Theo dõi đặc điểm sinh trưởng, khả năng sinh sản của Vịt CV Super M2 bố mẹ (thế hệ 13) nuôi tại Trạm nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình tỉnh Hải Dương - Pdf 25

1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi thuỷ cầm nói riêng từ lâu đã
chiếm một vị trí quan trọng trong kinh tế hộ gia đình của nguời nông dân Việt
Nam. Thịt gia cầm thơm ngon và giầu dinh dưỡng, là nguồn cung cấp thực phẩm
quan trọng, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng. Chính vì vậy trong những
năm qua nghề chăn nuôi gia cầm ở nước ta không ngừng phát triển mạnh mẽ cả về
số lượng, chất lượng và quy mô chăn nuôi.
Tống đàn gia cầm năm 1986 là 99,9 triệu con đến năm 2003 đạt 254 triệu
con (gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 68,8 triệu con), tốc độ tăng đầu con bình
quân 7,85%/năm. Tuy nhiên, trong 2 năm 2004 - 2005 do ảnh hưởng dịch cúm gia
cầm số lượng đầu con giảm đáng kế. Năm 2006 tống đàn gia cầm đạt 214,6 triệu
con trong đó gà 152 triệu con, thủy cầm 62,6 triệu con (Phùng Đức Tiến, 2006
[63]). Việt Nam là nước đứng thứ 2 thế giới về số lượng vịt (54 triệu con), chỉ sau
Trung Quốc (FAO, 1997) [92].
Đe đáp ứng nhu cầu về chất lượng con giống, trong những năm qua nước ta
đã nhập nhừng giống gia cầm, thuỷ cầm ngoại nuôi theo phương thức chăn nuôi
công nghiệp cho năng suất thịt, trứng và hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy cơ cấu đàn
gia cầm đã từng bước dịch chuyển theo hướng tăng số lượng giống cao sản. Các
giống gia cầm địa phương năng suất thấp, từ chỗ chiếm 90 - 95% về cơ cấu đàn,
nay giảm xuống còn 60 - 65% (Phùng Đức Tiến, 2006 [63]).
Vịt là loài thuỷ cầm có sức chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh và bệnh
tật cao, khả năng tự kiếm mồi tốt. Các sản phâm từ vịt như: thịt, trứng, lông đều có
giá trị kinh tế cao, cung cấp thực phẩm cho xã hội.
Giống vịt cv - Super M là giống siêu thịt của công ty Cherry - Valley,
Vương quốc Anh, tạo ra từ năm 1976. Hiện nay giống vịt này đã được phát triến
mạnh ở nhiều nước trên thế giới. Theo tài liệu của Hãng tại Anh cho biết:
Vịt dòng ông bà đẻ 170 - 180 quả trứng/40 tuân đẻ, sản xuât được 122 con vịt 1
ngày tuổi; chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lưọng ỏ’ dòng ông là 2,76 kg, ở dòng
bà là 3,01 kg; vịt bố mẹ nuôi 26 tuần tuổi đạt 3,1 kg, năng suất trứng đạt 200
quả/40 tuần đẻ, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 3,1 kg.
Từ giống vịt cv - Super M, hãng Cherry - Valley đã tạo ra giống vịt cv -

trạng số luợng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Tính trạng số luợng
do nhiều gen có hiệu ứng nhở quy định.
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [47], các tính trạng số luợng do giá trị kiểu
gen và sai lệch môi truờng quy định. Giá trị di truyền (Genotypic value) do các
gen có hiệu ứng riêng biệt nhỏ, nhung khi tập hợp nhiều gen thì có ảnh huởng rõ
rệt đến tính trạng, chúng gây ra các hiệu ứng cộng gộp, trội và át gen. Tính trạng
số luợng chịu tác động lớn của các tác động của ngoại cảnh.
Theo Đặng Vũ Bình (1999) [4], để hiển thị đặc tính của những tính trạng số
luợng nguời ta sử dụng khái niệm giá trị, đó là các số đo dùng đế đánh giá các tính
trạng số luợng. Các giá trị thu đuợc khi đánh giá một tính trạng ở con vật gọi là giá
trị kiêu hình (giá trị Phenotyp) của cá thê đó.
Đe phân tích các đặc tính di truyền của quần thế, ta phân chia giá trị kiếu
hình thành 2 phần:
- Giá trị di truyền: do toàn bộ các gen mà cá thế có gây nên.
- Sai lệch ngoại cảnh: do tất cả các yếu tố không phải di truyền gây nên sự
sai khác giữa giá trị di truyền và giá trị kiêu hình.
p = G + E
P: Giá trị kiểu hình (phenotypic value).
G: Giá trị di truyền (genotypic value).
E: Sai lệch ngoại cảnh (environmental deviation).
Giá trị di truyền (G) hoạt động theo 3 phuong thức: Cộng gộp - trội - át
gen, nên:
G = A + D +1
Trong đó:
G: Giá trị di truyền.
A: Giá trị di truyền cộng gộp (additive value).
D: Giá trị sai lệch trội (dominance deviation value)
I: Giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value)
Ngoài ra, các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, bao
gồm :

các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của
từng giống, tùng cá thể có sự khác nhau. Giai đoạn này nối tiếp giai đoạn khác,
không đi ngược trở lại, không bở qua thời kỳ nào, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ đều có
đặc điếm riêng.
Ở vịt, căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể ta có thể phân biệt các giai
đoạn phát triển của phôi trong trúng trước khi đẻ, giai đoạn phát triển của phôi
trong trứng sau khi đẻ, giai đoạn trứng nở thành con (sơ sinh) đến khi thành thục
sinh dục, giai đoạn sinh sản. Mỗi giai đoạn đều có đặc điểm hình thái, sinh lý đặc
trưng.
Đối với gia cầm, sinh trưởng là sự biến đổi, tổng họp của sự tăng lên về số
lượng, kích thước của tế bào và thế dịch trong mô bào ở giai đoạn phát triến của
phôi. Trong giai đoạn sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn lên của các mô. Trong
một số mô, sinh trưởng là do sự tăng lên về kích thước của các tế bào. Giai đoạn
này sinh trưởng được chia làm hai thời kỳ: thời kỳ gia cầm con và thời kỳ gia cầm
trưởng thành.
- Thời kỳ gia câm con: thời kỳ này lượng tê bào tăng nhanh nên quá trình
sinh trưởng diễn ra rất nhanh, một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh,
các men tiêu hóa chưa đầy đủ, khả năng điều tiết thân nhiệt kém, gia cầm con dễ bị
ảnh hưởng bởi thức ăn và nuôi dưỡng. Vì vậy, thức ăn và nuôi dưỡng trong thời kỳ
này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm. Thời kỳ này còn diễn ra
quá trình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, nó làm tăng
trao đổi chất. Cho nên cần chú ý vấn đề nuôi dường, đặc biệt là các chất dinh
dường có trong thức ăn, trong đó quan trọng nhất là các axit amin hạn chế như
lysine, methionine, tryptophan
- Thời kỳ gia cầm trưởng thành: thời kỳ này các cơ quan trong cơ thế gia
cầm gần như đã phát triến hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá
trình phát dục. Quá trình tích lũy chất dinh dường của gia cầm một phần là đế duy
trì sự sống, một phần đế tích lũy mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kỳ gia cầm
con. Vì vậy giai đoạn này cần xác định tuối giết mố thích hợp để cho hiệu quả kinh
tế cao.

- Tốc độ sinh trưởng
Trong chăn nuôi người ta thường sử dụng hai chỉ số để mô tả tốc độ sinh
trưởng ở vật nuôi là tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối.
Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối chính là sự gia tăng về khối lượng sống trung
bình một ngày đêm. Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/con/ngày hoặc
g/con/tuần. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh trưởng tuyệt
đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng,
kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN -
2.40, 1977) [52]. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol.
Tốc độ sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, đặc
điểm cơ thể và điều kiện môi trường.
Đường cong sinh trưởng dùng để biểu thị tốc độ sinh trưởng của gia súc,
gia cầm nói chung. Thông thường, người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần
tuối đế thế hiện đồ thị sinh trưởng tích lũy và cho biết một cách đơn giản nhất về
đường cong sinh trưởng. Đưòưg cong sinh trưởng không chỉ sử dụng đế chỉ rõ về
số lượng mà còn làm rõ về chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, các giống, giới
tính, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, môi trường. 2.1.23 Các yêu tô ảnh hưởng
đên sinh trưởng của gia câm
Sinh trưởng của gia cầm là một quá trình sinh học phức tạp chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khác nhau như: dòng, giống, giới tính, tốc độ mọc lông, chế độ
dinh dưỡng và điều kiện chăn nuôi
- Anh hưởng của dòng, giống, lứa tuồi và giới tính +
Dòng, giong
Mỗi dòng hay giống, loài gia cầm đều có một kiểu di truyền khác nhau nên
chúng sẽ khác nhau về ngoại hình, tầm vóc, sức sản xuất, từ đó mà chúng ảnh
hưởng lớn đến sự sinh trưởng. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của
từng cá thể, giữa dòng, giống có sự sai khác.
Tác giả Hoàng Văn Tiêu và cộng sự (1993) [58] cho biết: Khối lượng cơ
thể các cặp lai Anh Đào X cỏ; Anh Đào X (Anh Đào X cỏ); Anh Đào X Bầu lúc 70

gia cầm đế đạt mục đích kinh tế cao nhất cho chăn nuôi.
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Dương Xuân Tuyển (1998) [78] trên
đàn vịt cv - Super M thương phấm nuôi tại Trại vịt giống VIGOVA
Theo Lương Tất Nhợ và cộng sự (1997) [35] nghiên cứu về sinh trưởng của
vịt cv - Super M trong các điều kiện chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng cho biết:
tốc độ tăng khối lượng của vịt cv - Super M bố mẹ ở giai đoạn vịt con 4 tuần tuổi
có tốc độ tăng khối lượng tuyệt đối là 45 g/con/ngày và tăng trọng tương đối là
35,65 %; 8 tuần tuối có các kết quả tương ứng là 25,57 g/con/ngày và 8,19%. Vịt
cv - Super M dòng ông có các kết quả tương ứng là 51,14 g/con/ngày và 40,86%
(ở 4 tuần tuổi) và 22,57 g/con/ngày và 7,12%. Vịt cv - Super M dòng bà 1 úc 4
tuần tuổi là 37,00 g/con/ngày; 34,97% và 8 tuần tuổi là 22,00 g/con/ngày; 8,01%.
Theo Lê Viết Ly và các tác giả (1998) [26], công bố kết quả nghiên cứu sinh
trưởng của nhóm vịt cỏ màu cánh sẻ: Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) của
con đực ở 3 tuần tuối là 8,31g/con/ngày và 8 tuần tuối là 18,05 g/con/ngày; của con
mái ở 3 tuần tuổi là 6,90 g/con/ngày và 8 tuần tuổi là 16,55 g/con/ngày.
vịt qua các tuần tuổi như sau:
Tuần tuổi Tăng trọng tuyệt đối
(g/ tuần)
Tăng trọng tương đối
(%)
1
130,20 241,11
2 239,40 129,97
3 413,92 97,71
4 489,98 58,50
5 502,00 37,82
6 509,75 27,86
7 396,00 16,93
8 274,25 10,03
Khối lượng cơ thể của vịt cv - Super M bố mẹ nuôi theo quy trình giống ở

tuổi đàn vịt có bố sung thức ăn hỗn hợp khối lượng cơ thế trung bình đạt 2.810 g,
trong khi đó đàn vịt chăn thả cố truyền nuôi kéo dài đến 85 ngày chỉ đạt 2.510 g
(Phạm Văn Trượng và các tác giả, 1997) [74].
Tác giả Dương Xuân Tuyên (1998) [78] khi nghiên cứu trên vịt cv - Super
M cho biết: Khối lượng cơ thế vịt cv - Super M ở 8 tuần tuổi khi nuôi thịt (cho ăn
tự do) ở dòng trống đạt: 3323,8 g với vịt đực và 3062,1 g với vịt mái; còn ở dòng
bà đạt: 3126,4 g với con trống và 2879,2 g với con mái; trong khi đó khối lượng cơ
thế vịt cv - Super M bố mẹ nuôi theo quy trình giống ở thời điếm 56 ngày tuổi
con trống đạt 2732,0 g và con mái đạt 2273 g (Hoàng Văn Tiêu, 1993 [58]).
- An h hưởng của tốc độ mọc lông
Tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan chặt chẽ với tốc độ
sinh trưởng và phát triến của cơ thế gia cầm, đó là mối tương quan thuận.
Theo Jaap & Moris (1973): “Tốc độ mọc lông liên quan chặt chẽ với cường
độ sinh trưởng, gà có tốc độ nhanh thường lớn nhanh hơn, cân nặng hơn so với gà
mọc lông chậm”.
- An h hưởng của các yếu tố mồi trường
Các yếu tố của môi trường có ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng của gia cầm
đặc biệt là gia cầm chuyên thịt đó là các yếu tố: nhiệt độ, độ âm, ánh sáng, độ
thông thoáng
Khi các yếu tố môi trường không đạt tiêu chuân nó sẽ làm ảnh hưởng trực
tiếp đến sức đề kháng, khả năng thu nhận thức ăn, từ đó làm ảnh hưởng không
nhở đến sinh trưởng, phát triến của cơ thế vật nuôi. Do vậy cần phải đảm bảo điều
kiện chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt, cung cấp đủ ôxy, đồng thời có mật độ
nuôi cũng như chế độ chiếu sáng thích hợp để tăng hiệu quả chăn nuôi.
Như vậy, trong chăn nuôi vịt thịt, đặc biệt là những giống cao sản thì ngoài
yếu tố giống tốt, dinh dưỡng hợp lý là nhằm mục đích khai thác tối đa tiềm năng
sinh học về khả năng tăng khối lượng cơ thể của vịt, đồng thời tốc độ tăng khối
lượng cơ thể khác nhau qua các giai đoạn tuổi cho phép nhà chăn nuôi xác định
thời điếm giết thịt cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.1.3 Khả năng cho thịt

545,75 g (27,26%).
Theo Phạm Văn Trượng (1995) [73], kết quả khảo sát vịt cv - Super M ở
dòng 56 ngày tuối, dòng trống có khối lượng thịt xẻ 1.984,3 g; tỷ lệ thịt xẻ 70,19%;
chỉ tiêu này ở dòng mái là 1.897,0 g (70,19%); ở vịt thương phấm là 2.079,0 g
(70,99%). Khối lượng thịt xẻ, tỷ lệ thịt xẻ của vịt Anh Đào - Hungari giết thịt 56
ngày tuổi là 1.324,2 g và 70,26%.
Ket quả mo khảo sát các cặp vịt lai Anh Đào X cỏ, Anh Đào X (Anh Đào X
Cở), Anh Đào X Bầu, vịt Tiệp X Anh Đào, có khối lượng thịt xẻ và tỷ lệ thịt xẻ so
với khối lượng sống tương ứng là: 1.050 g (63,4%); 1.151 g (66%); 1.565 g
(69,4%); 1.710 g (71,4%) (Hoàng Văn Tiêu và các tác giả. 1993 [57]).
Theo H. Decarville, A. Decroutte (1985) [14] tỷ lệ thịt xẻ của vịt phụ thuộc
vào tính biệt, vịt đực Bắc Kinh có tỷ lệ thịt xẻ là 60,3%, vịt mái là 61%.
Theo Lewcsuk, Mazanowski, Bochno, Janiszewska, Wawro (1984) [98],
khối lượng thịt xẻ của vịt trống Cherry Valley cao hơn khối lượng thịt xẻ của vịt
mái là 72 g.
Khi nghiên cứu về các thành phần thân thịt như: thịt đùi và thịt ức là hai
thành phần quan trọng của thịt xẻ, nhiều tác giả nghiên cứu trên các giống vịt khác
nhau đã công bố các kết quả sau:
Theo Abdelsamie và Farrell (1985) [85], nghiên cứu trên vịt Bắc Kinh 28 -
68 ngày tuổi cho biết: Ớ 28 ngày tuổi tỷ lệ cơ đùi + cơ ức là 22,8%; ở 56 ngày tuổi
tăng lên đến 25,0% và đạt 27,4% ở 68 ngày tuổi. Trong khi đó, tỷ lệ cơ đùi giảm
dần theo tuổi của vịt, đạt 18% ở 28 ngày tuổi, đến 55 ngày tuổi còn 13,5% và giảm
xuống 12% ở 68 ngày tuối. Ngược lại, tỷ lệ cơ ức lại tăng dần, chỉ có 4,8% ở 28
ngày tuổi, tăng lên đến 14,1% ở 55 ngày tuối và ở 68 ngày tuôi là 15,4%.
Hoàng Văn Tiêu và các tác giả (1993) [57] công bố kết quả khảo sát các cặp
vịt lai cho biết tỷ lệ thịt đùi và tỷ lệ thịt ức như sau:
Vịt lai Anh Đào X cỏ : 13,4% và 12,1%
Anh Đào X (Anh Đào X cỏ): 13,5% và 12,7%
Vịt Tiệp X Anh Đào : 14,0% và 16,6%
Lương Tất Nhợ (1993) [34] cho biết: Khảo sát vịt thương phẩm cv - Super

lkg trứng. Trước đây khi tính toán người ta chỉ tính lượng thức ăn cung cấp trong
giai đoạn sinh sản. Hiện nay nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đã áp dụng phương
pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng lượng chi phí cho ra cho gia cầm tù' 1 ngày
tuổi cho đến kết thúc 1 năm đẻ.
Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phấm còn phụ thuộc vào tính biệt, khí hậu, thời
tiết, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, cũng như tình hình sức khoẻ của đàn gia cầm.
Chambers J.R và cộng sự, 1984 [88] đã xác định được hệ số tương quan
giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng cơ thể với tiêu tốn thức ăn thường rất
cao (0,5 - 0,9%). Tương quan giữa sinh trưởng và chuyến hoá thức ăn là âm và
thấp tù' (-0,2 đến -0.8). Hiệu quả sử dụng thức ăn liên quan chặt chẽ đến tốc độ
sinh trưởng. Tiêu tốn thức ăn ít thì không những gia cầm lớn nhanh mà mức độ tích
luỳ mờ bụng cũng thấp, tăng chất lượng cho thịt.
Tiêu tốn thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế
trong chăn nuôi. Do vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tạo ra tố hợp lai
tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể thấp.
Một số kết quả nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn của vịt thịt:
Theo Hoàng Văn Tiêu và các tác giả (1993) [57], cho biết tiêu tốn thức ăn
cho lkg tăng khối lượng của vịt Anh Đào - Hungari nuôi từ 1 - 60 ngày tuổi ở các
thế hệ 1, 2, 3 tương ứng là 4,20kg, 3,65kg, 3,70kg.
Dương Xuân Tuyển (1993 [77], 1998 [78]), tiêu tốn thức ăn của vịt thương
phẩm cv - Super M từ 1 - 8 tuần tuối trung bình là 2,95kg. Tiêu tốn thức ăn của vịt
cv - Super M dòng trống giai đoạn 0-6 tuần tuổi, 0-7 tuần tuổi, 0-8 tuần tuối lần
lượt là 2,3lkg; 2,63kg; 3,09kg. Chỉ tiêu này ở dòng mái tương ứng là 2,44kg,
2,75kg, 3,20kg. Kết quả này cho thấy rõ quy luật tiêu tốn thức ăn tăng lên theo thời
gian nuôi. Chỉ tiêu này ở 8 tuần tuổi cao gấp 3,71 lần (dòng trống) và 3,86 lần
(dòng mái) so với tuần tuối thứ nhất.
Bên cạnh việc chọn lọc nhằm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn thì việc định ra
thời gian giết thịt phù hợp cũng góp phần giảm chi phí thức ăn và làm tăng hiệu
quả chuyển hoá thức ăn.Tuy nhiên, việc rút ngắn thời gian nuôi cũng có thế làm
giảm tỷ lệ thịt ức, tăng tỷ lệ da và mỡ. Do vậy tuỳ giống, dòng, mùa vụ, phương

2.1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi vịt thịt thương phấm
Trong chăn nuôi vịt thịt thương phẩm để đạt được hiệu quả cao nhất đòi hỏi
người chăn nuôi phải quan tâm đến hai vấn đề chính là thị trường tiêu thụ sản
phẩm chăn nuôi và kỹ thuật chăn nuôi vịt thịt thương phẩm. Thị trường tiêu thụ sản
phẩm là rất cần thiết, nó quyết định sự thành bại của nhà chăn nuôi, giúp nhà chăn
nuôi quyết định lựa chọn phương thức chăn nuôi hợp lý nhất mang lại hiệu quả
kinh tế cao nhất. Tuỳ thuộc thị trường cụ thể là thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng
mà lựa chọn phương thức chăn nuôi cho thích hợp và đối tượng nuôi cho thích họp.
Đối với những thị trường đòi hỏi chất lượng thịt cao như ở nhừng thành thị, nhà
chăn nuôi nên chọn nhừng giống vịt, những phương thức nuôi phù họp như: bán
công nghiệp hoặc chăn thả, sẽ tạo ra sản phấm có chất lượng thịt thơm ngon. Với
thị trường dễ tính nhà chăn nuôi có thế chọn những giống vịt có khả năng tăng
trọng cao, nuôi theo phương thức công nghiệp nhưng chất lượng thịt kém hơn. Như
vậy thị trường là rất đa dạng và biến đối không ngừng, vì thế đế thành công trong
chăn nuôi vịt thịt thương phẩm người chăn nuôi phải phân tích kỳ thị trường tiêu
thụ sản phẩm và quyết định chọn các giống vịt nuôi cho phù họp.
Khi có thị trường tiêu thụ sản phẩm, xác định được giống vịt nuôi người
chăn nuôi cần làm tốt những vấn đề liên quan đến kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
vịt. Việc lựa chọn con giống tốt kết họp với chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý sẽ
tạo điều kiện tốt nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của vịt, làm giảm chi phí
chăn nuôi, nâng cao giá thành sản phẩm. Đe làm tốt vấn đề này người chăn nuôi
cần phải quan tâm đến những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của vịt
nuôi thịt như thức ăn, nước uống, vệ sinh thú y, nhiệt độ, độ ẩm và độ thông thoáng
của chuồng nuôi
Đối với vịt thịt thương phấm được nuôi theo phương thức công nghiệp thì
khâu vệ sinh thú y có vai trò đặc biệt quan trọng, do vịt thịt thương phẩm có sức
sinh trưởng nhanh nên khả năng chống chịu với bệnh tật kém. Vì vậy công tác vệ
sinh thú y, phải thực hiện hết sức nghiêm ngặt. Trước khi nhập vịt về cũng như sau
khi xuất vịt đi chúng ta cần thực hiện vệ sinh khử trùng chuồng trại và các khu vực
xung quanh. Chuồng trại phải đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông

các bộ phận khác như: lòng trắng, màng vỏ và vỏ. Buồng trúng có chức năng tạo
thành lòng đỏ, còn các bộ phận khác như: Lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn
chứng tạo nên. Nhiều tài liệu nghiên cứu đều xác định ờ gia cầm cái, trong quá
trình phát triến phôi hai bên phải, trái đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở buồng
trứng bên phải mất đi, còn lại buồng trứng bên trái (Vương Đống, 1968 [13]).
Trong thời gian phát triến lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bời một
tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh. Tầng tế bào này trở thành
nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là íollicun,
bên trong íollicun có một khoảng hở chứa đầy một chất dịch. Be ngoài íollicun
trông giống như một cái túi. Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun trở nên chín làm
thay đói hình dạng buồng trúng trông giống như "chùm nho". Sau thời kỳ đẻ trúng
lại trở thành hình dạng ban đầu, các íollicun chín vỡ ra, tế bào trứng chín ra ngoài
cùng với dịch íollicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng.
Các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, hầu hết vật chất lòng dở trứng gia cầm
được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 - 1 0 ngày, tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ từ 1
đến 3 ngày đầu rất chậm, khi đường kính của lòng đỏ đạt tới 6 mm, bắt đầu vào
thời kỳ sinh trưởng cực nhanh, đường kính có thể tăng 4 mm trong 24 giờ, cho tới
khi đạt đường kính tối đa 40 mm. Tốc độ sinh trưởng của lòng đở không tương
quan với cường độ đẻ trứng. Quá trình hình thành trúng và rụng trúng là một quá
trình sinh lý phức tạp, do sự điều khiển của hoocmon.Thời gian từ lúc đẻ quả trứng
và thời gian rụng trứng sau kéo dài 15 - 75 phút.
Theo Melekhin G.p và Niagridin, 1989 (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994
[27] thì sự rụng trứng ở gà, vịt xảy ra một lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi
đẻ trúng. Trường hợp nếu trúng đẻ sau 16 giò' thì sự rụng trúng sẽ chuyến đến đầu
hôm sau. Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo.
Neu lấy trúng ra khỏi tủ’ cung thì không làm tăng nhanh sự rụng trứng được.
Te bào trứng rơi vào phễu và được đấy xuống ống dẫn trứng, đây là một
ống dài có nhiều khúc cuộn, bên trong có tầng cơ, trên thành ống có lớp màng nhầy
lót bên trong, trên bề lớp màng nhầy có tiêm mao rung động. Ống dẫn trứng có
những phần khác nhau: phễu, phần tạo lòng trắng, phần eo, tử cùng và âm đạo.

Gudeil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng: có các gen trên nhiễm sắc
thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này (dẫn theo Khavecman, 1972
[19]). Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [29] có ít nhất hai cặp gen
cùng quy định, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai gen E' và
e\ Có mối tương quan nghịch giữa tuối đẻ và năng suất trúng, tương quan thuận
giữa tuổi đẻ và khối lượng trúng. Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di
truyền, chế độ nuôi đường, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng,
thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đây gia câm đẻ sớm (Khavecman, 1972 [19]).
Dickerson (1952), Ayob và Merat (1975) (dẫn theo Trần Long, 1994 [24])
đã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng có thể gà chưa trưởng
thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (- 0,21 đến - 0,16). Còn Nicola và
Cộng sự tính được hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng
trúng là 0,11.
+ Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ
Năng suất trúng là số lượng trúng một gia cầm mái sinh ra trên một đơn vị
thời gian. Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó
phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục. Năng suất trứng
là một tình trạng số lượng nên nó phục thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Năng
suất trứng phục thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện
dinh dường, chăm sóc.
Hutt F.B 1978 [17] đề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm đẻ quả
trứng đầu tiên, còn Brandsh H. và Biilchel H, 1978 [3] cho biết sản lượng trứng
được tính đến 500 ngày tuối. Theo các tác giả trên, sản lượng trứng cũng được tính
theo năm sinh học 365 ngày, kể tù' ngày đẻ quả trứng đầu tiên. Trong thời gian gần
đây, sản lượng trứng được tính theo tuần tuổi.
Năng suất trúng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc độ
sinh trưởng sớm. Do vậy, trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, cần chú ý cho gia cầm
ăn hạn chế trong giai đoạn gia cầm con và hậu bị để đảm bảo năng suất trứng trong
giai đoạn sinh sản. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng
thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status