S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Vò ThÞ
Liªn
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÔNG TRIỀU
TRƯỜNG THCS NGUYỄN ĐỨC CẢNH
----- -----
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 6 THCS ”
Tác giả: Vũ Thị Liên
Tổ: Văn-Sử-Ngoại ngữ
§æi míi ph¬ng ph¸p gi¶ng d¹y m«n ng÷ v¨n 6
1
Sáng kiến kinh nghiệm
Vũ Thị
Liên
NM HC 2008-2009
I.1. Lý do chọn đề tài :
I.i.1. tính lịch sử:
Đổi mới phơng pháp dạy học trong vài năm gần đây đã thực sự giành đợc sự
quan tâm của nhiều trờng, nhiều giáo viên. Nhiều giáo viên dạy giỏi đã thể hiện khả
năng vận dụng các phơng pháp dạy học tích cực, tạo điều kiện cho học sinh hào hứng
tham gia học tập với nhiều hình thức dạy học khác nhau, với nhiều phơng tiện dạy
học hiện đại, nhiều biện pháp dạy học sáng tạo.
Cũng có rất nhiều sáng kiến kinh nghiệm, đề tài khoa học đề cập tới nội dung
đổi mới phơng pháp dạy học, cách thức vận dụng các phơng pháp dạy học tích cực
trong việc khai thác và truyền đạt kiến thức. Song dù vậy, tôi cũng mạnh dạn đa ra ý
kiến chủ quan của mình về vấn đề: làm thế nào để tìm ra đợc phơng pháp giảng dạy
loại bài cung cấp kiến thức mới sao cho có hiệu quả, đặc biệt là trong giảng dạy ngữ
bắt và theo kịp thời đại thì yếu tố con ngời là quan trọng và quyết định. Sản phẩm cua
giáo dục chính là con ngời, vì vậy giáo dục đòi hỏi phải theo sát tình hình của đất n-
ớc, của thời đại, nghĩa là phải đào tạo ra những lớp ngời có trình độ tri thức vững
vàng, sẵn sàng tiếp cận và làm chủ tri thức khoa học một cách nhanh nhất. Lớp ngời
ấy phải biết năng động, sáng tạo, chủ đông ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trờng,
các em đã phải đợc rèn luyện thói quen tự tìm tòi chủ động tiếp cận với kiến thức của
nhân loại một các say sa, có hứng thú.
Để có lớp ngời theo kịp tình hình của đất nớc, của nhân loại, thì phơng pháp đổi
mới dạy học: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong giảng dạy
Ngữ văn là một yêu cầu cần thiết, vấn đề này không phải một sớm, một chiều mà
có thể làm tốt đợc ngay. Thực tế từng bớc chúng ta đã và đang đổi mới từ nhận thức
của ngời dạy đến nhận thức của ngời học, đổi mới từng ngày, từng giờ, từng tiết dạy.
Có nh vậy thì mới đào tạo ra đợc một lớp ngời thực sự làm chủ khoa học, làm chủ đất
nớc, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của đất nớc phát triển theo kịp nhận loại.
I.2.Mục đích nghiên cứu.
Mục tiêu của việc đổi mới phơng pháp dạy học nhằm Phát huy tính tích cực
của HS trong giảng dạy Ngữ văn ở trờng THCS là lấy ngời học làm trung tâm của
tiết dạy dới sự hớng dẫn, tổ chức các hoạt động đợc ngời Thầy chỉ đạo. Việc đổi mới
phơng pháp dạy học khiến việc biên soạn SGK mới phải phù hợp với phơng pháp dạy
học tính hợp và phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS. Các bài học trong
SGK mới đều có yều cầu, kết quả cần đạt của ngời học đối với từng tiết dạy. Điều
này rất thuận lợi cho HS khi tự nghiên cứu bài học các em đã xác định đợc nội dung
kiến thức trọng tâm của bài học. Hơn thế sự sắp xếp các tiết học mang tính tích hợp
rất cao: văn bản bao giờ cũng đợc bố trí trớc rồi đến tiết tiếng việt và tập làm văn.
Điều này giúp học sinh tìm hiểu kiến thức một cách có hệ thống và khá nhuần
nhuyễn. ở tiết học văn bản HS đợc tiếp cận với thể loại văn bản nào thì ở tiết tập làm
văn HS sẽ đợc học phơng pháp tạo lập kiểu văn bản tơng ứng. Đây là một thuận lợi u
thế của SGK mới để đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới phơng pháp dạy học.
Trớc yêu cầu đổi mới phơng pháp dạy học lấy ngời học làm trung tâm một số GV
vẫn còn lúng túng với phơng pháp dạy học mới. GV quan niệm rằng cứ vấn đáp HS
nghiên cứu, tiếp cận tri thức, tự thể hiện khả năng thu nhận kiến thức. Trò đợc tự
kiểm tra, kết luận kiến thức dới sự cố vấn, hớng dẫn của ngời thầy. Nh vậy HS trong
tiết học đợc tự bộc lộ mình, khẳng địng mình trớc tập thể. Với cách học này, HS sẽ
hứng thú học tập, chủ động tiếp cận và lĩnh hội kiến thức để từ đó các em có khả
năng vận dụngkiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Nh vậy nhiệm vụ của ngời
GV dạy Ngữ văn là phải giúp cho HS rèn luyện thành thạo bốn kĩ năng: Nghe - Đọc -
Nói -Viết để từ đó HS có hứng thú với môn học vào cuộc sống thực tiễn.
I.4.2: Đóng góp về thực tiễn:
Đổi mới phơng pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của HS đã thực hiện đ-
ợc bảy năm ở trờng THCS, nhng thực chất đó chính là sự kế thừa và phát huy các ph-
ơng pháp dạy học truyền thống trên cơ sở kết hợp ba phân môn: Văn - Tiếng việt -
Tập làm văn để tạo nên sức mạnh tổng hợp của môn Ngữ văn hiện nay.
Thực chất GV trong giờ nên lớp vẫn còn lúng túng với phơng pháp tổ chức dạy học
theo hớng phát huy tính tích cực của HS dẫn đến hiệu quả của tiết học cha cao. Điều
này phụ thuộc vào hai phía: sự chuẩn bị, quá trình dạy - học trên lớp của thầy và sự
chuẩn bị quá trình học tập trên lớp của trò. Thực tế nhiều GV đã nghiên cứu kĩ bài
học , kiến thức, chuẩn bị có hệ thống câu hỏi và giáo án một cách công phu nhng bài
giảng vẫn thất bại, vậy vớng mắc nắm ở đâu? Đó chính là sự cộng tác của chủ thể
của ngời học cha đợc phát huy. Muốn phát huy đợc tính tích cực của HS thì GV
không những nắm vững kiến thức bài học mà còn phải nhuần nhuyễn, vận dụng linh
hoạt phơng pháp dạy học tích cực một cách chủ động trong giờ lên lớp.
Đổi mới phơng pháp giảng dạy môn ngữ văn 6
4
Sáng kiến kinh nghiệm
Vũ Thị
Liên
II Ch ơng I: Tổng quan:
ii.1. SƠ L ợc kiến thức trong ch ơng trình ngữ văn thcs:
Chơng trình Ngữ văn THCS đợc biên soạn theo qui trình đồng tâm:
- Lớp 6: các em làm quen với kiểu văn bản chính: Tự sự và miêu tả.
II.2.1.Sự chuẩn bị của thầy
Trên đây là những vấn đề mang tính lí thuyết. Vấn đề trọng tâm của đề tài này
là: Đổi mới phơng pháp dạy học nhằm Phát huy tính tích cực và học tập của HS
trong dạy Ngữ văn lớp 6
Nh tôi đã trình bày ở trên, để phát huy tính tích cực học tập của HS trong tiết học
chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố quan trọng đó là:
Đổi mới phơng pháp giảng dạy môn ngữ văn 6
5
Sáng kiến kinh nghiệm
Vũ Thị
Liên
Sự chuẩn bị bài dạy và hớng dẫn của thầy trong tiết học.
Sự chuẩn bị bài học, hoạt động của HS trong tiết học.
Chính vì vậy đối với GV khâu chuẩn bị cho tiết học rất quan trọng.
- Thầy nghiên cứu bài học, thiết kế bài soạn cho phù hợp với đối tợng.
- Thầy xác định đợc trọng tâm kiến thức của bài học.
Quá trình dạy học trên lớp đợc tiến hành nh sau:
- Thầy chủ động hớng dẫn trò tìm hiểu, tiếp cận kiến thức bài học.
- Thầy đa ra hệ thống câu hỏi phù hợp lôgic kiến thức. Câu hỏi phải có cấp
độ, có độ mở để HS có khả năng trả lời đợc.
- Thầy hỏi, trò trả lời theo quan điểm riêng, nếu trò trả lời sai, thầy không
nên áp đạt mà động viên, khuyến khích trò ở những câu hỏi tiếp theo.
- Thầy tổ chức cho trò hoạt động nhiều, làm việc nhiều, nói nhiều. Kết hợp
giữa hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm của trò.
- Thầy quan tâm từng cá nhân, đặc biệt là đối tợng yếu và trung bình.
- Để thảo luận đạt kết quả, GV tìm ra kiến thức trọng tâm cần giải quyết và
tạo ra tình huống có vấn đề để HS thảo luận đa ra ý kiến.
II.2.2- Cụ thể một tiết dạy
Tuần 12 - Bài 11
+ Tại sao tác giả dân gian lại phải xây dựng các nhân vật nh vậy?
* HS sẽ trả lời: Đây là truyện ngụ ngôn mà trong đó nhân vật là những bộ phận cơ
thể con ngòi đã đựoc nhân hoá. Truyện mợn các bộ phận của cơ thể để nói chuyện
con ngời nhằm khuyên nhủ con ngời trong cuộc sống.
GV chủ động dẫn dắt HS vào bài học
* Hoạt động 2:
I. H ớng dẫn đọc- Tìm hiểu chung văn bản(12 )
1. H ớng dẫn đọc :
* GV hớng dẫn HS: Giọng đọc cần sinh động và có sự thay đổi thích hợp với
từng nhân vật, từng đoạn.
- Đoạn đầu: Giọng than thở, bất mãn.
- Đoạn: Chân, Tay, Tai, Mắt đến gặp lão Miệng giọng hăm hở, nóng vội.
- Đoạn tả Kết quả sự đình công của Chân, Tay, Tai, Mắt thì giọng uể oải.
- Đoạn cuối khi Chân, Tay, Tai, Mắt hối lỗi thì giọng vui vẻ, thân ái.
* GV đọc mẫu một đoạn sau đó gọi HS đọc nối tiếp đến hết.
HS đọc diễn cảm toàn bộ câu chuyện.
2. H ớng dẫn tìm hiểu nhân vật và sự việc
Dạng câu hỏi phát hiện
* GV đa ra câu hỏi:
? Trong truyện có mấy nhân vật, cách xây dựng nhân vật có gì đặc biệt.
Đổi mới phơng pháp giảng dạy môn ngữ văn 6
7