BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
PHÙNG DUY ðỘ
KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ ROSS 308 BỐ MẸ VÀ
THƯƠNG PHẨM NUÔI TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU
GIA CẦM CẨM BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
quả nêu trong luận văn là trung thực, do tôi nghiên cứu, có sự giúp ñỡ của tập thể
các ñồng nghiệp trong, ngoài cơ quan và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ
nghiên cứu khoa học nào khác.
Hải Dương, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Phùng Duy ðộ
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii
LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này, tác giả xin trân trọng
cảm ơn:
Danh mục hình……………………………………………………………viii
MỞ ðẦU 1
1. ðặt vấn ñề 1
2. Mục ñích nghiên cứu 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu 3
1.1.1. Cơ sở khoa học về ñặc diểm ngoại hình của gia cầm 3
1.1.2. Tính trạng số lượng 4
1.1.3. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà 6
1.1.4. Cơ sở khoa học về sinh sản của gia cầm 7
1.1.5. Cơ sở khoa học tính trạng sinh trưởng, sản xuất thịt và tiêu tốn
thức ăn của gia cầm 14
1.2. Tình hình nghiên cứu gà công nghiệp hướng thịt trên thế giới và trong
nước 22
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 29
Chương 2. ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
2.1. ðối tượng và thời gian nghiên cứu 33
2.1.1. ðối tượng nghiên cứu 33
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 33
2.2. Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1. Trên ñàn gà bố mẹ 33
2.2.2. Trên ñàn thương phẩm 34 Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv
2.3. Nội dung nghiên cứu 34
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v
3.1.8. Tiêu tốn thức ăn ñể sản xuất 10 quả trứng, 10 quả trứng giống 65
3.1.9. Khảo sát chất lượng trứng ở 38 tuần tuổi (n = 30 quả) 66
3.1.10. Kết quả ấp nở của ñàn gà Ross 308 bố mẹ giai ñoạn sinh sản 69
3.2. Kết quả nghiên cứu trên ñàn gà Ross 308 thương phẩm. 70
3.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của ñàn Ross 308 thương phẩm qua các tuần tuổi 70
3.2.2. Lượng thức ăn tiêu thụ /con qua các tuần tuổi của ñàn Ross 308
thương phẩm 71
3.2.3. Khối lượng cơ thể, sinh trưởng tuyệt ñối, sinh trưởng tuyệt ñối 72
3.2.4. Tiêu tốn và chi phí thức ăn 76
3.2.5. Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế 77
3.2.6. Năng suất và chất lượng thịt của gà Ross 308 thương phẩm 78
3.2.7. Kết quả nuôi gà Ross 308 thương phẩm trong sản xuất 80
5. KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 82
5.1. Kết luận 82
5.1.1. Trên ñàn gà bố mẹ Ross 308 82
5.1.2. Trên ñàn gà thương phẩm Ross 308 82
5.2. ðề nghị 82
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Thành tựu trong chăn nuôi gà Broiler 24
(24- 50 tuần tuổi) 58
Bảng 3.9. Tỷ lệ nuôi sống của mái Ross 308 giai ñoạn sinh sả
n
(24- 50 tuần tuổi) 59
Bảng 3.10. Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của gà mái 60
Bảng 3.11. Tỷ lệ ñẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống 63
Bảng 3.12. Tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng và 10 quả trứng giống 66
Bảng 3.13. Một số kết quả khảo sát chất lượng trứng ở 38 tuần tuổi 67
Bảng 3.14. Kết quả ấp nở của ñàn gà Ross 308 bố mẹ 70
Bảng 3.15. Tỷ lệ nuôi sống của ñàn Ross 308 thương phẩm 71
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vii
Bảng 3.17. Khối lượng cơ thể của gà Ross 308 thương phẩm 74
Bảng 3.18. Sinh trưởng tuyệt ñối và tương ñối của gà Ross 308 thương
phẩm 75
Bảng 3.19. Tiêu tốn và chi phí thức ăn 77
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ix
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Khối lượng cơ thể của gà mái Ross 308 bố mẹ từ 1 – 23 tuần tuổi 51
Hình 3.2. Tỷ lệ ñẻ của gà sinh sản từ 27-50 TT 64
Hình 3.3. Khối lượng cơ thể tích lũy 74
Hình 3.4. Sinh trưởng tuyệt ñối của gà Ross 308 thương phẩm 75
Hình 3.5. Sinh trưởng tương ñối của gà Ross 308 thương phẩm 76
Thuỵ phương ñã nhập 3847 con gà Ross 308 sinh sản bố mẹ. ðây là giống
chuyên thịt mới ñược nhập nội nên việc nghiên cứu khả năng sản xuất của chúng
là ñiều cần thiết. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài “Khả năng sản
xuất của gà Ross 308 bố nẹ và thương phẩm nuôi tại Trạm Nghiên cứu Gia
cầm Cẩm Bình”.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2
2. Mục ñích nghiên cứu
Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nhà quản lý và các cơ sở sản
xuất ñể quyết ñịnh hướng phát triển, ñồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật chăn
nuôi phát triển giống gà này ở Việt Nam.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
a. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu một cách có hệ thống về một số ñặc ñiểm khả năng sinh
trưởng và phát triển, khả năng sinh sản, khả năng chuyển hoá thức ăn, sức ñề
kháng của cơ thể, phẩm chất thịt và trứng của gà Ross 308 sinh sản và thương
phẩm.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở xác ñịnh ñược một số ñặc ñiểm năng suất cơ bản của giống gà
Ross 308, từ ñó sẽ giúp các nhà quản lý có cơ sở khoa học ñể quyết ñịnh hướng
phát triển giống gà này. Ngoài ra các dữ liệu thu ñược trong nghiên cứu, sẽ giúp
chúng ta có thể xây dựng ñược quy trình kỹ thuật chăn nuôi, và chuyển giao
những tiến bộ kỹ thuật về gà Ross 308 vào sản xuất, làm phong phú các giống gà
thịt phù hợp với các ñiều kiện sinh thái khác nhau, góp phần thúc ñẩy sự phát
triển ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam trong những năm tới.
hạt ñậu, mào hoa hồng, mào nụ (mào sít) theo (Nguyễn Mạnh Hùng và cs.,1994).
ðầu: cấu tạo xương ñầu ñược coi như có ñộ tin cậy cao nhất trong việc
ñánh giá ñầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của ñầu cho phép rút ra kết luận
về sự phát triển của mô ñỡ và mô liên kết. Theo hình dáng của mào, tích và mào
tai có thể biết ñược trạng thái sức khoẻ và ñiều kiện sống của chúng. Gà trống có
ngoại hình ñầu giống gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình của Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không phôi, theo Auaas và
Wilke (trích từ Nguyễn Chí Bảo, 1978).
Mỏ: gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao. Những giống
gà da vàng thì mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt ñi vào cuối
thời kỳ ñẻ trứng.
Bộ lông: lông là một dẫn xuất của da, thể hiện ñặc ñiểm di truyền của giống
và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Khi mới nở, gia cầm con ñược
lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần ñược thay thế bằng lông
cố ñịnh.
Màu lông do một số gen qui ñịnh, phụ thuộc và sắc tố chứa trong bào tương
của tế bào. Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do mức ñộ oxy hoá các chất
tiền sắc tố melanin (melanogene) trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là
nhóm lipocrom (carotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi họăc màu ñỏ, nếu
không có chất sắc tố thì lông có màu trắng.
Chân: những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không ñược thô.
Gà có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng
làm giống. ðặc ñiểm chân cao có liên quan tới khả năng cho thịt thấp và phát dục
chậm theo Auaas Và Wilke (trích từ Nguyễn Chí Bảo,1978).
1.1.2. Tính trạng số lượng
thể làm thay ñổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác ñộng làm phát huy hoặc kìm
hãm việc biểu hiện các hoạt ñộng của các gen. Các tính trạng số lượng ñược qui
ñịnh bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của ñiều kiện ngoại cảnh, mối tương
quan ñó ñược biểu thị như sau:
P = G + E
Trong ñó P là giá trị kiểu hình (phenotypic value), G là giá trị kiểu gen
(genotypic value), E: là sai lệch môi trường (environmental deviation).
Giá trị kiểu gen (G) hoạt ñộng theo ba phương thức: cộng gộp, trội và át
gen. Từ ñó cũng có thể hiểu:
G = A + D + I
Trong ñó G là giá trị kiểu gen (genotypic value), A là giá trị cộng gộp
(additive value), D là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value), I: là giá trị
sai lệch tương tác (Interaction deviation value)
Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường.
Có hai loại môi trường chính: Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
6
- Sai lệch môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác
ñộng lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại yếu tố này có tính chất
thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,
- Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác
ñộng riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai ñoạn nhất
ñịnh trong cuộc ñời con vật. Loại này có tính chất không thường xuyên. Nếu bỏ
qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P),
kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:
P = A + D + I + Eg + Es
Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật
các qui luật di truyền ña gen, trội, lặn, giới tính,
Vì stress miễn kháng là phản ứng của cơ thể sinh vật ñối với bất cứ tác
dụng nào của môi sinh ñể tự vệ và bảo tồn, cho nên mọi biện pháp ñể hạn chế
ảnh hưởng của stress và ngăn chặn hậu quả ñều nhằm mục tiêu bảo vệ sự sống
của con vật và chất lượng sản phẩm của nó.
Khả năng thích nghi, khi ñiều kiện sống bị thay ñổi, như về thức ăn, thời
tiết, khí hậu, qui trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh, của gia
súc, gia cầm nói chung, gà lông màu nói riêng có khả năng thích ứng rộng rãi
hơn ñối với môi trường sống theo (Phan Cự Nhân và Trần ðình Miên, 1998).
Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm trong cơ sở di truyền năng suất và
chọn giống ñộng vật, Marco và cs. (1982) cho biết sức sống ñược thể hiện ở thể
chất và ñược xác ñịnh trước hết bởi khả năng có tính di truyền của ñộng vật, có
thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường, cũng như ảnh
hưởng khác của dịch bệnh. Hill và cs. (1954) ñã tính ñược hệ số di truyền sức
sống là 6%. Sức sống ñược tính theo các giai ñoạn nuôi dưỡng khác nhau. Theo
tài liệu của Gavora (1990) hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25%. Tỷ lệ nuôi
sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu thời tiết, mùa
vụ,
1.1.4. Cơ sở khoa học về sinh sản của gia cầm
1.1.4.1. Cơ sở giải phẫu của trứng gia cầm
Trứng của gia cầm nói chung và của gà nói riêng là một tế bào sinh sản
khổng lồ. Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng ñỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ. Buồng
trứng có chức năng tạo thành lòng ñỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng,
màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên. Nhiều tài liệu nghiên cứu ñều xác ñịnh
ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi hai bên phải, trái ñều có buồng trứng,
nhưng sau khi nở buồng trứng bên phải mất ñi, còn lại buồng trứng bên trái
(Vương ðống, 1968).
Trong thời gian phát triển lúc ñầu các tế bào trứng ñược bao bọc bởi một
tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh. Tầng tế bào này trở thành
nhọn của trứng bao giờ cũng ñi trước, nhưng khi nằm trong tử cung quả trứng
ñược xoay 1 góc 180
0
, cho nên trong ñiều kiện bình thường gà ñẻ ñầu tù của quả
trứng ra trước. Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9
Khả năng sinh sản của gia cầm ñược thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản lượng,
khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở. ðối với các
giống gia cầm khác nhau, khả năng sinh sản cũng rất khác nhau.
1.1.4.2. Năng suất trứng
+ Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là chỉ tiêu cần ñược quan tâm lâu dài trong công tác giống gia cầm,
nhằm tăng số lượng và chất lượng con giống, các tính trạng sinh sản của chúng như:
tuổi ñẻ trứng ñầu, năng suất trứng, khối lượng trứng, tỷ lệ ấp nở, ở các loài gia cầm
khác nhau thì những ñặc ñiểm sinh sản cũng khác nhau rất rõ rệt.
ðối với gia cầm sự di truyền về sinh sản rất phức tạp. Theo các công trình
nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố
ảnh hưởng mang tính di truyền.
- Tuổi thành thục về sinh dục, người ta cho rằng ít nhất cũng có hai cặp gen
chính tham gia vào yếu tố này: một là gen E (gen liên kết với giới tính) và e; còn
cặp thứ hai là E’ và e’. Gen trội E chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục.
- Cường ñộ ñẻ: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ phối hợp cộng lại
ñể ñiều hành.
- Bản năng ñòi ấp do 2 gen A và C ñiều khiển, phối hợp với nhau.
- Thời gian nghỉ ñẻ (ñặc biệt là nghỉ ñẻ vào mùa ñông) do các gen M và m
ñiều khiển. Gia cầm có gen mm thì về mùa ñông vẫn tiếp tục ñẻ ñều.
trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào ñiều kiện ngoại
cảnh. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ,
ñiều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và ñặc ñiểm của cá thể.
Hutt (1978) ñề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm ñẻ quả trứng ñầu
tiên, còn Brandsh và Biilchel, (1978) cho biết sản lượng trứng ñược tính ñến 500
ngày tuổi. Theo các tác giả trên sản lượng trứng cũng ñược tính theo năm sinh học
365 ngày, kể từ ngày ñẻ quả trứng ñầu tiên. Trong thời gian gần ñây, sản lượng
trứng ñược tính theo tuần tuổi. Nhiều hãng gia cầm nổi tiếng như Shaver (Canaña),
Lohmann (ðức), sản lượng trứng ñược tính ñến 70-80 tuần tuổi.
Năng suất trứng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc ñộ
sinh trưởng sớm, do vậy trong chăn nuôi gà sinh sản, cần chú ý cho gà ăn hạn chế
trong giai ñoạn gà con, gà dò, gà hậu bị ñể ñảm bảo năng suất trứng trong giai
ñoạn sinh sản. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức
ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11
trong khẩu phần thức ăn (Bùi Thị Oanh, 1996). Năng suất trứng có hệ số di
truyền không cao, dao ñộng lớn. Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) hệ số di truyền
năng suất trứng của gà là 12- 30%.
Về tỷ lệ ñẻ gà có tỷ lệ ñẻ thấp trong mấy tuần ñầu của chu kỳ ñẻ, sau ñó
tăng dần và ñạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và ñạt tỷ lệ ñẻ thấp
ở cuối thời kỳ sinh sản. Sản lượng trứng /năm của một quần thể gà mái cao sản,
ñược thể hiện theo qui luật cường ñộ ñẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba
sau ñó giảm dần ñến hết năm ñẻ. ðể tiến hành chọn giống về sức ñẻ trứng. Hutt
(1978) ñã áp dụng ổ ñẻ có cửa sập tự ñộng ñể kiểm tra số lượng trứng của từng
gà mái. Các tác giả cho rằng sản lượng trứng 3 tháng ñẻ ñầu và sản lượng trứng
cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7-0,9).
Màu sắc trứng
Màu sắc trứng không có ý nghĩa lớn trong ñánh giá chất lượng trứng, nhưng
có giá trị trong kỹ thuật và thương mại. Màu sắc trứng là tính trạng ña gen, ở gà
khi lai dòng trứng vỏ trắng với dòng trứng vỏ màu, gà lai sẽ có trứng vỏ màu
trung gian. Theo Anderson có thể tạo gia cầm ñẻ trứng vỏ màu bằng cách chọn
lọc những gia cầm có trứng vỏ màu sẫm hơn (dẫn theo Khavecman, 1972). Theo
Brandsh và Biilchel (1978) hệ số di truyền tính trạng này là 55 -75%.
Bề mặt vỏ trứng
Thông thường trứng gia cầm ñẻ ra có bề mặt trơn, ñều, song bên cạnh ñó
cũng có một số cá thể thường ñẻ ra những trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt
canxi hay ñường gờ lượn sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu ñến tỷ lệ ấp nở
cũng như thị hiếu của người tiêu dùng (Schuberth và Ruhlvà, 1978).
Chỉ số hình thái
Trứng gia cầm bình thường có hình ô van và chỉ số này không biến ñổi theo
mùa. Người ta ñã tính ñược chỉ số hình dạng của trứng thông qua phương pháp
toán học, chỉ số hình dạng có thể tính bằng hai cách:
Tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều
rộng so với chiều dài của trứng.
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, thì chỉ số hình dạng là một chỉ tiêu ñể
xem xét chất lượng của trứng ấp. Trong thực tế sản xuất cho thấy, những quả
trứng dài hoặc quá tròn ñều có tỷ lệ ấp nở thấp. Trứng của mỗi giống gia cầm ñều
có chỉ số hình thái riêng, chỉ số này ở gà 1,34 - 1, 36. Nếu lệch quá tiêu chuẩn Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13
này sẽ ảnh hưởng ñến tỷ lệ nở và khó khăn trong lúc bao gói vận chuyển ðộ dày
và ñộ bền của vỏ trứng
ðộ dày, ñộ bền hay ñộ chịu lực của vỏ trứng biểu hiện nguồn dự trữ
ðơn vị Haugh: ñơn vị Haugh ñược Haugh (1930) xây dựng, sử dụng ñể
ñánh giá chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng
ñặc. ðơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt. Theo Uyterwal (2000)
ñơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm
mái (gà càng già ñơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt ñộ, giống gia cầm,
Theo Peniond Jkevich và cs (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1999), chất lượng
trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80-100, tốt: 79-65, trung bình: 64-55 và xấu < 55.
+ Khả năng thụ tinh và ấp nở
Kết quả thụ tinh là một chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá về khả năng sinh sản
của con trống và con mái. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, tỷ
lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn ñôi giao phối,
Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu ñánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia
cầm non. ðối với những trứng có chỉ số hình dạng chuẩn, khối lượng trung bình
của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất.
Chế ñộ ấp nở có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến như chất lượng trứng, thời
gian và chế ñộ bảo quản trứng, chế ñộ máy ấp, chế ñộ máy nở (nhiệt ñộ, ẩm ñộ,
thông thoáng, ñảo trứng, ). Hệ số di truyền về tỷ lệ trứng thụ tinh 11-13%, hệ số
di truyền của tỷ lệ ấp nở 10-14% (Nguyễn Văn Thiện, 1995).
1.1.5. Cơ sở khoa học tính trạng sinh trưởng, sản xuất thịt và tiêu tốn thức ăn
của gia cầm
1.1.5.1.Cơ sở khoa học tính trạng sinh trưởng
Theo Gatner (1992) cho rằng trong quá trình sinh trưởng trước hết là kết
quả của phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào ñể tạo nên sự sống. Sinh trưởng là
sự tích luỹ các chất hữu cơ do ñồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều dài, chiều cao
và bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền
của ñời trước. Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất chủ yếu là protein.
Tốc ñộ tích luỹ của các chất và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc ñộ hoạt
ñộng của các gen ñiều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (dẫn theo Trần ðình Miên
và Nguyễn Kim ðường, 1992).