SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÂU TIẾNG VIỆT VÀ
PHƯƠNG PHÁP CHỮA
LỖI CÂU TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH
A. Đặt vấn đề
I. Lời nói đầu:
Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói
lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng tình
cảm cho học sinh. Nhà văn hào Nga Mác-XimGor-Ki đã nói: “Học văn là
học làm người”. Học tốt môn ngữ văn giúp học sinh rất nhiều trong giao
tiếp với đời sống xã hội, giao tiếp với đời sống gia đình và bạn bè.
Và dù sau này bước vào đời, học sinh có thể tham gia mọi ngành
nghề phục vụ xã hội, môn Ngữ văn luôn luôn là phương tiện, là người bạn
tốt trên đường đời của mỗi học sinh, giúp các em sống tốt hơn, đẹp hơn.
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1. Thực trạng.
Rõ ràng là môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng trong nhà trường
phổ thông. Song có một thực trạng đáng buồn là hiện nay không ít học
sinh thực sự không mặn mà với việc học văn “không chịu” đọc sách, báo
và các tài liệu tham khảo, lười suy nghĩ, sáng tạo Chính vì thế mà trong
khi nói cũng như khi viết, các em thường không diễn đạt được nội dung
mình định nói do đó dẫn đến việc viết câu sai.
2005 - 2006
7 206
-
Thi
ếu các th
ành
phần nòng cốt câu
- Viết câu thiếu vế
- Không ý thức rõ về
thành phần phụ trạng
ngữ với chủ ngữ
- Sai quan hệ ngữ
nghĩa giữa các thành
phần trong câu
- Sai quan hệ logic
chủ đề - liên kết hình
thức
27,1
22,3 21,2
cụm từ.
* Vị ngữ chỉ ra hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ của sự vật,
hiện tượng nêu ở chủ ngữ.
Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ, do động từ, tính từ (cụm động từ,
tính từ) hoặc do các từ, cụm từ khác đảm nhiệm.
* Giữa chủ ngữ và vị ngữ phải đảm bảo quan hệ hợp lí, chặt chẽ.
Thường thì trong câu chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau. Chỉ
trong những trường hợp hạn hữu, trong câu mới có hiện tượng đảo trật tự
giữa chủ ngữ và vị ngữ.
Khi muốn nhấn mạnh ý, làm cho câu có tính gợi hình, gợi cảm
người ta đảo vị trí của vị ngữ lên đầu câu. Ví dụ: Lom khom dưới núi, tiều vài chú
VN CN
Lác đác ben sông, chợ mấy nhà
VN CN
Chỉ những câu vị ngữ là động từ nội động thì mới có thể đảo vị trí
vị ngữ lên đầu được.
Ví dụ: Bạc phơ, mái tóc người cha
VN CN
* Ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ thì câu cần có ngữ điệu
thông báo. Đặc biệt khi hai thành phần chính của câu vắng mặt thì ngữ
điệu càng trở nên quan trọng hơn. Vì thế, câu còn có các thành phần phụ.
b) Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa hợp lí
Khi viết câu, nội dung câu phải hợp lí,có tính chất khách quan phù
hợp với quy luật nhận thức.
Ví dụ : - Chim hót
- Bò đang gặm cỏ.
Chứ không thể đặt câu là :
cách cá nhân.
Qua trên ta thấy khi đặt câu phải chú ý xem câu phù hợp với phong
cách ngôn ngữ nào để viết câu cho đúng, phù hợp với đặc điểm phong
cách ngôn ngữ đó. d) Các câu trong văn bản phải đảm bảo sự liên kết.
Văn bản là một thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn
chỉnh về hình thức. Văn bản dù viết dưới hình thức nào, đều là một tập
hợp gồm nhiều câu, nhiều đoạn nối với nhau. Việc sắp xếp, nối kết các
câu trong đoạn, các đoạn trong văn bản không phải là hiện tượng ngẫu
nhiên mà nó thể hiện ý đồ của người viết, hướng tới một nội dung chủ đề
nhất định. Và như vậy, mối quan hệ ý nghĩa giữa câu với câu được gọi là
liên kết câu.
Muốn liên kết câu phải đảm bảo nguyên tắc liên kết cả về nội dung
và hình thức.
- Liên kết nội dung: Các câu trong đoạn văn về mặt nội dung có mối
quan hệ qua lại lẫn nhau. Liên kết nội dung thể hiện ở hai bình diện: liên
kết chủ đề và liên kết logic. Hai mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau.
- Liên kết hình thức: Chính là việc sử dụng các phương tiện liên kết
của ngôn ngữ để nối các câu làm cho chúng gắn bó chặt chẽ với nhau
nhằm biểu hiện nội dung văn bản. Phương tiện liên kết có thể thuộc bình
diện ngữ âm như vần, nhịp; có thể thuộc bình diện từ vựng như từ và
thuộc bình diện ngữ pháp như kết cấu ngữ pháp. Các phương tiện đó rất đa
dạng nhưng có thể quy về một số phương thức nhất định: Phương thức
lặp; phương thức thế; phương thức liên tưởng; phương thức nối; phương
thức trật tự tuyến tính
Trên đây là toàn bộ những yêu cầu cơ bản của việc viết câu. Dựa
vào những yêu cầu cơ bản ấy mà chúng ta biết được câu viết đúng hay viết
sai. Để từ đó nhận ra được lỗi câu mà có phương hướng chữa lỗi.
ư
ớ
ng n
ộ
i
Quan hệ
h
ư
ớ
ng
Sai về mặt
c
ấ
u t
ạ
o
Sai về mặt
ng
ữ
ngh
ĩ
a
Lỗi về liên
k
ế
t n
cốt
không
h
ợ
p
Thàn
h
phần
trong
câu
không
Lỗi
về
liên
kết
ch
ủLỗi
về
liên
kết
logic Sau khi phân loại lỗi theo tiêu chuẩn như ở trên, tôi tiến hành miêu
tả lỗi một cách chi tiết. ở đây, tôi chỉ xin đưa ra một số câu tiêu biểu cho
thấy khó hiểu vì vậy ta phải thêm phụ ngữ cho động từ. VD: Mọi người
đều lắng nghe câu chuyện cổ tích.
* Lỗi do câu sai quan hệ logic
ở một số bài tập làm văn của mình, các em đã sử dụng câu mà quan
hệ chủ - vị trong câu không hợp lý.
VD: Qua nhân vật Thuý Kiều, ta thấy được bản chất xấu xa, thối
nát của chế độ phong kiến
Ngoài ra, tuy các em không mắc lỗi sai về ngữ pháp nhưng lại sai
về cách suy nghĩ, thành thử làm cho câu không logic về mặt nội dung.
VD: Các bạn trong lớp hãy chia thành 2 toán: Một toán gồm tất cả
các bạn học sinh gái và một toán gồm tất cả các bạn học sinh khoẻ
* Lỗi do thể hiện sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu.
Hoặc do không ý thức rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa các câu.
VD: Mắt đăm đăm nhìn ra cửa biển, ta thấy Kiều đã theo cánh
buồn thấp thoáng mà nghĩ đến cảnh cô đơn của mình.
Đọc lên người ta có thể hiểu kẻ đăm đăm nhìn ra cửa biển và nghĩ
đến cảnh cô đơn của mình ở đây là “ta” chứ không phải là Kiều như ý
người viết muốn nói. Viết câu như thế chứng tỏ người viết chưa thể hiện
đúng ngữ nghĩa giữa các thành phần câu.
* Các lỗi về liên kết câu.
- Lỗi về liên kết chủ đề: Các câu trong đoạn không cùng chủ đề
- Lỗi về liên kết logic: Các câu trong một đoạn hay trong một văn
bản không được thể hiện bằng các phương tiện liên kết hay bị thể hiện sai
lạc.
Qua thực tế tôi thấy các em mắc lỗi về quan hệ hướng nội nhiều hơn
so với lỗi về quan hệ hướng ngoại.
II. Các biện pháp tổ chức thực hiện chữa lỗi câu:
Để nâng cao chất lượng chữa lỗi câu sai cho học sinh THCS thì bản
thân giáo viên trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn trong nhà trường không
được gọi là một vế câu.
GV : Gọi học sinh chữa lại hai câu trên
C1: Trời/nổi gió (rồi) một cơn mưa/ập đến
C V C V
C2: Xa xa, một đàn bò/đang gặm cỏ, những đứa trẻ/nô đùa vui vẻ
TrN C V C V
Như vậy, trong quá trình làm bài tập giáo viên đã giúp các em sửa
lỗi câu luôn.
2. Chữa lỗi câu trong giờ học HĐNGLL (lớp 7) ở chủ điểm: Hội vui
học tập.
Giáo viên chuẩn bị một số câu hỏi gắn vào hoa, yêu cầu các em hái
hoa (tức là giải đáp câu hỏi).
Ví dụ câu: Tập hợp từ sau đây đã thành câu chưa? Vì sao? Nếu chưa
bổ sung cho thành câu.
- Tập hợp từ 1: Nhìn thấy cô giáo bước vào lớp
- Tập hợp từ 2: Nghĩ đến cảnh mẹ con phải xa nhau.
Như vậy, ở tập hợp từ 1: Học sinh phải thêm vị ngữ
ở tập hợp từ 2: Học sinh phải thêm cả chủ ngữ - vị ngữ.
Hay là ra câu hỏi: Trong số những câu dưới đây, câu nào sai ngữ pháp?
Nếu sai thì sai như thế nào?
A. Trong lớp các bạn ngồi rất ngay ngắn.
B. Những câu chuyên dân gian mà chúng tôi thích nghe kể.
C. Bà tôi hay kể chuyện dân gian.
D. Với kết quả học tập ấy đã động viên tôi rất nhiều
3. Chữa lỗi câu thông qua giờ trả bài Tập làm văn.
Thông qua giờ trả bài giáo viên giúp các em phát hiện, nhận diện
một số lỗi câu sai ở một số bài Tập làm văn của các bạn mà cô cho đọc
trước lớp. Để từ đó các em cùng cô giáo sửa lỗi câu sai
Tiết 66: Trả bài Tập làm văn số 3
Thời gian: Thứ 6, tuần 15 và thứ 3 tuần 16.
a. Mục tiêu.
- Thông qua việc trả bài Tập làm văn, giáo viên khắc sâu tri thức cơ
bản về kiểu bài làm văn biểu cảm về tác phẩm văn học. Đồng thời giáo
viên phát hiện được sự cảm thụ văn học của mỗi học sinh như thế nào?
(Chủ đề, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ)
- Rèn luyện kỹ năng viết câu cho các em qua việc sử lỗi câu sai
trong bài tập làm văn của các em.
b. Tiến trình bài dạy.
ở đây tôi chỉ đi lướt qua một số các bước tiến trình của bài dạy còn
cơ bản là tập trung chủ yếu vào việc sửa lỗi câu sai cho các em:
Ho
ạt động của GV v
à HS
N
ội dung chính
HĐ 1: GV ghi đề lên bảng : Phát
biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh
khuya của Hồ Chí Minh (Ngữ văn 7
- tập 1)
HĐ 2 : GV công bố kết quả
Tổng số: 39 bài :
Điểm 8 : 1 bài. Điểm 4: 8 bài
Điểm 7: 9 bài. Điểm 3: 4 bài
Điểm 5,6 : 15 bài. Điểm 2: 2 bài * Sai lỗi chính tả
- Tiếng xuối Tiếng suối
- ánh chăng ánh trăng
* Lỗi câu:
- C1: Qua bài thơ bằng những lời
thơ độc đáo, đã thể hiện được tình
yêu thiên nhiên, yêu quê hương,
nào? Sau đó yêu c
ầu HS chữa lại
(Câu trên thiếu bộ phận chủ ngữ)
GV đọc một đoạn văn trong bài của
HS khoảng 5 câu để HS phát hiện
trong 5 câu đó, câu nào là câu chưa
đúng, chưa hoàn chỉnh, GV ghi câu
sai lên bảng
GV gọi HS nhận xét. (câu trên bạn
đã viết câu ghép thiếu vế)
? Cho HS sửa lại.
một thi sĩ nổi tiếng.
- C3: Khác với người xưa, Bác
không những yêu thiên nhiên,
nhưng Bác còn lo lắng cho nước
nhà, lo cho giang sơn tươi đẹp.
Sửa lại: Khác với người xưa, Bác
không những yêu thiên nhiên mà
Bác còn lo lắng cho nước nhà, lo
cho giang sơn tươi đẹp. c. Củng cố.
Nhìn chung qua tiết trả bài, GV đã giúp các em nắm chắc kiến thức
cơ bản của kiểu bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học và hiểu được lỗi
câu. Qua việc sửa lỗi câu của GV để HS có ý thức tốt trong việc viết câu ở
những bài viết sau.
C. Kết luận
1. Kết quả nghiên cứu.
Qua thực tế dạy học ở các lớp, bằng việc sửa lỗi câu cho HS ở
những tiết học, nhìn chung các em đã nhận ra được những lỗi cơ bản về
câu và đã có ý thức sửa những lỗi mà mình mắc phải trong quá trình giao
tiếp.
Đối chiếu với kết quả điều tra ở phần thực trạng năm học 2005 -
2006 của khối lớp 7 so với khối lớp 7 năm học 2006 - 2007 có sự thay đổi
rõ rệt.
cho HS.
Cụ thể như sau:
ngữ
- Sai quan hệ ngữ
nghĩa giữa các thành
phần trong câu
- Sai quan hệ logic
chủ đề - liên kết
hình thức 25,6
20,5 19,3 14,1
10,5 2. Kiến nghị, đề xuất.
Nhân dân ta thường nói: ăn cho nên đọi, nói cho nên lời, rõ ràng
nói phải thành lời, rõ ý thì người khác mới hiểu. Mà muốn nối thành lời ,
rõ ý thì phải nói cho thành câu. Nhưng hiện nay, việc dạy học Ngữ văn nói
chung phân môn Tiếng Việt nói riêng trong các trường phổ thông đang đối
diện với thực trạng rất báo động là có nhiều học sinh khi nói cũng như khi
viết thường mắc các lỗi về câu dẫn đến việc viết, nói câu sai cho nên
không đạt được mục đích giao tiếp. Trong khi toàn ngành đang thực hiện
chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học cho