PHẦN I : LÍ LỊCH
Họ và tên : Trần Thị Khuy
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường THCS Đình Cao
TÊN ĐỀ TÀI :
PHƯƠNG PHÁP DẠY TIẾT
“TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN BIỂU CẢM VỀ SỰ VẬT, CON NGƯỜI” LỚP 7
1
PHẦN II:NỘI DUNG
A. Mở đầu
1. Đặt vấn đề
a. Thực trạng của vấn đề
“Văn học là nhân học”. Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và
trong sự phát triển tư duy của con người.
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan trọng
trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng thời cũng là
môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn
học khác. Học tốt môn Văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại,
các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng
cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn
hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống.
Môn văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn: Văn học, Tiếng
việt, Tập làm văn. Trong thực tế dạy và học, phân môn tập làm văn là phân môn
“nhẹ kí” nhất. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Dạy làm văn là chủ yếu
là dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung
thành, sáng tỏ chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói”. . . ( Dạy văn là một
quá trình rèn luyện toàn diện, Nghiên cứu giáo dục, số 28, 11/1973).
Năm học 2013 – 2014 và 2014 - 2015 tôi được phân công giảng dạy môn ngữ
Điểm dưới
học
tiết trả bài tập
bình trở lên
trung bình
sinh
làm văn
SL
%
SL
%
SL
%
2014-
7A
37
Từ kết quả khảo sát cho thấy gần một nửa học sinh không hứng thú với giờ trả
bài tập làm văn (trong số đó có nhiều em chỉ thích học tiết học này chỉ vì mong
chờ điểm số) và dẫn đến chất lượng tập của học sinh còn thấp.
* Nguyªn nh©n
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên thì có nhiều song theo tôi, do một số
nguyên nhân chủ yếu sau:
- Đối với người dạy
+ Đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến
học sinh nhưng vẫn còn những mặt hạn chế sau :
+ Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ
học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao.
+ Phương pháp tổ chức của giáo viên ở mỗi tiết dạy còn đơn điệu, thiếu đầu
tư, chưa kích thích đựơc tính tích cực và sáng tạo của học sinh nhất là tiết trả bài
tập làm văn.
- Đối với học sinh
+ Một số học sinh vì lười học, chán học nên không chuẩn bị tốt tâm thế cho
giờ học văn.
3
+ Một số học sinh lười hoặc không bao giờ đọc sách, kể cả văn bản trong
SGK.
+ Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như
xem ti vi, chơi game... ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học, bị
lôi cuốn, xao nhãng việc học .
Để nâng cao chất lượng dạy tiểt trả bài văn biểu cảm , trước hết cần rèn cho
các em nhận thấy được những sai sót trong bài làm của mình để sửa lỗi. Biết dùng
từ, đặt câu và trình bày bài hợp lí có sức thuyết phục. Tự uốn nắn sửa chữa những
nằm ở giai đoạn cuối, nghĩa là giai đoạn “ tổng kết đánh giá sản phẩm” vì thế ở
tiết học này đòi hỏi người giáo viên sự nổ lực không ngừng để tìm ra cách dạy sao
cho học sinh cảm nhận sự lý thú, ham mê muốn học. Người giáo viên làm được
công đoạn “đánh giá sản phẩm công bằng, khách quan”, qua đó học sinh có điều
kiện trau chuốt, gọt dũa “ tác phẩm ” của mình và học cách viết tốt hơn.
Trong hệ thống chương trình giáo dục phổ thông, chỉ có môn Ngữ văn mới
được bố trí tiết trả bài. Trong một năm học, ở lớp 7 số tiết trả bài là 7 đến 8 tiết. Đó
là một thời lượng rất đáng kể đủ để nói lên tầm quan trọng của việc chấm và trả bài
tập làm văn cho học sinh.
Thông qua việc chấm và trả bài tập làm văn giáo viên có thể giúp học sinh
nhận ra những sai sót, những hạn chế trong bài làm của mình để làm tốt hơn ở bài
sau. Vì vậy nhất thiết ở mỗi tiết trả bài, giáo viên cần phải có sự đầu tư thỏa đáng,
kĩ lưỡng và sát thực với chất lượng bài viết của học sinh để có thể chỉnh sửa, uốn
nắn kịp thời những gì mà các em chưa làm được từ khâu tìm hiểu đề đến bước viết
bài hoàn chỉnh.
Căn cứ vào những yêu cầu về đề bài, về tình hình làm văn của học sinh, việc
chấm và trả bài của giáo viên, mà giáo viên có thể tự đánh giá quá trình dạy học
của mình để có biện pháp nhằm nâng cao kết quả giảng dạy.
a 2. Cơ sở thực tiễn.
Trong những năm qua nhiều hình thức, phương pháp dạy học mới đã được áp
dụng ở hầu hết các cấp học, chính vì vậy chất lượng giáo dục đã ngày càng được
nâng cao. Riêng bộ môn ngữ văn, chất lượng giảng dạy đã có nhiều biến chuyển,
tuy nhiên trên thực tế có nhiều học sinh còn xem nhẹ không hứng thú học tập môn
ngữ văn, đặc biệt là phân môn tập làm văn.
Tiết trả bài viết khó cả về mặt lí thuyết lẫn thực tiễn . Mặt khác không ít giáo
5
viên chủ quan, chưa hoặc không nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của tiết
học “Trả bài ”, cho nên trong tiết trả bài viết, giáo viên thường làm các công việc
Song xét về góc độ thực tiễn, có thể nói rằng có mấy giáo viên quan tâm chú ý
đến tiết dạy “Trả bài viết ” theo đúng yêu cầu; cũng như có mấy học sinh ý thức
được qua tiết học đó em học được gì? hay chỉ mong được biết điểm . Vì vậy, dạy
chưa tốt, học chưa thông thì làm sao mang lại hiệu quả chất lượng được? Hệ quả là
học sinh tiếp tục làm văn chưa tốt là điều không thể tránh khỏi. Đó là điều băn
khoăn trăn trở trong tôi và cũng là điều bức xúc của không ít giáo viên khi giảng
dạy “ Tiết trả bài tập làm văn biểu cảm về sự vật, con người ”. Vì thế tôi xin nêu ra
một số biện pháp mà tôi đã rút ra từ quá trình giảng dạy, qua nghiên cứu học tập và
qua các đồng nghiệp .
b. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp
Khi thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- So sánh - đối chiếu
- Phân tích - tổng hợp
- Thống kê - phân loại
B. Nội dung.
1. Mục tiêu.
a. Mục tiêu tổng quát
Sáng kiến kinh nghiệm này tổng kết các phương pháp, cách thức kĩ năng mà
người viết thu được từ hoạt động thực tiễn giảng dạy ở trường THCS đang giảng
dạy.
Những việc đã làm từ thực tế trong giảng dạy môn ngữ văn được đúc rút ra
thành kinh nghiệm. Thông qua sáng kiến kinh nghiệm này mong muốn phần nào
hoặc là sự gợi ý, sự tham khảo đối với mỗi giáo viên giảng dạy môn ngữ văn.
b. Mục tiêu cụ thể
Có thể nói, khâu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bài viết tập
làm văn nói chung, bài viết về văn biểu cảm nói riêng chính là việc chấm bài. Bộ
giáo dục đã từng nhận xét về tình hình giảng dạy tập làm văn như sau: “Thiếu sót
lớn nhất trong việc giảng dạy là việc chấm bài. Bên cạnh những số đông tận tụy là
những giáo viên chưa có đầy đủ tinh thần trách nhiệm trong việc chấm. Nhiều giáo
Để khắc phục tình trạng chấm bài chưa tốt cần đi từ những vấn đề có ý nghĩa lí
luận trong việc chấm bài đến kĩ thuật chấm bài.
Chấm bài một cách nghiêm túc, kĩ càng, chính xác là yêu cầu đầu tiên cần
làm tốt . Đặc thù của bộ môn không cho phép người giáo viên đọc qua loa. Như
8
vậy sẽ rất dễ bỏ qua những sáng tạo cũng như những hạn chế của học sinh.
2.3. Những vấn đề có ý nghĩa lý luận trong việc chấm bài.
Trước hết ta cần bàn đến quan điểm, thái độ ứng xử của nhà giáo đối với bài
làm của học sinh. Thường thì giáo viên chỉ xem bài làm của học sinh như là một
kết quả học tập phải nộp theo nghĩa vụ. Giáo viên có nghĩa vụ chấm bài đó. Giáo
viên cần nhìn nhận được rằng : Bài làm của học sinh là một sản phẩm lao động cực
nhọc của các em.
Tiếp xúc với bài làm của học sinh là tiếp xúc với một tiếng nói, một con
người. Đằng sau những dòng chữ ấy là những hồi hộp chờ mong từng ngày, từng
giờ, từng phút thầy, cô giáo công bố kết quả. Với cách nghĩ như vậy, khi chấm bài
giáo viên sẽ có một thái độ ứng xử đẹp đẽ, đúng đắn trước mọi điều hay dở trong
bài làm của học sinh. Cần trân trọng tìm tòi, cảm thông từng sai sót, vừa nghiêm
khắc, vừa độ lượng trong từng khuyết điểm ở bài làm của học sinh. Thiếu cảm
thông, thiếu trân trọng là điều đáng tránh, đồng thời cũng cần tránh thái độ gg̣ò ép
cách suy nghĩ của giáo viên cho học sinh.
Giáo viên không nên lấy cách nghĩ của mình để gạt bỏ, phê phán cách cảm
nhận của học sinh. Cần phải đọc kĩ, phải lắng nghe và tìm hiểu từng chữ, từng lời
trong bài làm của các em. Cần trân trọng những ý nghĩ độc đáo của học sinh để
động viên khuyến khích, không vội vàng tập cho các em quen với ngôn ngữ người
lớn mà giúp đỡ các em trau dồi và hình thành ngôn ngữ văn học riêng của mình.
Tình trạng không hiểu, không cảm thông với học sinh, lấy tư duy của mình
làm chuẩn để phán xét học sinh, đánh giá suy nghĩ của học sinh sẽ khiến học sinh
ngày càng xa cách với giáo viên và ngại làm văn trong nhà trường.
- Một điều tôi muốn nói ở đây nữa là, khi chúng ta chấm bài cần phải để cho
đầu óc thư thái, không vướng bận một điều gì, tránh để cho các bài văn của học
sinh lại chính là nơi ta trút những cơn giận dữ mà nguyên nhân không phải là do
các em. Ta nên giành một khoảng thời gian đủ để chấm một xấp bài trọn vẹn, tránh
chấm bỏ dở giữa chừng.
Chẳng hạn ở bài viết số 2 (văn biểu cảm về loài cây em yêu). Trước khi chấm
bài, tôi sẽ đọc qua một lượt bài viết của cả lớp, sau đó phân loại bài. Tôi chia ra
loại bài thứ nhất là: làm đầy đủ ý, bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, ít lỗi chính tả,
lỗi dùng từ, đặt câu, chữ viết rõ ràng, sạch đẹp. Loại bài thứ 2: Đối với loại bài này
mắc lỗi nhiều hơn ở loại bài thứ nhất. Loại bài thứ 3: Mắc nhiều lỗi trầm trọng. Tôi
10
phân loại ra như vậy để khi chấm sẽ tránh những lệch lạc về điểm số trong bài làm,
khi trả bài cũng dễ nhận xét về nội dung và hình thức trình bày của bài viết vì đã
nhóm các loại bài lại với nhau.
Khi chấm bài giáo viên phải đọc kĩ lưỡng từng phần một trong bài làm của các
em. Giáo viên gạch chân những lỗi trong bài viết và ghi tắt lời nhận xét ở bên trái
của mặt giấy (chẳng hạn dùng từ lặp đi lặp lại nhiều lần mà không có tác dụng liên
kết thì giáo viên sẽ ghi “lặp từ”, hoặc cách dùng từ, diễn đạt, liên kết viết tắt, viết
hoa tùy tiện…)
Như vậy, giáo viên ghi rõ ràng lỗi trong bài làm của học sinh giúp các em
nhận thấy những sai sót cụ thể trong bài làm của mình. Có thấy sai thì mới rút kinh
nghiệm để sửa lỗi và từ đó mới làm tốt hơn ở bài sau.
2.4. 2. Ghi lời nhận xét.
Lời nhận xét trong bài viết của học sinh là rất quan trọng. Chấm bài xong giáo
viên phải ghi lời nhận xét. Tránh ghi lời nhận xét chung chung theo kiểu vô
thưởng, vô phạt hoặc lời phê chỉ mang tính xếp loại như còn yếu, khá, thường,
giỏi... Như vậy các em sẽ không biết được mình làm tốt mặt nào và mặt nào còn
hạn chế để rút kinh nghiệm cho bản thân.
thao tác đọc đề, gạch chân những từ quan trọng trong đề.
Ví dụ đề bài: Loài cây em yêu (cây tre Việt nam, cây cảnh...)
GV hướng dẫn HS làm rõ các ý sau:
- Phần nội dung cần làm rõ:
+ Yêu cầu: Học sinh nêu được cảm nghĩ của mình.
+ Dạng đề bài : biểu cảm
+ Phạm vi tư liệu : loài cây
Nhằm giúp học sinh có thói quen và thuần thục kĩ năng tìm hiểu đề và xác
định đúng yêu cầu của đề bài, tránh tình trạng lạc ý, xa đề, tức là không đảm bảo
tính định hướng.
- Giúp HS dễ dàng nắm được thể loại, dạng đề, đối tượng biểu cảm, phạm vi
tư liệu...Từ đó, giáo viên định hướng cho học sinh làm bài:
+ Viết về cái ǵì?
+ Viết để làm gì?
+ Cần huy động những nội dung kiến thức nào?
+ Viết như thế nào?
12
3.2. Lập dàn bài:
Giáo viên tổ chức xây dựng dàn bài cho bài văn. Việc lập dàn ý giáo viên đã
cho HS thực hiện trước khi làm bài vì vậy ở giờ trả bài, giáo viên sẽ gọi học sinh
lên bảng trình bày lại dàn ý, xây dựng theo bố cục ba phần:
a. Mở bài:
- Giới thiệu loài cây em yêu thích (cây gì? ở đâu)
- Lí do mà em yêu loài cây đó.
b.Thân bài:
Nêu các đặc điểm gợi cảm của cây:
- Loài cây trong cuộc sống mọi người.
- Loài cây trong cuộc sống của em.
3.4.1. Sửa lỗi :
Đây là một trong những hoạt động quan trọng của tiết trả bài, bởi vì mục đích
cao nhất của giờ trả bài là phát hiện và khắc phục tồn tại trong bài làm của học
sinh.
Sau khi học sinh nắm được yêu cầu làm bài và sơ bộ đánh giá bài làm của
mình, giáo viên mới trả bài cho học sinh. Giáo viên không nên chê trách học sinh.
Việc chữa lỗi tuỳ thuộc vào kết quả bài làm cụ thể của mỗi lớp và kế hoạch rèn
luyện kĩ năng cụ thể của giáo viên. Giáo viên cần chú ý đến định hướng bài làm,
đến cách trình bày nội dung bài viết của các em. Điều quan trọng nhất là giáo viên
cần phải động viên, khích lệ học sinh làm cho các em tin tưởng rằng mình vẫn có
thể đạt kết quả cao hơn nếu mình thật sự cố gắng.
Việc sửa lỗi nên tập trung vào các mặt sau :
- Sai sót về nội dung và phương pháp làm bài
+ Lỗi lạc đề : Chưa hiểu đề nên sai lạc về nội dung và phương pháp.
+ Lỗi lệch đề : Chưa xác định đúng trọng tâm yêu cầu bài.
- Về hình thức :
+ Lỗi dùng từ, lỗi chính tả.
+ Lỗi diễn đạt ý.
+ Lỗi liên kết câu, liên kết đoạn.
+ Lỗi trình bày.
Chẳng hạn ở bài viết số 2 : văn biểu cảm về loài cây em yêu.Trước khi trả
bài, giáo viên sẽ trình chiếu một số câu, đoạn văn trong bài làm của học sinh mắc
14
lỗi về cách diễn đạt, dùng từ chưa chính xác, lỗi về liên kết câu, lỗi chính tả... Sau
đó hướng dẫn gọi học sinh nhận xét và tìm lỗi trong các câu, đoạn văn trên, sửa
những lỗi đã mắc phải.
Ví dụ 1 : Hai bên đường đi ở làng em có những khóm tre già và to, và được
những người dân nơi đây yêu quý. Và em cũng thích loài cây này, vì cây tre tượng
muốn cảm ơn cô rất nhiều vì tất cả các điều hay, bổ ích mà cô đã truyền đạt những
hiểu biết cho chúng tôi. Mong cho các thầy cô sẽ tiếp tục dẫn dắt nhiều thế hệ
măng non bước qua cánh cửa dẫn đến một tương lai tươi đẹp.
Sửa lại : Tôi rất yêu quý và kính trọng cô. Qua đây, tôi cũng muốn cảm ơn cô
vì cô đã dạy cho chúng tôi nhiều điều hay, lẽ phải. Tôi mong rằng cô luôn mạnh
khỏe để tiếp tục với sự nghiệp trồng người mà cô đã chọn.
Như vậy, sau khi học sinh được trực tiếp quan sát và sửa những lỗi sai cụ thể
trong bài viết, tôi nhận thấy các em đã rút kinh nghiệm rất nhiều trong những bài
viết tiếp theo của mình.
Việc sửa lỗi trong bài làm của học sinh là vô cùng quan trọng. Vì thế người giáo
viên cần phải đầu tư kĩ lưỡng từ khâu chấm bài, có như vậy mới giúp học sinh phát
hiện và sửa lỗi kịp thời để những bài viết sau không còn lặp lại nữa.
Ngoài việc sửa lỗi cho học sinh, giáo viên cần đọc cho học sinh nghe và xem
cụ thể một số đoạn văn, bài văn làm hay, ít mắc lỗi của các bạn trong lớp để rút
kinh nghiệm ở bài làm của mình.
Chẳng hạn : Tôi sẽ đọc cho học sinh nghe phần mở bài, bài viết biểu cảm về
người thân (người mẹ và một đề viết về cô giáo) một đoạn phần thân bài.
Sau khi giáo viên đọc cho học sinh nghe, sẽ gọi một vài em nhận xét về bài
làm của bạn. Qua đó các em sẽ học hỏi những điều hay trong bài làm của bạn và
rút kinh nghiệm cho bản thân từ đó sẽ viết tốt hơn ở những bài sau.
3.4.2. Trả bài :
Giáo viên trả bài cho học sinh. Thời gian còn lại, yêu cầu học sinh tự sửa bài
làm của mình tại lớp: Giáo viên căn cứ vào các bước ở trên, nhất là chất lượng bài
viết của học sinh để nhận xét cụ thể và sửa những lỗi thông dụng mà các em
thường mắc phải trong quá trình làm văn (nếu có):
Từ kết quả thống kê được sau khâu chấm bài, giáo viên chú ý sửa các lỗi
nội dung, hình thức mà các em mắc phải.
Giáo viên yêu cầu học sinh so sánh với dàn bài đã lập ở trên so sánh với bài
16
hơn ở bài làm văn sau.
17
Tóm lại. Quy trình chấm bài, trả bài tập làm văn là quy trình, kĩ thuật, đg̣òi hỏi
sự tỉ mỉ, công phu. Đây là một quy trình gắn liền với tinh thần trách nhiệm, lương
tâm nghề nghiệp, tình thương yêu của giáo viên giành cho học sinh.
4. Giáo án minh họa
Tuần 12
Ngày soạn:
Tiết 42
Ngày dạy
TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 2
I. Mục tiêu:
1/ Kiến thức:
- Học sinh nắm được các kiến thức cần đạt trong bài viết
- Nhận biết những ưu điểm, nhược điểm trong bài văn của mình biết cách sửa
lỗi.
2/ Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng dùng từ, viết câu, viết đúng chính tả cho học sinh.
- Học sinh có ý thức sửa lỗi, vận dụng các kinh nghiệm để bài sau làm tốt hơn.
3/Thái độ: Giáo dục ý thức biết lắng nghe và rút kinh nghiệm cho mình và cho bạn
bè
II. Chuẩn bị:
- Giáo viên: Các lỗi của học sinh, dàn ý, bài viết của học sinh
- Học sinh: Vở ghi, SGK
II.Tìm hiểu những yêu cầu của đề
1. Yêu cầu
*/ Tìm hiểu những yêu cầu của đề
- Đề yêu cầu phát biểu cảm nghĩ về
Thể loại?
loài cây em yêu thích nhất nhất
-Văn biểu cảm
Đối tượng biểu cảm là gì?
- Loài cây
Định hướng tình cảm? Em yêu quý loài
cây đó?
Phương thức biểu đạt?
2. Lập dàn bài.
- Tự sự + miêu tả -> biểu cảm
a) Mở bài:
GV: Lập dàn bài.
- Giới thiệu loài cây em yêu thích
(cây gì? ở đâu)
Phần mở bài em cần giới thiệu vấn đề gì?
Học sinh so sánh
muốn của em về cây đó.
? Kết bài em phải nêu nội dung gì?
Gv đọc phần kết bài của học sinh:
Học sinh so sánh. Nhận xét
Gv kết luận
III- Trả bài
*/ Trả bài
IV. Nhận xét
*/ Nhận xét
1. Ưu điểm:
GV đánh giá ưu, khuyết điểm bài viết của - Xác định đúng yêu cầu đề
HS.
- Đa số HS có ý thức làm bài đầy đủ
Đa số học sinh xác định được yêu cầu của theo bố cục 3phần
đề.
- Làm bài theo đúng thể loại và yêu
cầu của đề
Trình bày chưa khoa học, chưa rõ bố cục 7A : Duy, Nam, Thành...
ba phần, thiếu kết bài
7D : Phúc, Thắng, Hiếu, Ngọc… 7D
20
Diễn đạt yếu, lủng củng, chưa có sự lôgic + Hình thức
giữa các ý, sử dụng từ ngữ, hình ảnh, so - Chưa rõ kiểu bài
sánh chưa phù hợp
- Diễn đạt yếu
Câu thiếu chủ ngữ, thiếu cả chủ ngữ, vị - Sai ngữ pháp
ngữ, không chấm câu...
- Sai chính tả
Bài sai nhiều lỗi chính tả, viết không - Bố cục.
đúng từ
V- Chữa lỗi điển hình
Lỗi chính tả, dùng từ, diễn đạt..
Ví dụ 1 : Hai bên đường đi ở làng em
có những khóm tre già và to, và được
những người dân nơi đây yêu quý.
* Hướng dẫn sửa lỗi cụ thể
Và em cũng thích loài cây này, vì cây
Gv đọc một bài tốt - một bài yếu.
21
- Học sinh chủ ý nghe, nắm được kết quả
bài làm của bạn, so sánh bài của mình..
Từ đó có ý thức vươn lên
Thống kê điểm:
LỚP
0-2
3-4
7A (37)
0
0
7D( 22)
0
0
4. Củng cố: Nhắc lại nội dung bài
5-6
15
13
7-8
18
9
9
4
0
Bài viết
Lớp
số 2
Số
Hứng thú học
Điểm trung
Điểm dưới
học
tiết trả bài tập
bình trở lên
trung bình
sinh
làm văn
SL
%
22
18
81,8
19
86,4
3
13,6
Như vậy, ta dễ dàng nhận thấy: Học sinh hứng thú hơn với tiết trả bài Tập làm
văn, chất lượng cao hơn so với trước khi chưa áp dụng sáng kiến này.
C. Kết luận.
Từ thực tế giảng dạy, tôi đã đúc rút kinh nghiệm về “Phương pháp dạy tiết trả
bài văn biểu cảm về sự vật, con người” lớp 7. Đề tài này đã giúp nâng cao hiệu quả
của tiết trả bài biểu cảm về sự vật, con người nói riêng và dạng văn biểu cảm nói
chung.
Để nâng cao chất lượng và kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, giáo
viên cần vận dụng kết hợp hài hoà các phương pháp phù hợp với đặc trưng bộ môn
và nội dung của mỗi bài.
Để chuẩn bị cho tiết trả bài tập làm văn, giáo viên cần căn dặn học sinh
chuẩn bị dàn ý cho đề bài đã yêu cầu làm bài viết ở tiết trước, giáo viên chuẩn bị
dàn bài trên bảng phụ hoặc trên máy chiếu để đảm bảo thời gian cho tiết dạy.
Cần tạo sự liên lạc cần thiết giữa gia đình và nhà trường để có phương pháp
rèn luyện cụ thể đối với từng đối tượng học sinh. Cùng với việc kiểm tra đôn đốc
chặt chẽ, hướng các em vào động cơ học tập. Với lòng nhiệt tình và các biện pháp
* Học sinh:
+ Học sinh phải nắm vững kiến thức bộ môn, rèn luyện năng lực tìm tòi, sáng
tạo có kế hoạch học tập phù hợp.
+ Tích cực tu dưỡng đạo đức, hướng tới tình cảm đẹp, trong sáng.
+ Đọc sách để mở mang hiểu biết.
* Giáo viên:
+ Tăng thêm thời lượng thực hành cho các khâu lập dàn ý, viết đoạn văn,… sữa
chữa các lỗi hay mắc phải trong bài văn biểu cảm.
- Những kiến nghị:
+ Đối với các cấp lãnh đạo:
24
Phòng GD&ĐT huyện Phù Cừ, Trường THCS Đình Cao tổ chức hội thảo
chuyên đề cho giáo viên bộ môn văn trong từng năm để giáo viên có dịp trao đổi
kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu, tích cực nâng cao chất lượng dạy
học môn văn ở các nhà trường THCS nói chung và dạy học văn biểu cảm nói riêng.
Xin trân trọng cảm ơn !
* Lời cam đoan
“ Đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung
của người khác”./.
Đình Cao, ngày 20 tháng 3 năm 2015
Người viết
Trần Thị Khuy
25