỐ MẸ VÀ THƯƠNG PHẨM NUÔI TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN JAPFA COMFEED VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2013
Tôi xin cam ñoan các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là công
trình nghiên cứu của tôi. Số liệu và kết quả hoàn toàn trung thực, chưa từng ñược
ai công bố, sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược
cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ivMỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC ðỒ THỊ viii
MỞ ðẦU 1
1. ðặt vấn ñề 1
2. Mục tiêu của ñề tài 2
3. Ý nghĩa của ñề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng 3
1.1.1. Khái niệm về sinh trưởng 3
1.1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng ñến sinh trưởng của gia cầm 4
1.1.3. Các chỉ tiêu ñánh giá sự sinh trưởng 10
1.2. Khả năng sinh sản của gia cầm 11
1.2.1. Tuổi thành thục sinh dục 11
1.2.2. Sức sản xuất trứng của gia cầm 12
1.3. Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở 19
1.3.1. Khả năng thụ tinh 19
1.3.2. Tỷ lệ ấp nở 21
1.4. Cơ sở về tiêu tốn thức ăn 23
1.5. Hiệu quả sử dụng thức ăn 25
1.6. Tỷ lệ nuôi sống 25
3.2. Kết quả nghiên cứu trên ñàn gà thương phẩm 65
3.2.1. Khối lượng cơ thể 65
3.2.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà Lohmann Meat thương phẩm 69
3.2.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn 70
3.2.4. Khảo sát tỷ lệ thân thịt 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1. Kết luận 74
2. Kiến nghị 75
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CS
Cộng sự
HQSDTA
Hiệu quả sử dụng thức ăn
LTATN
Lượng thức ăn thu nhận
TB
Trung bình
TTTA
Tiêu tốn thức ăn
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
Bảng 3.6. Tỷ lệ ñẻ và năng suất trứng 55
Bảng 3.7. Tỷ lệ trứng giống và năng suất trứng giống 58
Bảng 3.8. Kết quả ấp nở 60
Bảng 3.9. Hiệu quả sử dụng thức ăn trong giai ñoạn ñẻ trứng 62
Bảng 3.10. Tỷ lệ nuôi sống, loại thải và hao hụt từ 24 - 46 tuần tuổi (%) 64
Bảng 3.11. Khối lượng cơ thể gà qua các tuần tuổi (n = 150) 66
Bảng 3.12. Sinh trưởng tuyệt ñối và tương ñối của gà thương phẩm 67
Bảng 3.13. Tỷ lệ nuôi sống của gà Lohmann Meat thương phẩm 70
Bảng 3.14. Hiệu quả sử dụng thức ăn của ñàn gà thương phẩm 71
Bảng 3.15. Kết quả mổ khảo sát gà thương phẩm ở 7 tuần tuổi 72
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
viii
DANH MỤC ðỒ THỊ
ðồ thị 3.1. Khối lượng ñàn gà Lohmann Meat bố mẹ từ 1 - 23 tuần tuổi 43
ðồ thị 3.2. Tỷ lệ ñẻ của ñàn gà Lohmann Meat bố mẹ 56
ðồ thị 3.3. Năng suất trứng của ñàn gà Lohmann Meat bố mẹ 56
ðồ thị 3.4. Mối quan hệ giữa tỷ lệ ñẻ và HQSDTA 63
ðồ thị 3.5. Khối lượng gà qua các tuần tuổi 66
quan trọng trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, số lượng ñàn gia cầm của nước ta
trong năm 2004 là 218,15 triệu con. Năm 2005, ñàn gia cầm trong nước ñã tăng
lên 219,91 triệu con; song năm 2006 lại giảm xuống 214,56 triệu con. Nguyên
nhân của sự phát triển không ổn ñịnh này là do dịch cúm gia cầm. Năm 2007, số
lượng ñàn gia cầm trong nước ñã tăng lên 226,03 triệu con và 253,51 triệu con,
trong ñó có 179,12 triệu con gà (năm 2008) và ngày 01/10/2010 tổng ñàn gia
cầm có khoảng 295,8 triệu con, tăng 5,6 % so với năm 2009 (trích theo Nguyễn
Thị Mai và CS, 2009).
Sản lượng thịt gà năm 2004 là 316,41 nghìn tấn. Từ năm 2005 ñến 2008,
sản lượng thịt không ngừng tăng lên. Sản lượng thịt trong năm 2005 là 321,89
nghìn tấn ñã tăng lên 344,41 nghìn tấn (năm 2006); 358,76 nghìn tấn (năm 2007);
417,09 nghìn tấn (năm 2008). ðến ngày 01/10/2010 sản lượng thịt ñạt 590 nghìn
tấn, tăng 13% so với năm 2009.
Sản lượng trứng là 3,94 tỷ quả năm 2004 và năm 2005 là 3,95 tỷ quả.
Năm 2006 sản lượng trứng ñã tăng lên 3,97 tỷ quả; 4,16 tỷ quả (năm 2007) và
tăng lên 4,94 tỷ quả năm 2008.
Tuy nhiên, hiện nay chăn nuôi gia cầm ở nước ta vẫn chủ yếu nuôi theo
hình thức chăn nuôi hộ gia ñình. Nên sản phẩm gia cầm không ñủ cung cấp cho
nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Một lượng lớn sản phẩm gia cầm không
rõ nguồn gốc thường xuyên ñược nhập lậu vào Việt Nam, mang theo dịch bệnh,
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2
không ñảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng ñến sức khỏe của người
tiêu dùng.
Trước thực trạng ñó, có nhiều Công ty, Xí nghiệp ñã nhập các giống gà bố
mẹ hướng thịt có năng suất cao và chất lượng tốt về nuôi thích nghi và ñưa vào
sản xuất như: Ross, Isa, Hubbard - Classic Nhằm làm phong phú thêm giống gà
công nghiệp hướng thịt và ñáp ứng nhu cầu về con giống của người chăn nuôi,
dịch thể tế bào (Widdowson, 1980) (trích theo Campbell John và Lasey, 1969).
Về mặt sinh hóa, sinh trưởng ñược xem là quá trình tổng hợp protein. Vì thế, khi
ñánh giá quá trình sinh trưởng người ta thường dựa vào khối lượng cơ thể. Tuy
nhiên, khối lượng có thể tăng lên là do tích lũy nước, tích lũy mỡ mà không có sự
phát triển của mô cơ.
Theo Nguyễn Thị Mai và CS (2009), tốc ñộ sinh trưởng thể hiện qua mức
tăng khối lượng bình quân hàng ngày (tăng khối lượng tuyệt ñối), tỷ lệ tăng khối
lượng so với khối lượng ban ñầu (tăng khối lượng tương ñối).
Sự sinh trưởng của gia cầm sau nở ñược chia làm hai thời kỳ:
* Thời kỳ gà con:
Trong thời kỳ này, tế bào tăng nhanh cả về số lượng, kích thước và khối
lượng nên gia cầm có tốc ñộ sinh trưởng nhanh với cường ñộ mạnh. Một số cơ
quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh, ñặc biệt là hệ tiêu hoá. Các men tiêu
hoá chưa ñầy ñủ, gà con dễ bị ảnh hưởng của thức ăn và nuôi dưỡng. Do ñó, chất
lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng ở thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn tới tốc ñộ
sinh trưởng của gia cầm. Gà con rất nhậy cảm với sự thay ñổi của ñiều kiện nuôi
dưỡng, ñặc biệt là nhiệt ñộ. Trong những ngày ñầu, nhiệt ñộ ảnh hưởng rất lớn
ñến tốc ñộ sinh trưởng của gà con, do thân nhiệt chưa ổn ñịnh. Trong thời kỳ này
cũng diễn ra quá trình thay lông. ðây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm,
làm tăng quá trình trao ñổi chất, quá trình tiêu hoá, hấp thu, tuần hoàn, do ñó cần
chú ý tới hàm lượng các chất dinh dưỡng ñặc biệt là các axít amin hạn chế như:
lyzin, methionin và tryptophan.
* Thời kỳ gà trưởng thành:
Thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể gia cầm gần như ñã phát triển hoàn
thiện. Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát dục. Quá trình tích
luỹ của gia cầm một phần ñể duy trì sự sống và một phần ñể tích luỹ mỡ, tốc ñộ
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
sinh trưởng chậm hơn thời kỳ gà con. Vì vậy, giai ñoạn này cần xác ñịnh thời
5
Theo Kushner (1969) (trích từ Nguyễn Ân và CS, 1978), hệ số di truyền
khối lượng sống của gà 1 tháng tuổi là 33%; 2 tháng tuổi là 46%; 3 tháng tuổi là
43%.
Theo Chambers (1990), có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và
phát triển của cơ thể gia cầm. Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen
ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ.
* Ảnh hưởng của tính biệt:
Do có sự khác nhau về ñặc ñiểm và chức năng sinh lý nên quá trình sinh
trưởng và phát triển ở gà trống và gà mái không giống nhau.
Theo Bùi ðức Lũng (1992), khối lượng cơ thể gà broiler trống và mái
V135 khác nhau ngay từ lúc một ngày tuổi và sự khác biệt này thể hiện rõ hơn
qua các tuần tuổi.
Trần ðình Miên và CS (1994) cho biết lúc mới nở gà trống nặng hơn gà
mái 1%, tuổi càng tăng sự sai khác càng lớn. Ở 2 tuần tuổi sự sai khác về khối
lượng giữa gà trống và gà mái là hơn 5%, 3 tuần tuổi 11% và 8 tuần tuổi hơn 27%.
Godfrey và Joap (1952) cho rằng: kiểu di truyền về khối lượng cơ thể do 15 cặp
gen quy ñịnh, trong ñó ít nhất có một cặp gen liên kết giới tính (nằm trên nhiễm
sắc thể X), dẫn ñến sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa gà trống và gà mái.
Trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái từ 24 - 32%. Ở gà trống gen
này hoạt ñộng mạnh hơn, do gà trống có hai nhiễm sắc thể giới tính, còn gà mái
có một.
* Ảnh hưởng của chế ñộ dinh dưỡng:
Chế ñộ dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều tới tốc ñộ sinh trưởng của gia cầm.
Vì vậy, phải cung cấp ñủ chất dinh dưỡng nếu không sẽ làm giảm khả năng sinh
trưởng và khả năng sản xuất, ñồng thời không phát huy hết tiềm năng của giống.
Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng ñến sự phát triển của các tổ chức trong cơ
thể như: hệ thần kinh, cơ quan sinh sản, xương, cơ, mô, mỡ…mà còn ảnh hưởng tới
sự liên hệ của mô này tới mô khác. Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sinh
tích luỹ mỡ và có hàm lượng axit uric trong máu tăng.
Cũng như protein, năng lượng ñược sử dụng cho duy trì và sản xuất. Khi
năng lượng trong khẩu phần thấp, gà ăn nhiều hơn song hiệu quả sử dụng thức ăn lại
kém hơn.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7
* Ảnh hưởng của mật ñộ nuôi:
Ngoài các yếu tố khí hậu (nhiệt ñộ, ẩm ñộ, ánh sáng…) ảnh hưởng lớn ñến
hiệu quả chăn nuôi, mật ñộ nuôi cũng là một vấn ñề nhạy cảm. Mật ñộ nuôi thấp
gây lãng phí lao ñộng, lãng phí chuồng trại và làm giảm hiệu quả kinh tế chăn
nuôi; mật ñộ nuôi cao không hợp lý sẽ làm ảnh hưởng tới tiểu khí hậu chuồng
nuôi. Mật ñộ nuôi ảnh hưởng ñến nhiều vấn ñề trong chuồng nuôi. Có thể kể ñến
một số vấn ñề sau ñây:
Mật ñộ nuôi ảnh hưởng tới lượng khí ñộc sinh ra trong chuồng nuôi. ðây
là các loại khí sinh ra từ sự phân hủy phân, nước tiểu, nước thải, thức ăn thừa ,
như NH3, CO2, H
2
S, CH4 Khi NH3 vào cơ thể sẽ làm lượng kiềm dự trữ trong
máu tăng, gia cầm có thể bị trúng ñộc kiềm. Theo ðỗ Ngọc Hòe (1995), khi hàm
lượng NH3 trong chuồng là 25ppm sẽ làm lượng hemoglobin trong máu, sự trao
ñổi khí, sự hấp thu dinh dưỡng ñều giảm và sinh trưởng tuyệt ñối cũng giảm tới
4%. Cùng với NH3, H
2
S cũng là khí ñộc ảnh hưởng tới sinh trưởng. H
2
S kết hợp
với Na trong dịch niêm mạc ñường hô hấp tạo thành Na
2
* Ảnh hưởng của môi trường:
Ngoài các yếu tố kể trên ra, những yếu tố môi trường như: Nhiệt ñộ, ẩm
ñộ, ánh sáng, sự thông thoáng,…
- Ảnh hưởng của nhiệt ñộ:
Gà con giai ñoạn sơ sinh - 30 ngày tuổi, do cơ quan ñiều khiển nhiệt chưa
hoàn chỉnh, nên yêu cầu về nhiệt ñộ tương ñối cao. Nếu nhiệt ñộ không phù hợp
(quá thấp), gà con tụ ñống không sử dụng thức ăn, sinh trưởng kém, hoặc chết
hàng loạt do dẫm ñạp lên nhau. Ở giai ñoạn sau, nếu nhiệt ñộ quá cao sẽ hạn chế
việc sử dụng thức ăn, gà uống nước nhiều, bài tiết phân lỏng hạn chế khả năng
sinh trưởng và dễ mắc các bệnh ñường tiêu hóa.
Theo Bùi ðức Lũng và Lê Hồng Mận (1995), khi nuôi gà broiler trong vụ
hè cần phải tăng mức năng lượng và protein cao hơn vụ ñông 10 - 15%. Salah và
Mail (1946) cho biết nhiệt ñộ trong ngày ñầu tiên nên từ 28
0
C - 35
0
C, sau ñó
giảm dần xuống 21
0
C. Kết quả thí nghiệm cho thấy gà broiler 4 - 8 tuần tuổi tăng
khối lượng 1.225g ở 21
0
C nhưng chỉ ñạt 1.087g ở 26
0
C. Theo các tác giả, sự
giảm tăng khối lượng này chủ yếu do giảm lượng thức ăn thu nhận. Bùi ðức
Lũng (1992) cho biết tiêu chuẩn nhiệt ñộ trong chuồng nuôi là 18 - 20
0
C sau 4
tuần tuổi.
NH
3
= 0,35g/m
3
.
- Ảnh hưởng của ánh sáng:
Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, ñặc biệt là giai ñoạn gà con và giai
ñoạn gà ñẻ, nên chế ñộ chiếu sáng là vấn ñề cần ñược quan tâm. Thời gian và
cường ñộ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo ñiều kiện thuận lợi cho gà ăn, uống, vận
ñộng ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng.
Theo Bùi ðức Lũng và Lê Hồng Mận (1995), gà broiler cần ñược chiếu
sáng 23 giờ/ngày khi nuôi trong nhà kín (môi trường nhân tạo), kết quả thí
nghiệm 1 - 2 giờ chiếu sáng sau ñó 2 - 4 giờ không chiếu sáng cho kết quả tốt gà
lớn nhanh, chi phí thức ăn giảm.
Arbor Acres (1995) khuyến cáo: với gà broiler giết thịt sớm 38 - 42 ngày
tuổi, từ 1 ngày tuổi ñến 3 ngày tuổi chiếu sáng 24/24 giờ cường ñộ chiếu sáng 20
lux. Từ ngày thứ 4 trở ñi thời gian chiếu sáng 23/24 giờ, cường ñộ 5 lux. Với gà
broiler nuôi dài ngày 49 - 56 ngày, thời gian chiếu sáng ngày thứ 1 là 24 giờ;
ngày thứ 2 là 20 giờ; ngày thứ 3 ñến ngày thứ 15 là 12 giờ; ngày thứ 16 - 18 là 14
giờ; ngày 19 - 22 là 16 giờ; ngày 23 - 24 là 18 giờ; và ngày 25 ñến kết thúc là 24
giờ; cường ñộ chiếu sáng ở ngày ñầu 20 lux, những ngày sau là 5 lux.
- Ảnh hưởng của sự thông thoáng:
Sự thông thoáng cũng có vai trò rất quan trọng ñối với sinh trưởng của gà.
Nó giúp cho gà có ñủ O
2
ñể thở, thải khí CO
2
và các chất ñộc khác, ñiều hoà ẩm
ñộ chuồng nuôi, và qua ñó hạn chế bệnh tật. ðối với gà lớn, cần tốc ñộ lưu thông
không khí cao hơn gà nhỏ. Theo ðỗ Ngọc Hoè (1995), việc cải tạo khí hậu bằng
* Sinh trưởng tương ñối:
Sinh trưởng tương ñối: là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng,
kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc ñầu khảo sát
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11
(T.C.V.N 2.40, 1997), ñơn vị tính là %. ðồ thị sinh trưởng tương ñối có dạng
hypepol. Gà con có tốc ñộ sinh trưởng tương ñối cao, sau ñó giảm dần theo ñộ
tuổi. Gà broiler thường có tốc ñộ sinh trưởng tương ñối tăng từ tuần tuổi ñầu ñến
tuần tuổi thứ 3, sau ñó giảm dần qua các tuần tuổi.
* ðường cong sinh trưởng:
ðường cong sinh trưởng biểu thị tốc ñộ sinh trưởng. Theo Chambers
(1990), ñường cong sinh trưởng gồm bốn pha và có bốn ñặc ñiểm chính:
- Pha sinh trưởng tích luỹ: tăng nhanh sau khi nở.
- ðiểm uốn của ñường cong tại thời ñiểm có tốc ñộ sinh trưởng cao nhất.
- Pha sinh trưởng có tốc ñộ giảm dần sau ñiểm uốn.
- Pha sinh trưởng tiệm cận có giá trị khi gà trưởng thành.
Trần Long (1994) ñã nghiên cứu ñường cong sinh trưởng của các dòng gà
V
1
, V
3
, V
5
thuộc sống gà Hybro (HV 85). ðường cong sinh trưởng của 3 dòng gà
có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và mái cũng có sự khác nhau:
Tốc ñộ sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi ở gà trống và 6 - 7 tuần ở gà mái.
1.2. Khả năng sinh sản của gia cầm
1.2.1. Tuổi thành thục sinh dục
Ở gà, tuổi thành thục sinh dục ñược tính từ khi gà bắt ñầu ñẻ quả trứng
chuyên thịt. Theo các tác giả, gà Leughorn bắt ñầu ñẻ lúc 18 - 19 tuần tuổi, còn
gà Plymouth lúc 22 - 23 tuần tuổi và gà Hybro lúc 24 - 25 tuần tuổi.
Trong công tác giống, nên chọn gà thành thục sớm. Tuy nhiên khi nuôi gà
hậu bị phải tác ñộng sao cho tuổi ñẻ phù hợp với sự phát triển của cơ thể.
1.2.2. Sức sản xuất trứng của gia cầm
* Sức ñẻ trứng:
Sức ñẻ trứng là số lượng trứng ñược ñẻ ra trong một thời gian nhất ñịnh.
Nguyễn Thị Mai và CS (2009) cho biết sức ñẻ trứng là một tính trạng quan trọng
trong chăn nuôi gia cầm, ñược ñánh giá qua các chỉ tiêu như: sức bền ñẻ trứng,
cường ñộ ñẻ trứng, tỷ lệ ñẻ trứng, chu kỳ ñẻ trứng
Theo Pingel và Jeroch (1980), cường ñộ ñẻ trứng có thể tính theo ñộ dài
trật ñẻ (khoảng thời gian gia cầm ñẻ trứng liên tục) hoặc tỷ lệ phần trăm ñẻ trong
một giai ñoạn nhất ñịnh (một tuần hoặc một tháng). Cường ñộ ñẻ trứng có quan
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13
hệ mật thiết với sản lượng trứng. Kết quả nghiên cứu của Mehner Alfred (1962)
cho biết cường ñộ ñẻ trứng có tương quan dương chặt chẽ với sản lượng trứng.
Cường ñộ ñẻ trứng mang ñặc ñiểm của từng giống và ñặc trưng cho từng
cá thể gà mái. Cường ñộ ñẻ trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chế
ñộ dinh dưỡng, phương thức chăn nuôi. Theo Nguyễn Văn Thạch (1996), gà Ri
nuôi bán thâm canh có tỉ lệ ñẻ là 39,43%; cao hơn so với nuôi chăn thả có tỷ lệ
ñẻ là 31,45%.
Tỷ lệ ñẻ trứng là chỉ tiêu thường ñược sử dụng ñể ñánh giá sức ñẻ trứng ở
tất cả các giống, các ñàn gia cầm (Nguyễn Thị Mai và CS, 2009). Theo nhóm tác
giả này, ñồ thị biểu diễn tỷ lệ ñẻ trứng trong một chu kỳ ñẻ có dạng giống nhau.
Từ khi ñàn gia cầm vào ñẻ, tỷ lệ ñẻ tăng dần lên và ñạt ñỉnh cao, sau ñó ổn ñịnh
và giảm dần.
* Năng suất trứng:
Năng suất trứng là số trứng của gia cầm sinh ra trong một ñơn vị thời gian.
+ Cường ñộ ñẻ trứng:
Cường ñộ ñẻ trứng là sức ñẻ trứng trong thời gian ngắn. Card và Neshein
(1970) cho rằng, cường ñộ ñẻ trứng thường ñược xác ñịnh theo khoảng thời gian
30 - 60 ngày và 100 ngày. Các tác giả này còn cho biết các giống gà chuyên
trứng cao sản thường có cường ñộ ñẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai và thứ ba,
sau ñó giảm dần ñến hết năm ñẻ. Nguyễn Mạnh Hùng và CS (1994) cho biết có
sự tương quan rất chặt chẽ giữa cường ñộ ñẻ trứng của 3 - 4 tháng ñầu tiên với
sức ñẻ trứng cả năm. Vì vậy, người ta thường dùng cường ñộ ñẻ trứng ở 3 - 4
tháng ñầu tiên ñể dự ñoán sức ñẻ trứng của gia cầm mà ghép ñôi và chọn lọc
giống. Cường ñộ ñẻ trứng còn liên quan mật thiết với thời gian hình thành trứng
và chu kỳ ñẻ trứng.
+ Thời gian nghỉ ñẻ:
Gà thường có hiện tượng nghỉ ñẻ trong một thời gian, có thể kéo dài trong
năm ñầu ñẻ trứng, từ vài ngày tới vài tuần, thậm chí 1 - 2 tháng. Thời gian nghỉ
ñẻ thường vào mùa ñông, ảnh hưởng trực tiếp ñến sản lượng trứng cả năm. Gia
cầm thường thay lông vào mùa ñông nên thời gian này gà nghỉ ñẻ. Trong ñiều
kiện bình thường, lúc thay lông ñầu tiên là thời ñiểm quan trọng ñể ñánh giá gia
cầm ñẻ tốt hay xấu. Những ñàn gà thay lông sớm, thời gian bắt ñầu thay lông từ
tháng 6 - 7 và quá trình thay lông diễn ra chậm, kéo dài 3 - 4 tháng là những ñàn
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15
ñẻ kém. Ngược lại, có những ñàn thay lông muộn, thời gian thay lông bắt ñầu từ
tháng 10 - 11 và quá trình thay lông diễn ra nhanh là những ñàn gà ñẻ tốt. ðặc
biệt ở một số ñàn gà cao sản, thời gian nghỉ ñẻ chỉ 4 - 5 tuần và lại ñẻ ngay khi
chưa hình thành xong bộ lông mới. Có con ñẻ ngay trong thời gian thay lông.
+ Thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học:
Chu kỳ ñẻ trứng sinh học liên quan ñến thời vụ nở của gia cầm con. Tuỳ
thuộc vào thời gian nở mà sự bắt ñầu và kết thúc của chu kỳ ñẻ trứng sinh học có
thể xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm. Thường ở gà, chu kỳ này kéo dài
năm thứ hai và ở ngỗng năm thứ ba sản lượng trứng lại cao nhất (Nguyễn Thị
Mai và CS, 2007). Như vậy, trong cùng một giống gia cầm, ở các tuần tuổi khác
nhau thì tỷ lệ ñẻ cũng khác nhau.
- Thức ăn và dinh dưỡng:
Thức ăn và dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ với khả năng ñẻ trứng.
Muốn gia cầm có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải ñảm bảo một
khẩu phần ăn ñầy ñủ và cân ñối các chất dinh dưỡng. Quan trọng nhất là cân bằng
protein và năng lượng, các axit amin, các chất khoáng và vitamin. Thức ăn chất
lượng kém sẽ không cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gà. Giữa năng
lượng và protein trong khẩu phần có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nếu khẩu
phần ñủ năng lượng mà thiếu protein thì tốc ñộ sinh trưởng cũng như khả năng
sinh sản giảm, vì protein là vật liệu xây dựng tế bào. Khẩu phần ñủ protein mà
thiếu năng lượng thì protein sẽ ñược dùng ñể cung cấp năng lượng, năng suất của
gà bị giảm và chi phí thức ăn tăng lên. Vì vậy, mức protein khẩu phần phải cân
ñối với năng lượng.
Theo Wegner (1980), ảnh hưởng của protein, năng lượng, axit amin,
vitamin và khoáng vi lượng cần ñược chú ý, vì nó ảnh hưởng rất lớn ñến sức ñẻ
trứng của gia cầm. Gia cầm ñẻ trứng cần năng lượng ñể duy trì hoạt ñộng của cơ
thể và tạo trứng, ngoài ra còn ñể phát triển. Năng lượng thừa sẽ gây tích luỹ mỡ
làm gia cầm béo và giảm sản lượng trứng. Thiếu năng lượng thì giảm tốc ñộ phát
triển, giảm sản lượng trứng và ảnh hưởng ñến khối lượng trứng. Nhu cầu năng
lượng tuỳ thuộc vào từng giai ñoạn phát triển và giai ñoạn ñẻ.
Protein giúp gia cầm duy trì hoạt ñộng, sản xuất trứng, tăng trọng, ñặc biệt
trong việc hình thành trứng. Thiếu protein thì gia cầm sẽ huy ñộng protein của cơ
thể ñáp ứng quá trình sản xuất, do ñó ảnh hưởng ñến quá trình tạo trứng. Ngoài