BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜ NG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐỖ THỊ HOA
QUẢN LÝ ĐỔI MỚI DẠY HỌC TIẾNG ANH
THEO HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP Ở
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐẶNG BÁ LÃM
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá
nhân tôi. Các số liệu và tài liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực. Kết
quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố
trước đó.
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hoa
PHỤ LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ Viết tắt
BCHTW
CBQL
CNH-HĐH
CNXH
CSVC
GD
GD-ĐT
GV
GVCN
GVTA
HĐDH
HS
HT
KTĐG
KT -XH
ND
PPCT
PPDH
SGK
TBDH
THPT
Chữ viết đầy đủ
Ban chấp hành Trung Ương
Cán bộ quản lý
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Bảng 2.4 Chất lượng văn hóa và điểm TB môn TA của HS
các trường THPT huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình năm học
2014 -2015............................................................................51
Bảng 2.5 Chất lượng văn hóa và điểm TB môn TA của HS
các trường THPT huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình năm học
2015 -2016............................................................................51
Bảng 2.6.Chất lượng văn hóa và điểm TB môn TA của HS
các trường THPT huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình năm học
2016 -2017............................................................................51
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát về những khó khăn trong việc
đổi mới HĐDH môn Tiếng Anh theo hướng nâng cao năng
lực giao tiếp...........................................................................52
Bảng 2.8. Kết quả trưng cầu ý kiến về tính cấp thiết phải
tăng cường quản lý đổi mới dạy học Tiếng Anh ở các trường
THPT huyện Kim Sơn.............................................................55
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý GV trong
việc xây dựng mục tiêu môn học.........................................56
Bảng 2.10. Khảo sát trình độ GVTA......................................59
Bảng 2.11. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý CSVV và sử
dụng TBDHvào giảng dạy tiếng Anh....................................64
Bảng 2.12. Kết quả khảo sát tình hình sử dụng TBDH,
phương tiện kỹ thuật hiện đại, ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy học...................................................................66
Bảng 2.13. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý đổi mới
PPDH môn Tiếng Anh............................................................68
Bảng 2.14.Kết quả đánh giá thực trạng sử dụng các PPDH
của GVTA...............................................................................72
Bảng 2.15.Kết quả đánh giá thực trạng sử dụng các hình
thức tổ chức dạy học trên lớp của GVTA..............................74
nhưng phải giữ gìn được bản sắc dân tộc.
Trong bối cảnh ngành GD-ĐT Việt Nam đang đứng trước những thách
thức và vận hội mới; đòi hỏi phải có những đổi mới căn bản toàn diện trong
hệ thống giáo dục. Mục 2, điều 4 trong Luật Giáo dục có nêu rõ “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý
chí vươn lên”.
Nâng cao chất lượng giáo dục luôn là vấn đề quan tâm của các nhà
trường nói chung và các nhà trường phổ thông nói riêng. Dạy học là một hoạt
động đặc thù của công tác giáo dục, nó giữ vị trí trung tâm và chi phối mọi hoạt
động khác trong nhà trường bởi nó chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công
việc của thầy và trò trong một năm học, nó là nền tảng quan trọng để thực hiện
thành công mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông; đồng thời,
nó quyết định kết quả đào tạo của nhà trường. Trong thực tế hiện nay, hiệu quả
việc dạy-học Tiếng Anh vẫn còn là vấn đề cần phải tiếp tục suy nghĩ. Ở các kì
thi quốc gia, đối với bộ môn Tiếng Anh, hình thức thi cử đang chỉ dừng lại ở
việc kiểm tra kiến thức về sử dụng cấu trúc và ngữ pháp nên hầu hết GV và HS
1
đang chú trọng nhiều vào việc dạy học và rèn luyện thành thạo các cấu trúc ngữ
pháp nhằm phục vụ cho quá trình thi cử. Do vậy, hầu hết các HS tuy đã có thời
gian tiếp cận với tiếng Anh khá lâu nhưng khả năng giao tiếp vẫn còn nhiều
hạn chế, người học chưa sử dụng được ngôn ngữ đúng với chức năng của nó.
Điều này, dẫn đến việc đào tạo tiếng Anh nhiều, dàn trải nhưng không đáp ứng
được nhu cầu về nguồn nhân lực có năng lực giao tiếp tiếng Anh tốt trong xu
thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Trong những năm qua các trường THPT tỉnh Ninh Bình nói chung và
huyện Kim Sơn nói riêng đã tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề về đổi mới hoạt
tỉnh Ninh Bình tuy đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn có
xuất hiện nhiều hạn chế. Nếu xây dựng được các biện pháp hợp lí và khả thi thì
sẽ đáp ứng được các yêu cầu của chương trình mới góp phần nâng cao chất
lượng dạy học Tiếng Anh ở các trường THPT huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đổi mới dạy học Tiếng Anh
theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở các trường THPT.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý đổi mới dạy học
Tiếng Anh theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở các trường THPT
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
5.3. Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý đổi mới dạy học
Tiếng Anh theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở các trường THPT
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu một số biện pháp quản lý dạy học Tiếng Anh theo
hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở các trường THPT huyện Kim Sơn, tỉnh
Ninh Bình
6.2. Giới hạn thời gian đánh giá hiện trạng trong khoảng 3 năm (2014 - 2017)
6.3. Giới hạn thời gian áp dụng các biện pháp đề xuất đến năm 2020
3
6.4. Cấp quản lý trọng tâm: Lãnh đạo các trường THPT trong huyện Kim Sơn
6.5. Địa bàn nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu ở 4 trường THPT ở huyện Kim Sơn, tỉnh
Ninh Bình
Trường THPT Kim Sơn A;
Trường THPT Kim Sơn B;
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Tiến hành phỏng vấn một số Hiệu trưởng, hiệu phó, tổ trưởng chuyên
môn và GV dạy Tiếng Anh của một số trường THPT để tìm hiểu những thận lợi
và khó khăn trong quá trình Tiếng Anh và quản lý hoạt động dạy Tiếng Anh
theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp nhằm góp phần làm rõ thực trạng.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu đánh giá sản phẩm hoạt động giảng dạy, hoạt động chuyên
môn của GV và các sản phẩm học của HS qua kết quả các bài kiểm tra, các
bài thi, các kỹ năng HS giao tiếp.
7.3. Phương pháp xử lý thông tin
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử lý
số liệu thống kê để bổ trợ, bổ sung việc xử lý kết quả.
8. Đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về đổi mới hoạt động dạy học Tiếng Anh
theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp.
Đánh giá thực trạng việc quản lí đổi mới hoạt động dạy học Tiếng Anh
theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở các trường THPT huyện Kim Sơn,
tỉnh Ninh Bình.
Đề xuất một số biện pháp quản lý đổi mới hoạt động dạy học Tiếng
Anh theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở các trường THPT huyện Kim
Sơn, tỉnh Ninh Bình.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
5
các phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác đổi mới dạy học Tiếng
Anh theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở trường THPT.
giao tiếp của HS, ông viết: “Đa số trường học vận dụng những phương pháp
có khuynh hướng khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, buộc tất cả HS trong lớp
phải đồng loạt đọc cùng những cuốn sách như nhau và đọc thuộc lòng những
bài học giống hệt nhau. Trong hoàn cảnh đó, trẻ sẽ mất dần những động lực
giao tiếp và người thầy sẽ không thể tận dụng được những nhu cầu tự nhiên
của đứa trẻ như cho, làm và phục vụ” [35, tr.79]. Nhà giáo dục J.Dewey đã đề
7
xuất thành lập nhà trường tích cực hướng vào người học, lấy quá trình học tập
của người học làm trung tâm; nhằm khuyến khích tính học tập, tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của người học. Bởi hoạt động học là của cá nhân người học, trên
cơ sở vận dụng kiến thức, phân tích kinh nghiệm để đáp ứng những yêu cầu
của nhiệm vụ học tập chứ không thể thụ động chờ đợi sự truyền đạt từ người
dạy. Hoạt động dạy-học lấy người học làm trung tâm dựa trên hai nguyên tắc
căn bản, đó là: đảm bảo tính liên tục của kiến thức và sự tác động qua lại giữa
các thành viên. Hai nguyên tắc này liên hệ chặt chẽ với nhau, tính liên tục bao
hàm các mối liên hệ của kiến thức; sự tác động qua lại của các thành viên tạo
nên kết quả tổng hợp của người học với sự giúp đỡ của thầy và bạn, thống
nhất giữa nhu cầu nhận thức, ý chí cá nhân với tác động của môi trường, như
hành vi của bạn bè, nghệ thuật giảng dạy của người dạy và những điều kiện
học tập khác… J.Dewey kêu gọi: “Nhà trường phải được tổ chức dưới hình
thức một cộng đồng mang tính chất hợp tác để ở đó, nhiệt tình giao tiếp và
tính cách dân chủ cho trẻ được bồi dưỡng và phát huy” [35]. Đây là tư tưởng
tiên tiến, thể hiện rõ tính dân chủ, mang tính cách mạng trong giáo dục, hoạt
động dạy-học lấy người học là trung tâm; phát huy vai trò tích cực học tập
giữa các cá nhân với cộng đồng khi thực hiện quá trình dạy-học lúc bấy giờ.
Sau này, tác giả Kerschenteiner (1854 - 1932) đưa tư tưởng nguyên tắc của
nhà trường tích cực vào hoạt động dạy-học ở trường tiểu học và trung học,
dạy-học trên lớp, điển hình như các tác giả: Đặng Quốc Bảo [2], Trần Kiểm
[24], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [28], Hà Thế Ngữ [30]… Trong những năm gần
đây, đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung cũng như
đổi mới hoạt động dạy-học nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có những
nhà giáo dục, tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới quản lí hoạt
động dạy-học nhằm nâng cao tính hiện đại, gắn khoa học với thực tiễn sản
xuất và đời sống, vấn đề lấy HS làm trung tâm trong hoạt động dạy-học như:
Phạm Minh Hạc [17], Đặng Thành Hưng [21], Phạm Viết Vượng [34]...
9
Tiếng Anh là một môn học nằm trong chương trình giáo dục, không thể
tách rời với các môn học khác nên phần lớn các biện pháp quản lý dạy học nói
chung đều có thể áp dụng được khi nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn Tiếng Anh. Đối với Huyện Kim Sơn, việc nghiên cứu các biện
pháp quản lý đổi mới hoạt động dạy học Tiếng Anh của Hiệu trưởng nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học ở các trường THPT cũng
đã được quan tâm nghiên cứu, song trên thực tế chưa thật hiệu quả. Vì vậy,
trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn dựa vào cơ sở lý luận của công
tác quản lý, để tìm hiểu thực trạng quản lý đổi mới dạy học môn Tiếng Anh
theo hướng nâng cao năng lực giao tiếp ở các trường THPT trên địa bàn
huyện Kim Sơn, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần thực hiện
cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay phù hợp với
những yêu cầu của thời kỳ hội nhập, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo, phục vụ hiệu quả cho sự phát triển KT-XH của đất nước.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Theo nghĩa chung nhất: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả các
Giáo dục là một hoạt động gắn liền với tiến trình đi lên của xã hội, ở
mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có nền giáo dục tương ứng, khi xã hội
chuyển từ hình thái KT-XH này sang hình thái KT-XH khác thì toàn bộ hệ
thống giáo dục tương ứng cũng biến đổi theo. Giáo dục chịu sự quy định của
xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển KT-XH trong những điều kiện cụ thể.
Giáo dục luôn biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử loài người, không
có một nền giáo dục rập khuôn cho mọi hình thái KT-XH, cho mọi giai đoạn
của mỗi hình thái KT-XH cũng như cho mọi quốc gia, chính vì vậy giáo dục
mang tính lịch sử. Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau thì giáo dục khác nhau về
mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục. Các chính sách
giáo dục luôn được hoàn thiện dưới ảnh hưởng của những kinh nghiệm và các
11
kết quả nghiên cứu.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội có tính phức tạp về nhiều mặt, nhiều
khía cạnh, có nhiều khoa học đi vào nghiên cứu nó như Kinh tế học, Xã hội
học, Triết học, Chính trị học…
Quá trình giáo dục được xem như là một hệ thống bao gồm các thành tố
cấu trúc như: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp, phương
tiện giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, người giáo dục, người được giáo
dục, kết quả giáo dục.
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,
có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được
giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ.
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo
dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,
những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức
cho họ các hoạt động và giao lưu. [31]
luật kinh tế, quy luật xã hội...) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
Theo phương diện quản lí vi mô thực chất quản lí nhà trường là quản lí
các thành tố sư phạm: Mục tiêu, nội dung, PPDH, GV, HS, cơ sở vật chấtthiết bị dạy học hình thức và kết quả dạy học. [26]
1.2.3. Quản lý nhà trường
1.2.3.1. Nhà trường
Nhà trường là cơ sở giáo dục, là nơi tổ chức quá trình dạy học, giáo
dục, đào tạo con người theo yêu cầu của xã hội. Trong nhà trường diễn ra các
hoạt động giáo dục toàn diện và quá trình quản lí giáo dục, trong đó hoạt động
dạy và quản lí dạy học là trung tâm. Xét trong quan hệ với cả hệ thống giáo
dục, nhà trường được xem xét như một tế bào căn bản, là đơn vị cấu trúc cơ
sở cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, là tấm gương phản chiếu bộ mặt của
một nền giáo dục. Mục tiêu giáo dục, tính chất đại chúng, dân chủ của nhà
13
trường, quy mô trường, lớp, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức
tổ chức giáo dục, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học… trong nhà trường
phản ánh trình độ phát triển, tính chất tiến bộ của nền giáo dục của mỗi quốc
gia. Xét trong quan hệ với cộng đồng, địa bàn cư dân và vùng lãnh thổ, nhà
trường được coi là vầng trán của cộng đồng, là trung tâm tri thức, trí tuệ của
cộng đồng, của địa phương. Nhà trường là nơi chuyển giao, phát triển và sáng
tạo tri thức, không chỉ cho các thế hệ người học tập trong nhà trường mà cho
cả cộng đồng xã hội.
Nhà trường là thiết chế chuyên biệt xã hội, nơi tổ chức, thực hiện và
quản lí quá trình giáo dục. Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người
được giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy). Trong quá trình giáo
dục, hoạt động của người học (hoạt động học theo nghĩa rộng) và hoạt động
của người dạy (hoạt động theo nghĩa rộng) luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ nhau,
tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu của xã hội. [26]
và biến nhà trường thành hệ tự quản lí. [26]
Trong các nhà trường nói chung, nhà trường THPT nói riêng, các hoạt
động chủ yếu là: hoạt động dạy - học, các hoạt động phục vụ hoạt động dạy học như tổ chức nhân lực, huy động sử dụng nguồn lực và xây dựng các mối
quan hệ. Do đó quản lý trường học nói chung, trường THPT nói riêng là quản
lý một quá trình gồm một số bộ phận là: dạy - học, tổ chức các nguồn lực và
các mối quan hệ, trong đó lấy quá trình dạy học là trọng tâm. Đặc biệt, quản
lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách
nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để
tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ
trẻ và với từng HS. Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý dạy và học,
tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần
dần tiến tới mục tiêu giáo dục.
1.2.4. Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học
1.2.4.1. Hoạt động dạy học
Quá trình dạy học tổng thể hay cụ thể đều được cấu thành bởi 8 yếu tố
cơ bản trong mối quan hệ tương tác: Mục đích nhiệm vụ dạy học; Nội dung
15
dạy học; Người dạy với hoạt động dạy; Người học với hoạt động học; Phương
pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học; Kiểm tra, đánh giá kết quả
dạy học; Môi trường dạy học; Quản lý dạy học.
Dạy học chính là con đường chủ đạo hình thành phát triển nhân cách
Hoạt động dạy học là quá trình hoạt động thống nhất giữa GV và HS.
Trong đó, dưới tác dụng chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của GV, HS tự giác,
tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học đã đề ra.
Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản
trong quá trình dạy học - hoạt động dạy và hoạt động học.
của người GV, người học tự giác, tích cực, chủ động, tự điều khiển hoạt động
nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học [31].
Đầu vào(I)
- Nguồn nhân lực
- Vật lực
- Tài lực
Quá trình (P)
- Hoạt động dạy-học
- Kiểm tra đánh giá
Đầu ra(O)
- Sản phẩm đầu
ra có đủ năng
lực đáp ứng thị
trường lao động
Bối cảnh (C)
- Sự phát triển kinh tế - xã hội,
- Tiến bộ khoa học công nghệ
- Sự tham gia của cộng đồng
Sơ đồ 1.2 Mô hình CIPO
Mục tiêu ở đây được hiểu một cách toàn diện bao gồm triết lí của giáo
dục, tới định hướng (aim), mục đích (goal) của cả hệ thống giáo dục và sứ
mệnh, các nhiệm vụ chiến lược… của cơ sở đào tạo (các nhà trường)
Xét trên quan điểm hệ thống, khi xem xét chất lượng của cả hệ thống
giáo dục, thì trước hết phải xác định được cấu trúc của toàn hệ thống đó. Các
nhà khoa học đã xác định toàn hệ thống sau:
Đầu vào (Input) của hệ thống giáo dục bao gồm: nguồn nhân lực (GV,
HS, các nhà quản lí…); vật lực (cơ sở vật chất, kĩ thuật, học liệu…); tài lực
đạo, chỉ đạo, tổ chức định hướng hoạt động dạy học.
18
1.2.4.3. Mục tiêu quản lí hoạt động dạy học.
Đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch và nội dung, chương
trình đào tạo theo đúng tiến độ, thời gian quy định.
Đảm bảo hoạt động dạy-học đạt chất lượng cao.
1.2.4.4. Nội dung quản lý hoạt động dạy-học
Nội dung của quản lý hoạt động dạy-học của hiệu trưởng trong nhà
trường bao gồm các hoạt động sau: Quản lý các yếu tố đầu vào của quá trình
dạy-học (I); Quản lý các yếu tố quá trình dạy-học (P); Quản lý các yếu tố đầu
ra của quá trình dạy-học (O); Quản lý điều tiết của bối cảnh (C).
Bảng 1.1. Nội dung quản lý hoạt động dạy – học theo CIPO
HĐDH
Quản lý
Kế hoạch
Bối
Yếu tố đầu vào
Yếu tố quá
Yếu tố đầu
cảnh
(I)
sau quá trình
yếu tố vật lực; iii)
dạy-học
Các yếu tố tài lực
Tổ chức thực hiện Tổ
chức Tổ chức thực
kế
hiện hiện
hoạch
phát thực
triển các yếu tố: i) kế
đánh
hoạch giá năng lực
Đội ngũ nguồn dạy-học và người
học
nhân lực; ii) Các kiểm