TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
---------------------------
NGUYỄN THỊ VÂN
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH
“ĐẤT NƢỚC”- NGUYỄN KHOA
ĐIỀM THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO
HỌC SINH THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN HẠNH PHƢƠNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, thầy cô giáo
trong Khoa Ngữ văn – Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, đặc biệt là ThS
Trần Hạnh Phƣơng- ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong
quá trình xây dựng và hoàn thiện khóa luận này.
Hà Nội, 20/04/2016
NGƢỜI THỰC HIỆN
NGUYỄN THỊ VÂN
Chƣơng 2. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT QUA
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƢỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM ................ 16
2.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp ................................................................ 16
2.1.1. Nguyên tắc dạy học gắn liền với đời sống thực tiễn ..................................... 16
2.1.2. Đảm bảo quan điểm dạy học tích hợp .......................................................... 16
2.1.3. Phối hợp linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học.............................. 16
2.1.4. Lấy người học làm trung tâm ....................................................................... 17
2.2. Dạy học đoạn trích “Đất Nƣớc” - Nguyễn Khoa Điềm theo định hƣớng phát
triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT ........................................................... 17
2.2.1. Phát triển năng lực đọc hiểu ........................................................................ 17
2.2.2. Phát triển năng lực tự nhận thức ................................................................. 20
2.2.3. Phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ ........................................................... 27
2.2.4. Phát triển năng lực đánh giá........................................................................ 29
Chƣơng 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM ................................................................ 34
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................... 48
LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VIẾT TẮT
CH
Câu hỏi
CT
Chƣơng trình
các nhà giáo dục đã đƣa vào rất nhiều phƣơng pháp tiếp cận mới đƣợc xem là
sáng tạo và phát huy đƣợc tốt nhất vai trò chủ thể và năng lực của học sinh,
các phƣơng pháp đó phải kể đến dạy đọc hiểu tác phẩm theo đặc trƣng thể
loại, theo hƣớng đối thoại, theo hƣớng tích hợp…Dù là tiếp cận theo hƣớng
nào thì việc giáo viên hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm hầu hết mới chỉ
dừng lại ở mặt nội dung, nghĩa là học sinh biết đƣợc những gì sau tiết học đọc
hiểu chứ chƣa chú trọng đến việc học sinh sẽ hiểu và làm đƣợc những gì sau
khi đã tiếp thu đƣợc những tri thức đó và vận dụng nó nhƣ thế nào trong đời
sống chứ không chỉ trên lí thuyết, trên trang giấy, trên lớp học hay trong nhà
trƣờng.Việc dạy học định hƣớng năng lực cho học sinh đòi hỏi các nhà giáo
dục phải đổi mới rất nhiều trong cách tiếp cận các biện pháp mới và hình thức
tổ chức dạy học. Đây là mục tiêu, đồng thời cũng là thách thức đối với nền
giáo dục Việt Nam nói chung và môn Ngữ văn nói riêng trong thời điểm hiện
nay.
1
Viết về đề tài Đất nƣớc, tình yêu Tổ quốc thiêng liêng có rất nhiều tác
phẩm, trong số đó đã có rất nhiều tác phẩm đƣợc đƣa vào chƣơng trình SGK
nhằm giúp học sinh có thể cảm nhận đƣợc những tình yêu to lớn đối với dân
tộc. Đoạn trích “Đất Nƣớc” là một thi phẩm rất hay để minh chứng cho điều
đó. Để học sinh có thể hiểu và cảm nhận đƣợc những cái hay trong từng tứ
thơ của đoạn trích là việc không hề đơn giản, làm thế nào để ngƣời học có thể
tiếp nhận đƣợc đoạn trích một cách chủ động nhất, sáng tạo nhất và đạt hiệu
quả cao nhất. Đây chính là vấn đề mà các nhà giáo dục luôn băn khoăn. Dù có
rất nhiều phƣơng pháp, phƣơng tiện, biện pháp nhƣng không phải phƣơng
pháp, biện pháp nào cũng đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn.Vì những lí do
này tôi quyết định chọn đề tài Dạy học đọc hiểu đoạn trích Đất Nước –
Nguyễn Khoa Điềm theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học
dạy học đoạn trích “Đất Nƣớc” trong nhà trƣờng phổ thông và hƣớng tiếp cận
văn hóa, từ đó thiết kế và thực nghiệm dạy học đoạn trích “Đất Nƣớc” của
Nguyễn Khoa Điềm theo hƣớng tiếp cận văn hóa
Tiếp cận tác phẩm có thể từ nhiều góc độ khác nhau, trên cơ sở những
nghiên cứu đã có, với mong muốn mở rộng việc tiếp cận tác phẩm theo một
hƣớng mới, tôi hy vọng sẽ đóng góp một cách tiếp cận mới mẻ đối với đoạn
trích “Đất Nƣớc” – Nguyễn Khoa Điềm
3. Mục đích nghiên cứu
-
Thấy đƣợc những mặt tích cực của phƣơng pháp dạy học theo định
hƣớng phát triển năng lực học sinh.
-
Qua việc đọc hiểu đoạn trích “Đất Nƣớc” học sinh hình thành đƣợc
một số năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn và vận dụng các năng lực đó
vào việc đọc hiểu các tác phẩm khác trong SGK, các tác phẩm ngoài nhà
trƣờng và trong đời sống thực tiễn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
-
Chỉ ra đƣợc những ƣu điểm của việc dạy học theo định hƣớng phát
triển năng lực học sinh, sự cần thiết phải đổi mới hƣớng tiếp nhận của học sinh.
và lắng kết năng lực cá nhân. Đây là hoạt động thu nạp, tỏa sáng âm thầm với
sức mạnh nội hóa kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ
thuật và kinh nghiệm văn hóa trong cấu trúc tinh thần cá thể. [7,22]
Nguyễn Thái Hòa cho rằng đọc – hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là
hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị
giác, thích giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin,
cấu trúc văn bản.
Theo GS. Trần Đình Sử, dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ
năng đọc để học sinh có thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại. Nội
dung khái niệm đọc rất rộng, nhƣng cấp độ sơ đẳng nhất ngƣời đọc phải nắm
bắt đúng thông tin trong văn bản thì mới có thể nói tới các khâu tiếp theo nhƣ
cảm thụ thẩm mỹ, tiếp nhận giáo dục, năng lực tƣ duy sáng tạo.
Đọc hiểu chính là đọc và nắm bắt thông tin.Hay nói cách khác là quá
trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì đƣợc đọc. Vì vậy, hiệu
quả của đọc hiểu đƣợc đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc.
Muốn vậy, ngƣời đọc phải đọc văn bản một cách có ý thức, phải lĩnh hội đƣợc
đích tác động của văn bản. Kết quả của đọc hiểu là: ngƣời đọc phải lĩnh hội
5
đƣợc thông tin, hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu đoạn, bài… tức là toàn bộ
những gì đƣợc đọc. Đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi đối tƣợng đọc, với tất
cả các kiểu loại văn bản đọc, trong đó có cả các văn bản nghệ thuật.
Tóm lại, đọc hiểu là việc cá nhân tiếp cận văn bản, bằng khả năng của
mình, huy động các vốn kiến thức, kinh nghiệm để phân tích, làm rõ, đƣa văn
bản của tác giả trở thành tác phẩm trong lòng bạn đọc.
1.1.2. Lí thuyết tiếp nhận
Khái niệm tiếp nhận văn học:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận văn học là hoạt động
chức cho học sinh tiếp nhận theo thể loại hay theo hƣớng dạy học tích cực.
Nhƣng tiếp nhận đƣợc gì lại ở chủ thể tiếp nhận hay chính là ở bản thân ngƣời
học, tuỳ thuộc vào khả năng nhận thức, hứng thú, sở thích… mà ngƣời học có
thể tiếp nhận tác phẩm ở những mức độ khác nhau.
1.1.3. Năng lực Ngữ văn của học sinh THPT
1.1.3.1. Khái niệm
Năng lực:
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): Năng lực là: “Khả năng, điều
kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm
chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt
động nào đó với chất lƣợng cao” [10]
Theo tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định
hƣớng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành
năm 2014: “Năng lực đƣợc quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…
nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh
nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố(phẩm chất
của ngƣời lao động, kiến thức và kỹ năng) đƣợc thể hiện thông qua các hoạt
động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao
7
gồm các yếu tố cơ bản mà mọi ngƣời lao động, mọi công dân đều cần phải có,
đó là các năng lực chung, cốt lõi.
Năng lực Ngữ văn:
Năng lực Ngữ văn là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản
về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống xã hội hiện
đại. Năng lực Ngữ văn gồm 2 nhóm năng lực: năng lực chung và năng lực
chuyên biệt. Ngoài năng lực chung, năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn
lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ
đích và định hƣớng rõ ràng.những kĩ năng của học sinh đƣợc hình thành
thông qua việc thực hiện các hoạt động học và thực hành trong đời sống thực
tiễn.
- Thái độ: là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hƣớng
nào đó trƣớc một vấn đề hay một tình hình cụ thể.Trong học tập, thái độ chính
là những nhận thức, giá trị sống và định hƣớng hành vi của học sinh sau khi
học một nội dung nào đó.
1.1.3.3. Những năng lực Ngữ văn của học sinh THPT
Nói về năng lực Ngữ văn của học sinh THPT có nhiều quan điểm,
nhiều nhà nghiên cứu cho rằng học sinh THPT ngoài những năng lực chung
cần có các năng lực chuyên biệt khi học môn Ngữ văn nhƣ năng lực đọc –
hiểu, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sáng tạo ( hay năng lực tạo lập văn
bản), năng lực đánh giá, cảm thụ, thƣởng thức văn học…Trong phạm vi bài
khóa luận này, tác giả chỉ xin chỉ trình bày những năng lực đƣợc cho là cơ
bản và cần thiết phải có ở mỗi ngƣời học văn:
Năng lực đọc hiểu:
Thầy Trần Đình Sử quan niệm:
Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có
thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại… Do không có năng lực đọc hiểu
cho nên nếu cho một văn bản chƣa học cùng loại với văn bản đã học trong
9
SGK chắc chắn là đại đa số học sinh sẽ khó khăn và nói chung là không đọc
hiểu đƣợc.
nỗi đau, niềm vui của con ngƣời, của cuộc đời. Hiểu và cảm thƣơng đƣa đến
một sự thanh lọc, một sự tự nhận thức, một sự thức tỉnh bên trong mõi con
ngƣời. Văn học lúc ấy mới thực sự đã đến với con ngƣời và hiệu quả đọc văn
nhƣ thế mới gọi là đạt đƣợc hiệu quả cần có.” [8, 129]
“Đọc văn rồi tự nhận thức, tự trau dồi, tự thanh lọc là yêu cầu cần có
của đọc văn và đó cũng là năng lực đặc thù của tiếp nhận văn học mà ở nhà
trƣờng nhất là nhà trƣờng năng khiếu phải đặc biệt quan tâm nuôi dƣỡng và
phát triển ở HS.” [8, 130]
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ:
Cảm thụ văn học (CTVH) là đọc hiểu các tác phẩm văn chƣơng ở mức
độ cao nhất, không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu đƣợc thông
tin, phân tích, đánh giá đƣợc khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo đƣợc
mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu
đó cho ngƣời khác. Cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu
chuyện, một bài thơ…ngƣời đọc không những hiểu mà còn phải có xúc cảm,
tƣởng tƣợng và thật sự gần gũi, “nhập thân” với những gì đã đọc… Đọc có
suy ngẫm, tƣởng tƣợng (hay liên tƣởng) và rung cảm thực sự chính là ngƣời
đọc biết cảm thụ văn học.
Cảm thụ là quá trình ngƣời đọc nhập thân đầy cảm xúc vào tác phẩm,
suy tƣ về một số các câu chữ, hình ảnh, lập luận và sống cùng tâm trạng, cảm
xúc của nhân vật, nhân vật trữ tình hoặc của tác giả. Ngƣời cảm thụ đồng thời
vừa là ngƣời tiếp nhận vừa là ngƣời phản hồi về tác phẩm.
Nếu nhƣ tác giả sử dụng tƣ duy nghệ thuật để sáng tạo tác phẩm, thì
ngƣời đọc cũng phải sử dụng cùng loại tƣ duy ấy để lĩnh hội tác phẩm. Đó
chính là tƣ duy hình tƣợng, loại tƣ duy dựa trên cơ sở tiếp xúc cảm tính với
đối tƣợng, làm sống dậy toàn vẹn đối tƣợng đó bằng nghe, nhìn, tƣởng tƣợng,
12
Khi HS biết đánh giá tác phẩm là lúc HS tự nâng tầm hiểu biết của bản
thân cao hơn, rộng hơn và cách nhìn về tác phẩm cũng đƣợc mở rộng hơn
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Về việc dạy học Ngữ văn truyền thống
Những năm qua, nhà trƣờng phổ thông đã có sự tiếp cận và đổi mới rất
nhiều về phƣơng pháp dạy học, hình thức dạy học, đem lại nhiều thay đổi cho
cả giáo viên và học sinh cách tiếp cận tác phẩm văn học ở nhiều góc độ khác
nhau. Tuy nhiên, vẫn còn không ít trƣờng học việc tổ chức dạy học theo hình
thức truyền thống vẫn diễn ra, có chăng chỉ đƣa vào một số ít phƣơng pháp
mới nhƣ dạy học nêu vấn đề hoặc sử dụng đồ dùng trực quan, nhƣng vẫn còn
rất hạn chế.
Sự lĩnh hội tri thức của học sinh chỉ đơn thuần là sự truyền thụ kiến
thức một chiều từ thầy sang trò, giáo viên vẫn là ngƣời giữ vai trò chủ đạo
trong giờ học, học sinh nghe giảng, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, trở
nên ỷ lại, chậm chạp, không phát huy đƣợc tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh, hạn chế năng lực tự học của các em, khiến các em ngày càng
ngại học môn văn.
Giáo sƣ Trần Đình Sử cho rằng: “…vì bản thân văn học nghệ thuật và
nói chung các văn bản là sáng tạo ra cho từng ngƣời đọc, và mỗi ngƣời đọc
phải tự mình đọc lấy thì hình tƣợng, cảm xúc và nội dung mới từ văn bản dấy
lên trong lòng mình…vậy mà bao nhiêu năm, thầy giáo làm ngƣời thƣởng
thức văn chƣơng hộ rồi giảng lại cái hay cho học sinh chép. Đến lƣợt thi cử,
học sinh chỉ cần thuộc lời thầy là làm đƣợc bài, tự mình không cần đọc vẫn
thi đƣợc. Cách dạy đó đi ngƣợc lại bản chất của văn chƣơng, đi ngƣợc lại
nguyên tắc dạy học, là phƣơng pháp cách ly tốt nhất học sinh – ngƣời đọc
khỏi tác phẩm, làm cho học sinh không có dịp trực tiếp đối diện với văn bản,
kết quả học tập của HS.
14
Chƣơng trình dạy học định hƣớng phát triển năng lực không quy định
những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong
muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đƣa ra những hƣớng dẫn chung về
việc lựa chọn nội dung, phƣơng pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học
nhằm đảm bảo thực hiện đƣợc mục tiêu dạy học tức là đạt đƣợc kết quả đầu ra
mong muốn. Trong chƣơng trình định hƣớng phát triển năng lực, mục tiêu
học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thƣờng đƣợc mô tả thông qua hệ
thống các năng lực.
Kết quả học tập mong muốn đƣợc mô tả chi tiết và có thể quan sát,
đánh giá đƣợc. HS cần đạt đƣợc những kết quả yêu cầu đã quy định trong
chƣơng trình. Việc đƣa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý
chất lƣợng giáo dục theo định hƣớng kết quả đầu ra.
Ƣu điểm của chƣơng trình giáo dục định hƣớng phát triển năng lực là
tạo điều kiện quản lý chất lƣợng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh
năng lực vận dụng của HS. Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch,
không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri
thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức.Ngoài ra chất lƣợng giáo dục không
chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện.
15
Chƣơng 2
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT QUA
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƢỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
bảng ghim, bảng lật, trình chiếu bằng máy, dụng cụ trực quan, tranh, ảnh,
hình vẽ… mỗi khi giảng xong một nội dung nào đó, ngƣời dạy nên dán, treo
quanh lớp học để kiến thức luôn hiển thị trƣớc mặt ngƣời học.” [11, 26-27]
Ngoài những phƣơng pháp, hình thức dạy học truyền thống, GV cần sử
dụng kết hợp đa dạng các phƣơng pháp, hình thức dạy học nhằm giúp cho giờ
học sinh động, lôi cuốn, hấp dẫn.
2.1.4. Lấy người học làm trung tâm
Luôn đặt ngƣời học là chủ thể trong mọi hoạt động, ngƣời học chủ
động tiếp thu và lĩnh hội tri thức, tham gia tích cực trong các hoạt động dạy
học do GV tổ chức
GV chỉ là ngƣời hƣớng dẫn, định hƣớng hoặc làm trọng tài trong các
trò chơi học tập đƣợc tổ chức
Điều này giúp ngƣời học chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức, tránh sự
mất tập trung, nhàm chán trong giờ học
2.2. Dạy học đoạn trích “Đất Nƣớc” - Nguyễn Khoa Điềm theo định
hƣớng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT
2.2.1.Phát triển năng lực đọc hiểu
2.2.1.1. Phương pháp đọc
Mục đích:
-
Giúp các em hình thành đƣợc kĩ năng đọc, không đơn thuần chỉ là
đọc thông, đọc thuộc mà mục đích hƣớng tới là đọc để hiểu, đọc sáng tạo;
không chỉ “đọc” đƣợc các tác phẩm học trong nhà trƣờng mà còn “đọc” đƣợc
các tác phẩm ngoài nhà trƣờng, ở nhiều thể loại, nhiều dạng văn bản khác
nhau.
17
+ Các tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm mà em đã đƣợc học là: “Khúc
hát ru những em bé lớn trên lƣng mẹ” trong chƣơng trình Ngữ văn 9
+ Vài nét về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông sinh năm 1943, quê ở
Phong Hòa, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế. Năm 1964 ông tốt nghiệp khoa
Văn trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội.Ông hoạt động nhiều trong lĩnh vực
chính trị và văn nghệ. Ông thuộc thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mĩ cứu
nƣớc, thơ ông giàu cảm xúc nồng nàn và suy tƣ sâu lắng.
- CH2: Qua việc chuẩn bị bài ở nhà, hãy nêu hiểu biết của anh/ chị về
đoạn trích “Đất Nƣớc”?
- HS: Đoạn trích nằm ở phần đầu chƣơng V, trích Trƣờng ca “Mặt
đƣờng khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm.
2.2.1.3. Phương pháp thuyết trình
Mục đích:
- Nếu phần thuyết trình là của GV: cung cấp thêm cho HS những kiến
thức ngoài SGK, ngoài sách vở và các tƣ liệu khác mà các em chƣa đƣợc tiếp
cận
- Nếu phần thuyết trình là của HS: không những giúp các em hình
thành kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đứng trƣớc đám đông mà còn giúp các em
trình bày đƣợc những hiểu biết của mình thông qua hoạt động đọc – hiểu. Từ
đó giúp các em chủ động lĩnh hội, ghi nhớ và khắc sâu kiến thức
Hoạt động cụ thể:
-CH3: Theo quan điểm riêng của anh chị, sau khi đã đọc và soạn bài ở
nhà, hãy trình bày cách chia đoạn trích này, nêu ý chính cho mỗi đoạn?
- HS(trình bày ý tƣởng của mình, thuyết trình trƣớc GV và cả lớp): chia
làm 3 phần cụ thể:
+Phần 1: Từ đầu đến “Đất Nƣớc có từ ngày đó”: quá trình hình thành
Đất Nƣớc
19