TAP CHi KHOA HỌC ĐHQGHN, KINH TẾ - LUẬT, T.xx. sỏ' 4, 2004
S Ử D Ụ N G CÔNG CỤ LẢI S U A T TR ON G KIEM SOÁ T LẠM PHÁT
ở VIỆT NAM
Vù Thị D ậu
phát). Sự nghiên cứu cho thấy: nhừng nước
Fisher đã đưa ra phương trình:
i = ir +
Từ đó có:
ir
ne
=i - n
trải qua lạm p h á t cao cũng chính là những
(1)
nước có những mức lãi s u ấ t cao. Ba nước có
(2)
tỷ lệ lạm ph á t cao n h ấ t là Ý, Pháp, Canad a
cũng là ba nước có mức lài s u ấ t cao nhất;
Trong đó:
i : lài s u ấ t d a n h nghĩa;
bốn nước có tỷ lệ lạm p h á t t h ấ p là Nhật,
Đức, Hà Lan, Th uỵ Sỹ, cùng là nhửng nước
i r : lãi s u ấ t thực tế;
vào thập ký 90 của thê ký XX. Tý lệ lạm phát
điều kiện nền kinh tê thị trường hiện đại.
của các nước này thậ m chí ỏ mức âm (Nhặt
Hệ thông dự trữ liên ban g Hoa Kỳ
(Fed), trong nhữn g th ậ p kỷ nền kinh tế
phai đối mặt với tình t r ạ n g n a n giải của tỷ
lộ lạm phát, cùng với việc sử dụng các công
cụ khác, dà tích cực sử d ụ ng công cụ lãi
suất dế kiếm soát lạm phát. Nh ữn g năm
1979 - 1982, lạm phát ỏ Mỹ đêu ở mức hai
Bản: -2%/năm, T ru ng Quốc: -2,6%/năm).
Chính phủ các nước này đã phải sử dụng
nh iều biện ph áp và công cụ khác nh au đê
th o á t khỏi giảm phát, trong đó có việc hạ
lãi s u ấ t (Nhật Bản phải thực hiện mức lãi
s u ấ t bằng 0, còn T r u n g Quốc từ năm 1996
đến th á n g 7/1997 đã 7 lần h ạ lãi suất).
con số. B ằn g việc nâ ng lãi s u ấ t chiêt kh ấu
Tuy nhiên, sử dụ n g công cụ lài suất
lèn tới mức cao trong lịch sử nước Mỹ
trong kiểm soát lạm p h á t không thê duy
một con sô" trong các nă m 1980, 1981, thì
ph át hai con sô cho tới năm 1981, 1982.
cái giá phải t r ả là cuộc đại suy thoái của
Năm 1981, Ngân hà n g T r u n g ương Ph áp
tống cầu và s ản lượng, do vậy, từ cuôì năm
dà phái nâng lãi s u ấ t chiết k h ấ u lên 17,
1982, Fed đà phải hạ lãi s u ấ t chiết khấ u từ
5% và lãi s u ấ t thị trường lên 15,28 % - mức
mức 11,5% n ă m 1981 xuổng mức 9,25%
lãi s u ấ t cao n h ấ t trong lịch, sử nước Pháp
n ă m l 9 8 2 . Nước P h á p cũng diễn ra tình
từ 1968 đến nă m 1996 - đê đẩy lùi lạm
t r ạ n g tương tự, chông lạm ph á t hai con sô'
phát. Chí trong vòng 6 tháng, lãi s uất chiết
bằ n g việc tă n g lãi suất, tông cầu đã sụt
lãi s u ấ t để khắc phục lạm ph á t trong mọi
chương trình ôn định của Tri ều Tiên và
trường hợp, do lạm p h á t có nhiều nguyên
Đài Loan vào giừa năm 1960, của Indonesia
n h â n khác nhau. Lãi s u ấ t được sử dụng tốt
vào n ă m 1968 và 1974.
n h ấ t trong trư òng hợp do nguyên nhân
T ạp ( h í K h oa li(H f ) / / Ọ ( l / / ; \ Kinh tc - Luật. I XX. Sõ 4, 2004
6 2 __________________________________________________________
Vũ Thị L)iiII
tàng trương tiền tệ quá cao, khi đó, tă n g
ng àn h khác nhau. Như vậy. đên lúc này dã
lài s uất sè kiềm chê được lạm phát.
có sự đôi mới trong q ua n điếm và cách
nhìn nh ậ n vê vấn đê lạm phát, từ đỏ,
chính thức, mà nó chỉ được chính phủ quy
sách tiền tệ, trong đó có công cụ lãi suất đê
vào xử lý theo khía cạ nh “giá, lương, tiền”,
kiêm soát lạm phát.
chủ yếu bằn g các biện phá p h à n h chính.
Nám 1986, lạm phát lên tới 747%/năm và
duy trì ớ mức ba C011 số tiếp 3 n ă m sau, đã
đặt nền kinh tê Việt Na m vào tình t r ạ n g
“lạm ph át phi mà" ỏ mức cao. Lạm p h á t
hai con số còn tiếp tục tới nă m 1995 (riêng
năm 1993 là 5,3%/ năm). N hư vậy, bước
vào công cuộc đối mới kinh tế, Việt Nam
phải dôi m ặ t ngay với tình tr ạ n g lạm p h á t
rấ t cao và kéo dài trong nhiều nãm. Mức
lạm phát nghiêm trọng này đà d ẫ n đến
Nhà nước phái liên tục p h á t h à n h tiền đê
đáp ứng như cầu chi tiêu trong nên kinh
tế, kết quá là lạm p h á t tiếp tục tăng.
Lượng tiền trong lưu thông nêu lấy n ă m
1976 làm mốc là 1, thì nám 1980 tă n g gâp
2,2 lán; năm 1985 tă n g gấp 29,9 lẩn; n ă m
1986 tăng 131,1 lẳn; n ă m 1987 gấp 548
lầ n . K h ò ì lư ợ n g t iề n p h á t h à n h v à o lư u
định gắ n liền với nh ữn g bước thực hiện đồi
Nă m 1983, nếu khách hà n g gửi 1000 đồng
nước Việt Nam đà đặ t vấn đề phải chông
vào n gâ n hàn g thì sau 1 nám giá trị món
lạm ph át một cách cấp bách. Sau đó, các
tiền đó chí còn khoả ng 700 đồng; tương tự,
chương trình chông lạm p h á t đã được soạn
n ă m 1986 chỉ còn 200 đồng. Thu nhập
thảo ỏ nlìiều cơ qu an thuộc các cấp, các
thấp, các hộ gia đình Việt Na m chi có thê
T ạ p clìi K h o a học D H Q G H N . Kinlì t ế - Luai. I XX. Sn-Ậ, 2004
S ử d ụ III! c ò m : t ụ l ã i s i i i i l I r o n n k i ê m s o á i
co nỉuìnu khoan tiêt kiệm ít oi. họ không
T r u n g ương đã tiên hà n h hoạch định và
thẻ dô khoan tiêt kiệm đó bị mất dẩ n giá
thực thi chính sách tiên tệ, trong đó chú
lãi s u ấ t thoá thu ậ n. Lài suất bao câp giúp
T h ứ h a i, lãi s u ấ t âm khiên các doanh
cho các doanh nghiệp có điều kiện chuyên
nghiệp vay vốn được lợi. Trong điểu kiện
dầ n sang h oạ t động theo cơ ch ế thị trường.
hà n g hoá kha n hiếm, giá hà n g hoá tă ng
Lãi s u ấ t thoả t h u ậ n gồm có lài s u ấ t thoả
cao, các doanh nghiệp, n h ấ t là các doanh
t h u ậ n của các ngâ n h à n g chuyên doanh và
nghiệp nhà nước càng đô xô vào vay vôn
lãi s u ấ t thoả t h u ậ n của các tô chức ngoài
ngân hà ng (lè duy trì sán xuất kinh doanh
quốc doanh. Sự đôi mới n h ậ n thức vê lài
rồi gãm hàniĩ chò ịĩìi\ hà ng tă n g cao hơn đê
s u ấ t này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
h ì n h đó d ẫ n đến m ặ t bằ n g giá chung của
Điều đó cho thấy: việc áp dụ n g chính sách
nền kin h t ế vào thời điểm nă m 2000 thấp
lãi s u ấ t linh hoạt không đơn giản, khiến
hơn nhiều so với n ă m 1999 (-1,6 % so với
cho lài suất trở nên không còn phù hợp với
+0,1%). Nă m 2001, với nh ữn g biện pháp
th a y đôi của lạm phát.
kích cầu của chính phú n hà m khác phục
Nhìn chung, kiêm soát lạm ph á t của
Việt Nam trước n ă m
1996 (chủ yếu là
chông lạm ph á t cao) đã tạo ra được những
điều kiện t h u ậ n lợi cho nền kinh t ế đạt
được t h à n h tựu q u a n trọng: GDP tă n g gấp
đôi so với trước đối mới kinh tê, nền kinh
T ạ p í hi K h oa học D I I Q C i l l N . Kinh lờ - Luật, 'I XX. Sò 4, 2004
giảm lãi suất: n ă m 1996 có 4 lẩn, năm
đạt 6,8%).
1997 có 2 lần, n ă m 1999 có 5 lần. Việc dồn
Phâ n tích nguyên n h â n của tình hình
dập hạ lãi s u ấ t trong nh ữn g nă m này với
giảm phát này có nhiều ý kiến khác nha u,
mục tiêu chặn đứng đà giảm p h á t không
nhưng tựu ch ung lại thì giảm p h á t có
đ ạ t được k ế t q u ả n h ư mon g đợi, giảm
nguyên nh â n từ th ể c hế và cơ cấu kinh tế,
p h á t tiếp tục t r ầ m tr ọn g t h ê m tro ng các
do thu nh ập của dâ n c húng th ấ p lại không
n ă m 2000, 2001 (chỉ sô' t ă n g giá n ă m
đồng đều, do đầu tư không hiệu quả và sự
2000 là -0,6%, n ă m 2001 là 0,8%). Điều đó
N ă m 2002 và 2003 hiện tượng giảm
08/1999/ NQ - CP của C hính phủ tiếp tục
p h á t có giảm, tuy vẫn còn tron g một sô
đưa ra 7 giải pháp cấp bách đế chống giảm
tháng, song đà thực hiện được chí tiêu về
phát.
mức độ lạm ph á t không vượt quá 4% do
Trong các giải ph áp trôn, Nhà nước đặc
biệt sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng,
với việc tích cực đối mới chính sách lãi s uất
theo hướng tự do hóa đế cải thiện tình
hình. Chính sách lài s u ấ t theo hướng ngày
càng nới lỏng sự can thiệp của Ngân h à n g
Tr un g ương, tiến tới tự do hoá lãi s u ấ t
được thực hiện qua nhiêu bước. Ngay từ
năm 1996 đã thực hiện điều h à n h lãi s u ấ t
theo t r ầ n lãi s u ấ t cho vay tôi đa kèm theo
việc khống chê mức chênh lệch bình quâ n
giữa lãi s u ấ t cho vay và lãi s u ấ t tiền gửi.
Từ th á n g 8/2000 - t h á n g 5/2002 thực hiện
điều hà nh theo lài s uấ t cơ hán. Từ th á n g
trưởng kinh t ế cao và bền vừng giai đoạn
cũng đ ạt được hiệu quả mong muôn.
2001 - 2005 đà đ ặ t ra bài toán khó đối với
T h ứ h a i, lãi s u ấ t là một loại giá đặc
các n h à hoạch đ ịn h chính sách kinh tê.
biệt, do vậy, khi nó được sử dụng làm công
Ngân h à n g N hà nước Việt Nam chủ trương
cụ kiểm soát lạm p h á t thì bản th â n nó
ổn định lãi s u ấ t cơ b ả n ở mức 0,625%/
phải được qu a n niệm một cách đúng đắn
t h á n g với mục tiêu hoàn t h à n h chỉ tiêu
và đầy đủ. Việc xác định lãi s u ấ t ở mỗi
tă ng trưởng k in h tê năm 2004 là từ 7,5-
quốc gia là khác nha u, song trong điều
8%. Tuy nhiên, lãi s u ấ t trên thị trường
vậy, các biện p h á p kiềm c hế lạm p h á t phải
n hằ m vào việc kiể m soát dược giá các loại
các công cụ khác n h a u đê đ ạ t được kê t quá
tốt nhất.
vào" này. Song, dù là
T h ứ tư, trong điều kiện diễn biến của
nguy ẽn nh â n nào thì để khắc phục lạm
lạm p h á t phức tạp, cần t h ậ n trọng trong
h à n g hoá “đầ u
ph át vẫn cẩn có sự điều chỉnh lãi s u ấ t cho
phù hợp với q u a n hệ cung - cáu về vôn trên
việc sử dụng công cụ lãi s u ấ t đế có thế đạ t
được nh ữn g mục tiêu kinh tê đã xác định
(không để lãi s u ấ t trở t h à n h yếu tố cản trỏ
thị trường .
việc thực hiện các mục tiêu khác).
TÀI L IỆ U T H A M K H Ả O
1.
7.
Nguyễn Minh Phong, Lý thuyết lạm phát, giảm phát và thực tiễn ở Việt N a m , Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2000.
8.
Thời báo kinh tê Việt Nam, Kinh tê Việt N am và Thê giới: 2000-2001, 2001-2002, 20022003, 2003-2004.
9.
Viện tiền tệ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tin chuyên đề lải suất ngân
hàng tập i, tập 2, 1991.
VNU. JOURNAL OF SCIENCE. ECONOMICS-LAW, T .x x , N04, 2004
USING THE INTEREST RATE TOOL IN CONTROLLING INFLATION
IN V IE T N A M
Vu Thi Dau
Faculty o f Econom ics, V ietnam N atio na l University, Hanoi
Inflation controlling is one of the most essential targe ts of each country. To reach this
target, each country h a s to use various me asures a n d different tools. One of the popularly
used tools in controlling inflation is the interest rate tool. Using this tool in reality has
brought about lessons of success for ma ny countries.
Vietnam is a nation which successfully stopped the th ree digit inflation by using
interest ra te tool in the late 80s of the XX century. Moreover by gradually completing this
tool, from 1986 until now, inflation ha s been controlled in the level of one digit.
However, to use the in te re st rate tool efficiently for the targe t of inflation controlling,