SKKN Một số biện pháp chữa lỗi câu Tiếng Việt cho học sinh lớp 8 trong việc dạy học Ngữ văn ở bậc THCS - Pdf 45

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN THỦY NGUYÊN

TRƯỜNG THCS…..

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỮA LỖI CÂU TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 8 TRONG MÔN NGỮ VĂN.

Tháng 03 năm 2017
1


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Năm: 2017
Kính gửi: Hội đồng khoa học huyện Thủy Nguyên
Họ và tên: Bùi Thị Loan
Chức vụ, đơn vị công tác: Trường THCS Lập Lễ
Tên sáng kiến: Một số biện pháp chữa lỗi câu Tiếng Việt cho học sinh lớp 8 trong
việc dạy học Ngữ văn ở bậc THCS.
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: trong việc dạy học môn Ngữ văn ở bậc THCS.
1. Tóm tắt tình trạng giải pháp đã biết:
- Ưu điểm: Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm
quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng tình cảm cho học sinh. Đại
văn hào Nga Mác-XimGor-Ki đã nói: “Học văn là học làm người”. Học tốt môn ngữ văn
giúp học sinh tự tin rất nhiều trong giao tiếp với đời sống xã hội, giao tiếp với đời sống
gia đình và bạn bè. Muốn vậy thì trong cách diễn đạt câu không được phép mắc lỗi.
Và dù sau này bước vào đời, học sinh có thể tham gia mọi ngành nghề phục vụ xã
hội, môn Ngữ văn luôn luôn là phương tiện, là người bạn tốt trên đường đời của mỗi học

tiết dạy tiếng Việt mà còn dùng cho cả dạy văn bản và Tập làm văn từ lớp 6 đến lớp 9
hoặc tổ chức cho các em hái hoa kiến thức ở một số chủ điểm trong giờ Hoạt động ngoài
giờ lên lớp để giúp các em sửa lỗi câu.
- Hiệu quả, lợi ích thu được khi áp dụng giải pháp: Ưu thế của hướng giảng dạy này là
với phân môn tiếng Việt : giờ học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà là giờ khơi gợi,
khuyến khích học sinh tìm ra con đường đi tới kiến thức, tìm ra cái hay, cái đẹp của hình
tượng nghệ thuật thông qua ngôn từ. Trong bài giảng thầy giảng một nửa phần còn lại để
học sinh tự làm lấy. Hướng giáo dục tự phát huy tính chủ động của học sinh đã lập được
quan hệ đối chiếu đa chiều giữa thầy với trò, trò với trò. Là bạn nghiên cứu nhiều kinh
nghiệm, là cố vấn, người thầy không can thiệp vào cách tiếp nhận tri thức của học sinh và
cũng không áp đặt cách đánh giá của học sinh
Bên cạnh đó, phương pháp học tập này còn phát huy được tối đa các năng lực của học
sinh như: tự học, giải quyết tình huống có vấn đề, giao tiếp, hợp tác, phát triển ngôn ngữ nói;
học sinh học tập tích cực, hứng thú, nắm chắc kiến thức; giáo viên nói ít, chỉ là trọng tài
hướng dẫn, tổ chức các hoạt động và chốt kiến thức; từ đó làm cho bộ môn Ngữ văn ngày
càng được các em yêu thích.
CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Thủy Nguyên, ngày 28 tháng 03 năm 2017
Người viết đơn

3


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp chữa lỗi câu Tiếng Việt cho học sinh lớp 8 trong
việc dạy học Ngữ văn ở bậc THCS.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: trong việc dạy học môn Ngữ văn ở THCS.
3. Tác giả:

- Hn ch: Cũn mt b phn khụng nh giỏo viờn cha cú nhn thc y v i mi
phng phỏp, ng dng CNTT; t bi dng v chuyờn mụn nghip v cha thng
xuyờn; ỏp dng cỏc phng phỏp, k thut dy hc mi cũn lỳng tỳng, hỡnh thc, gũ ộp;
cha phỏt trin c cỏc nng lc ca hc sinh, cha t mc tiờu ca tit dy v b
mụn.
II.Ni dung gii phỏp ngh cụng nhn sỏng kin:
II.0. Ni dung gii phỏp m tỏc gi xut:
- Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học : Đây là bộ môn
khoa học có nhiệm vụ giáo dục rèn luyện học sinh nói và viết tiếng mẹ
đẻ một cách chuẩn xác đúng yêu cầu . Để rồi từ đó giúp các em vận
dụng nó làm phơng tiện giao tiếp trong cuộc sống và công việc hàng
ngày đồng thời , nó còn là cái chìa khóa giúp các em tiếp cận tiếp
thu kiến thức của các môn khoa học khác trong nhà trờng .
- Xuất phát từ tình hình thực tế qua nhiều năm giảng dạy tôi
thấy việc viết câu của học sinh hiện nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế.
Cụ thể học sinh viết sai chính tả , vốn từ nghèo nàn , câu sai cú pháp ,
dấu câu đánh tùy tiện , diễn đạt rờm rà , tối nghĩa , lại còn đọc sai ,
viết ẩu .
- Qua kinh nghiệm theo dõi tình hình thực tế trong nhiều năm
tôi thấy có nhiều nguyên nhân chủ qua xen lẫn khách quan dẫn đễn
tình trạng học sinh viết câu sai cha nắm vững quy tắc viết câu .
Trong đó đáng lu ý là vai trò của học sinh- đối tợng học tập quá thụ
động , cha chịu khó tìm tòi suy nghĩ, không động não trớc những
vấn đề cơ bản mà mình cha lĩnh hội .
- Sở dĩ học sinh học còn thụ động tiêu cực nh vậy theo tôi nghĩ
nguyên nhân sâu xa là do phơng pháp dạy và cách truyền thụ của
giáo viên đôi khi thầy cũng cha thực sự chú ý sửa sai những kiến thức
cốt yếu của từng đối tợng học sinh .
5



- Khụng ý thc rừ v thnh
phn ph trng ng vi ch ng
.
- Sai quan h logic ch - liờn
kt hỡnh thc.
- Sai quan h ng ngha gia
cỏc thnh phn trong cõu.

21,2

14,1
15,3

*Cỏc gii phỏp thc hin:
- Khi vit cõu ni dung phi hp lớ v mt logic v ng ngha:
+ Cõu phi cú ngha, vỡ cú ngha chỳng ta mi hiu c ni dung, mc ớch thụng bỏo.
Mun vy dựng t trong cõu v vit chớnh t phi ỳng.
+ Mt khỏc, ng v mt ý ngha gia cỏc t, cỏc b phn trong cõu khụng c mõu
thun nhau, m phi thng nht vi nhau, ý ca cõu cng phi thng nht vi ý ca on
vn, ca vn bn, m bo s phỏt trin lin mch, lin ý ca on vn v vn bn.
- Cõu trỳc cỳ phỏp ca cõu phi phự hp vi qui tc to cõu ca Ting Vit.
* Cõu l mt chnh th ng phỏp c lp, cha ng mt ni dung thụng bỏo hon chnh
v gn vi mt hon cnh giao tip nht nh.
Cõu cú hai thnh phn chớnh l ch ng v v ng.
6


* Chủ ngữ nêu tên sự vật, hiện tượng có hành động, đặc điểm, trạng thái ... được miêu tả
ở vị ngữ. Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ.

Khi viết câu, nội dung câu phải hợp lí,có tính chất khách quan phù hợp với quy luật nhận
thức.
Ví dụ :

- Chim hót

Chứ không thể đặt câu là

- Bò đang gặm cỏ.

- Bò đang hót
- Chim gặm cỏ

Giữa chủ ngữ và vị ngữ phải hợp lí. Chủ ngữ thường nêu sự vật, hiện tượng, sự
việc; vị ngữ nêu hành động, trạng thái, tính chất, đặc điểm về sự vật, sự việc, hiện tượng
chứ không thể ngược lại.
7


Quan hệ giữa trạng ngữ với nòng cốt câu cũng phải đảm bảo sự logic, hợp lý.
Ví dụ: Trên cánh đồng, mấy chú bò đang gặm cỏ
Tr.N

CN

VN

Chứ không thể có trạng ngữ: “Trên cành cây” mà nòng cốt câu lại là “mấy chú bò
đang gặm cỏ”.
Giữa các vế trong câu ghép phải có sự hợp lý đảm bảo tính logic. Nếu vế thứ nhất là

lại lẫn nhau. Liên kết nội dung thể hiện ở hai bình diện: liên kết chủ đề và liên kết logic.
Hai mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau.
- Liên kết hình thức: Chính là việc sử dụng các phương tiện liên kết của ngôn ngữ
để nối các câu làm cho chúng gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm biểu hiện nội dung văn bản.
Phương tiện liên kết có thể thuộc bình diện ngữ âm như vần, nhịp; có thể thuộc bình diện
từ vựng như từ và thuộc bình diện ngữ pháp như kết cấu ngữ pháp. Các phương tiện đó
rất đa dạng nhưng có thể quy về một số phương thức nhất định: Phương thức lặp; phương
thức thế; phương thức liên tưởng; phương thức nối; phương thức trật tự tuyến tính
Trên đây là toàn bộ những yêu cầu cơ bản của việc viết câu. Dựa vào những yêu
cầu cơ bản ấy mà chúng ta biết được câu viết đúng hay viết sai. Để từ đó nhận ra được lỗi
câu mà có phương hướng chữa lỗi.
*CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHỮA LỖI CÂU:
Để nâng cao chất lượng chữa lỗi câu sai cho học sinh THCS thì bản thân giáo viên
trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn trong nhà trường không thể chỉ chữa lỗi trong giờ Tiếng
Việt, mà phải kết hợp chữa lỗi câu thông qua quá trình giao tiếp, giờ trả bài Tập làm văn,
tổ chức cho các em hái hoa kiến thức ở một số chủ điểm trong giờ Hoạt động ngoài giờ
lên lớp để giúp các em sửa lỗi câu.
1.Chữa lỗi câu trong giờ Tiếng Việt.
VD: Khi dạy bài: “Câu ghép” (Ngữ văn 8 - Tập I) tiết 43.
-

Mục đích ở bài này là làm cho học sinh nắm được đặc điểm của câu ghép và cách
nối các vế câu trong câu ghép. Rèn kỹ năng nhận diện và sử dụng câu ghép trong

-

nói và viết.
Trong quá trình giảng dạy bài này, ngoài việc học lý thuyết giáo viên cần phải chú
trọng đến việc sử dung câu của các em trong qua trình đưa ví dụ minh hoạ, làm bài
tập. Có như vậy, thì mới phát hiện ra những câu có lỗi khi các em sử dụng. Mặt khác

C
V
C2: Xa xa, một đàn bò/đang gặm cỏ, những đứa trẻ/nô đùa vui vẻ
TrN
C
V
C
V
Như vậy, trong quá trình làm bài tập giáo viên đã giúp các em sửa lỗi câu luôn.

2. Chữa lỗi câu trong giờ học HĐNGLL (lớp 8) ở chủ điểm: “Hội vui học tập”.
Giáo viên chuẩn bị một số câu hỏi gắn vào hoa, yêu cầu các em hái hoa (tức là giải
đáp câu hỏi).
Ví dụ câu: Tập hợp từ sau đây đã thành câu chưa? Vì sao? Nếu chưa bổ sung cho
thành câu.
- Tập hợp từ 1: Nhìn thấy cô giáo bước vào lớp.
- Tập hợp từ 2: Nghĩ đến cảnh mẹ con phải xa nhau.
Như vậy, ở tập hợp từ 1: Học sinh phải thêm vị ngữ
Ở tập hợp từ 2: Học sinh phải thêm cả chủ ngữ - vị ngữ.
Hay là ra câu hỏi: Trong số những câu dưới đây, câu nào sai ngữ pháp? Nếu sai thì sai
như thế nào?
A. Trong lớp các bạn ngồi rất ngay ngắn.
B. Những câu chuyên dân gian mà chúng tôi thích nghe kể.
C. Bà tôi hay kể chuyện dân gian.
D. Với kết quả học tập ấy đã động viên tôi rất nhiều

3. Chữa lỗi câu thông qua giờ trả bài Tập làm văn.
Thông qua giờ trả bài giáo viên giúp các em phát hiện, nhận diện một số lỗi câu sai ở
một số bài Tập làm văn của các bạn mà cô cho đọc trước lớp. Để từ đó các em cùng cô
giáo sửa lỗi câu sai.

II.2. Khả năng áp dụng, nhân rộng:
Có thể áp dụng được thường xuyên không chỉ cho các tiết dạy tiếng Việt mà còn
dùng cho cả dạy văn bản và Tập làm văn từ lớp 6 đến lớp 9 hoặc tổ chức cho các em hái
hoa kiến thức ở một số chủ điểm trong giờ Hoạt động ngoài giờ lên lớp để giúp các em
sửa lỗi câu.
II.3. Hiệu quả, lợi ích thu được khi áp dụng giải pháp:

11


- Nhân dân ta thường nói: Ăn cho nên đọi, nói cho nên lời, rõ ràng nói phải thành
lời, rõ ý thì người khác mới hiểu. Mà muốn nối thành lời , rõ ý thì phải nói cho thành câu.
Nhưng hiện nay, việc dạy học Ngữ văn nói chung phân môn Tiếng Việt nói riêng trong
các trường phổ thông đang đối diện với thực trạng rất báo động là có nhiều học sinh khi
nói cũng như khi viết thường mắc các lỗi về câu dẫn đến việc viết, nói câu sai cho nên
không đạt được mục đích giao tiếp. Trong khi toàn ngành đang thực hiện chương trình
đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới và đặc biệt
hưởng ứng cuộc vận động 2 không của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thiết nghĩ để
thế hệ học sinh ngày nay có niềm hứng thú khi học môn Ngữ văn thì ngay từ khi cắp
sách đến trường người giáo viên phải giúp các em yêu quí tiếng mẹ đẻ, tự hào với tiếng
nói của dân tộc.
Mặt khác, trong nhà trường, ngoài việc học sinh được học Ngữ văn thì các em còn
được học các môn khác trong đó có môn ngoại ngữ. Việc học tốt phân môn Tiếng Việt sẽ
giúp cho các em thuận lợi hơn khi học ngoại ngữ để có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền
văn minh trên Thế giới.
- Cái bí quyết thú vị nhất của việc dạy học văn cho phép biến các giờ văn học thành
những giờ “sáng mắt sáng lòng ”, đặc biệt giờ học tiếng Việt sẽ là những giờ học hấp
dẫn, sinh động. Chính vì vậy mà người thầy Ngữ văn trong hoạt động của nhà trường là
sự hiện hữu nghệ thuật của nghệ thuật, phương pháp của phương pháp. Không có một
nghệ thuật, một phương pháp nào có thể thay cho người thầy thiếu tài năng , thiếu nhiệt

- “Qua nhân vật chị Dậu cho ta thấy rõ những đức tính cao đẹp đó”.
Ở câu này người viết đã hoà nhập chủ ngữ với phần phụ trạng ngữ của câu.
* Lỗi do không ý thức rõ về trạng ngữ
- “Những năm về sau, khi đã là một người thành đạt, dày dặn kinh nghiệm”
Ở câu này, người viết hiểu lầm chủ ngữ là “Những năm về sau” còn “Khi đã là ...
kinh nghiệm” là vị ngữ trong khi nó chỉ là phụ
* Lỗi do các em sử dụng câu thiếu phụ ngữ bắt buộc
- “Mọi người đều lắng nghe”. Câu này thiếu phụ ngữ đứng sau của cụm động từ
nên đọc lên ta thấy khó hiểu vì vậy ta phải thêm phụ ngữ cho động từ. VD: Mọi
người đều lắng nghe câu chuyện cổ tích.
* Lỗi do câu sai quan hệ logic
Ở một số bài tập làm văn của mình, các em đã sử dụng câu mà quan hệ chủ - vị
trong câu không hợp lý.
13


VD: “Qua nhân vật Thuý Kiều, ta thấy được bản chất xấu xa, thối nát của chế độ
phong kiến”
Ngoài ra, tuy các em không mắc lỗi sai về ngữ pháp nhưng lại sai về cách suy
nghĩ, thành thử làm cho câu không logic về mặt nội dung.
VD: “Các bạn trong lớp hãy chia thành 2 toán: Một toán gồm tất cả các bạn học
sinh gái và một toán gồm tất cả các bạn học sinh khoẻ”
* Lỗi do thể hiện sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu. Hoặc do
không ý thức rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa các câu.
VD: Mắt đăm đăm nhìn ra cửa biển, ta thấy Kiều đã theo cánh buồn thấp thoáng
mà nghĩ đến cảnh cô đơn của mình.
Đọc lên người ta có thể hiểu kẻ đăm đăm nhìn ra cửa biển và nghĩ đến cảnh cô
đơn của mình ở đây là “ta” chứ không phải là Kiều như ý người viết muốn nói. Viết câu
như thế chứng tỏ người viết chưa thể hiện đúng ngữ nghĩa giữa các thành phần câu.
* Các lỗi về liên kết câu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status