Sở GD & ĐT Lạng Sơn
Trờng THPT Văn Quan
Văn Quan ngày 16 tháng 2 năm 2009
Báo cáo tham luận
Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lợng môn Ngữ văn
ở Trờng THPT Văn Quan - Lạng Sơn.
Lời nói đầu.
Văn học là nhân học, dạy học Ngữ văn là dạy học cách làm ngời. Môn Ngữ
văn giữ một vai trò rất quan trọng trong nhà trờng phổ thông. Vì nó cung cấp cho
học sinh một khối lợng tri thức văn học tơng đối có hệ thống bao gồm các tác giả,
tác phẩm của văn học Việt Nam và văn học nớc ngoài, ngôn ngữ văn học, văn học
sử và một số tác phẩm thuộc các thể loại khác nh sử ký, văn bản nhật dụngTừ
đó giúp các em mở rộng khả năng đọc hiểu và tiếp xúc với đời sống xã hội.
Đồng thời rèn luyện cho học sinh năng lực đọc độc lập, bắt đầu từ đọc đúng, hiểu
đúng văn bản tiếng Việt, tiến tới hiểu đúng nội dung t tởng, tình cảm của tác
phẩm, biết phân tích, đánh giá tác phẩm một cách có phơng pháp và sáng tạo. Bên
cạnh đó các em cần phải biết viết các văn bản thông dụng nh tự sự, thuyết minh,
hành chính công cụ, đặc biệt là văn bản nghị luận xã hội và nghị luận văn học
một cách mạch lạc, khúc chiết.
Với một vị trí vai trò hết sức quan trọng nh vậy, đã từ lâu, Ngữ văn luôn là
một trong số những môn học khó đối với học sinh; đặc biệt là học sinh dân tộc
thiểu số khi mà kỹ năng nói và viết tiếng Việt còn nhiều hạn chế. Trớc đây chất l-
ợng bộ môn ngữ văn ở trờng THPT Văn Quan nhìn chung là thấp, số học sinh giỏi
cấp tỉnh trong nhiều năm hầu nh là không có. Nhng trong những năm gần đây
chất lợng bộ môn Ngữ văn trờng THPT Văn Quan đã có nhiều khởi sắc. ( Tỉ lệ tốt
nghiệp Năm học 2006-2007 là 47%; Năm học 2007-2008 là 65,2%; hai năm học
đó đều có học sinh đạt giải cấp tỉnh ). Đó là những kết quả rất đáng ghi nhận. Tuy
nhiên, so với mặt bằng chung của tỉnh thì chúng tôi (những giáo viên dạy văn của
1
2
sinh phải có một quyển vở riêng để làm bài kiểm tra. Điều này vừa giúp giáo viên
theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua các bài viết vừa giúp học sinh có thể xem lại
những lời nhận xét của giáo viên để rút kinh nghiệm cho các bài làm sau. Vì toàn
bộ bài làm đợc lu giữ trong vở này, mỗi bài đều có điểm, có lời nhận xét của giáo
viên. Sau mỗi tiết trả bài, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà lập lại dàn bài, chữa
những sai sót trong bài, thậm chí viết lại đối với những bài quá kém.
3. Hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà (soạn bài).
Đối với môn Ngữ văn, bên cạnh việc học bài cũ học sinh phải chuẩn bị bài
(soạn bài mới). Cùng với việc trả lời các câu hỏi của phần hớng dẫn học bài của
bài mới, giáo viên cần có những hớng dẫn cụ thể để học sinh chuẩn bị:
Ví dụ:
- Đối với thể loại truyện: Học văn mà không đọc tác phẩm hoặc chỉ đọc
theo kiểu cỡi ngựa xem hoa thì là sai lầm trầm trọng. Giáo viên phải yêu cầu học
sinh đọc kĩ trớc tác phẩm ở nhà, tóm tắt tác phẩm để nắm đợc cốt truyện. Nên coi
đây là yêu cầu bắt buộc, là một trong nội dung mà học sinh phải chuẩn bị trớc ở
nhà. Vì thời lợng cho mỗi tác phẩm theo quy định chỉ từ một đến hai tiết. Nếu học
sinh không đọc kĩ để tóm tắt trớc thì rất khó tiếp thu bài trong quá trình đọc- hiểu
văn bản ở lớp. Và vì không đọc kĩ tác phẩm, không nắm đợc cốt truyện nên dẫn
đến tình trạng học sinh chỉ nhớ mang máng về một chi tiết, một nhân vật nào đó
rồi gán ghép chi tiết đó, nhân vật đó vào tác phẩm khác hoặc kể những câu
chuyện bịa đặt hoàn toàn. Trong khi thi học kì, thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh ĐH-
CĐ đã từng xảy ra tình trạng này.
- Đối với thể loại thơ: Thơ là tiếng nói của tâm hồn, thơ là nghệ thuật
ngôn từDựa vào đặc trng thể loại của thơ, giáo viên hớng dẫn học sinh đọc diễn
cảm, đọc thuộc lòng những đoạn thơ hay, cảm nhận chung sau khi đọc xong bài
thơ, nắm đợc hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, xác định đợc bố cục, tìm hiểu tâm
trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ, giá trị nội dung và nghệ thuật của bài
thơ
- Đối với các bài luyện tập của phần tiếng Việt: Gần nh toàn bộ
Ví dụ:
4
Đối với bài kiểm tra từ một tiết trở nên có thể yêu cầu học sinh viết một đoạn
văn ngắn trình bày những suy nghĩ của bản thân về một vấn đề xã hội nào đó.
( Câu này chiếm từ 3 đến 4 điểm)
Ví dụ: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày ý kiến của mình về
mục đích học tập do UNESCO đề xớng:
Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.
( Ngữ văn 12 tập một, NXB Giáo dục,2008,tr. 35 )
Kết luận.
Trên đây chỉ là một số biện pháp mà tôi muốn đa ra ra để trao đổi. Vì thời gian
có hạn nên còn nhiều biện pháp khác nữa mà tôi cha nêu đợc ra đây. Và chắc
chắn đó không phải là những biện pháp duy nhất. Tôi rất mong đợc nhận đợc ý
kiến đóng góp, trao đổi của các bạn đồng nghiệp để cùng tìm ra những biện pháp
chung nhằm nâng cao hơn nữa chất lợng bộ môn Ngữ văn của trờng THPT Văn
Quan./.
Xin trân trọng cảm ơn! Ngời viết:
Nguyễn Thị Minh Ngân.
5