ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LỚP TÀI CHÍNH KHÓA 17B
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài số 3
THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Giảng viên: ThS Trương Minh Tuấn
Thành viên Nhóm 6 thực hiện:
1) Nguyễn Minh Mẫn (STT 31)
2) Lê Thị Thanh Minh (STT 33)
3) Nguyễn Văn Minh (STT 34)
4) Vũ Hải Yền (STT 35)
ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
………………………………………………………………………….…
…………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………….…
……………………………………………………………………….……
…………………………………………………………………….………
………………………………………………………………….…………
……………………………………………………………….……………
…………………………………………………………….………………
………………………………………………………….…………………
……………………………………………………….……………………
…………………………………………………….………………………
………………………………………………….…………………………
……………………………………………….……………………………
…………………………………………….………………………………
a)Tích cực
b)Tiêu cực
III.Các biện pháp xử lý nợ xấu:
1.Kinh nghiệm xử lý nợ xấu các nước trên thế giới
2.Giải pháp xử lý nợ xấu ở Việt Nam
3.Ý kiến của nhóm
I. Khái quát:
1. Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng
chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại. Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia
làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian thực hiện đầy đủ nhất các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền
gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán.
2. Tín dụng:
Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Người cho vay chỉ chuyển
quyền sử dụng vốn cho người đi vay, người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn khi đáo hạn, khi đó
người cho vay nhận được một khoản thu nhập dưới hình thức lợi tức tín dụng.
3. Nợ và phân loại nợ:
a) Nợ
Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp nợ về tài sản. Tuy nhiên, nợ cũng
có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử
dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó. Các công ty cũng có thể sử
dụng nợ như là một phần trong chiến lược tài chính tổng thể của mình.
Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất
định, thường được đi kèm với sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định
tính theo thời điểm.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá
hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ
đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
- Các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá
hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ
cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ
hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở
lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
c) Nợ xấu
Dựa vào bảng phân loại nợ xấu được xếp vào loại nợ từ nhóm 3 trở đi.
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng
trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố
phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên
thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào
các nhóm thích hợp.
II.
Thực trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam:
1. Nguyên nhân hình thành nợ xấu ở Việt Nam:
Có 5 nguyên nhân chủ yếu:
Thứ nhất, do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh và tài
nhân đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các Ngân
hàng thương mại để sở hữu chéo nên họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng, chưa kể các
Ngân hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các Ngân hàng thương mại là các
công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào những Ngân hàng khác có tiềm năng.Tình trạng sở
hữu chéo này có thể dẫn tới rất nhiều hệ lụy, một trong số đó là làm tăng tỷ lệ xấu của
các ngân hàng. Bởi lẽ, việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng sẽ tạo điều
kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ
ngân hàng kia, hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu
tại ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối
ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân
hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có
quan hệ thân thiết. Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn
vay thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu. Do đó, tình trạng sở hữu chéo được xem là
một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong thời gian gần
đây.
Thứ năm, quy định pháp luật nhằm hạn chế, giải quyết tình trạng nợ xấu đã có nhưng
chưa minh bạch, chưa hợp lý. Có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành đã có những khung
pháp lý cơ bản trong việc hạn chế cũng như giải quyết nợ xấu của các TCTD như: quy
định về phân loại nợ; quy định về trích lập dự phòng rủi ro; quy định về xử lý tài sản
đảm bảo nợ; quy định về quyền khởi kiện yêu cầu các tổ chức cá nhân hoàn trả vốn vay;
quy định về hoạt động mua bán nợ…Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, các quy định khi đi
vào thực tế trở nên không phù hợp, không phát huy được hiệu quả trong việc giải quyết
nợ xấu, dẫn đến tình trạng nợ xấu không được cải thiện mà còn có xu hướng tăng lên.
2. Thực trạng nợ xấu ở Việt Nam:
a. Sơ lược nợ xấu qua các năm gần đây:
Trong giai đoạn từ năm 2008 – 2012, tỷ lệ nợ xấu trên toàn hệ thống tài chính Việt Nam
tăng đáng kể từ 2.17% lên 6 %, đặc biệt trong hai năm 2011 và 2012, tỷ lệ nợ xấu tăng vọt (hình
1). Năm 2012 tỷ lệ nợ xấu tăng gần gấp đôi so với năm 2011, điều này cho thấy vấn đề nợ xấu ở
2012
Hình 2: Tốc độ tăng nợ xấu qua các năm ( từ năm 2008- 2012).
Về mức tăng trưởng nợ xấu theo năm, tốc độ cao đã thể hiện từ năm 2008 với mức
74.37%, nhưng đến năm 2009 đã giảm mạnh xuống mức 27.33%; năm 2010 tăng trở lại lên
41.92%, tiếp tục tăng trong năm 2011 lên 60.55%, tốc độ tăng nợ xấu đạt mức cao trở lại trong
năm 2012, chỉ tính đến 9 tháng đầu năm 2012 đã tăng tới 66% ( hình 2 ).
Cơ cấu nợ xấu của các nhóm TCTD
TCTD phi ngân
hàng
12%
NHTMCP
35%
Quỹ TDND
7%
NHTMNN
46%
Hình 3: Cơ cấu nợ xấu của các nhóm tổ chức tín dụng năm 2012.
Trong cơ cấu nợ xấu của các nhóm tổ chức tín dụng năm 2012, nợ xấu của nhóm ngân
hàng chiếm đa số với 81% trên tổng số, trong đó ngân hàng thương mại cổ phần chiếm 35% và
nhóm ngân hàng thương mại nhà nước cao hơn với 46%. Theo đánh giá của các chuyên gia, nợ
xấu của hệ thống Ngân hàng là hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng trong
mặt tích cực và tiêu cục.
a. Tích cực :
Nợ xấu mang đến nhiều rủi ro cho cho hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung
nhưng nợ xấu cũng có mặt tích cực vì rủi ro lớn thường đi kèm với lợi nhuận lớn.
Những khoản nợ xấu là một phần trong việc kinh doanh của ngân hàng, không có gì bất bình
thường. Tuy nhiên, muốn quản lý được nợ xấu, hệ thống quản lý rủi ro phải luôn luôn sẵn sàng.
Nếu biết và quản lý được rủi ro của khách hàng thì mặc dù nợ xấu có thể tác động không tốt
tới nền kinh tế nhưng xét ở một khía cạnh nào đó nợ xấu sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho những ai
đánh giá rõ rủi ro còn khách hàng.
b. Tiêu cực:
Nợ xấu ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của cả chủ nợ và doanh nghiệp. Chủ
nợ mất nhiều thời gian, công sức thu hồi nợ. Trong khi đó, doanh nghiệp gần như mất khả năng
trả nợ, chủ nợ có nguy cơ mất trắng.
Một trong những nút thắt lớn hiện nay của nền kinh tế là vấn đề nợ xấu của hệ thống ngân
hàng. Nhiều chuyên gia kinh tế gọi đó là “cục máu đông trong mạch máu” của nền kinh tế. Giải
quyết được vấn đề này mới có thể khai thông bế tắc cho nền kinh tế, giúp ổn định kinh tế vĩ mô
và thúc đẩy sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế.
Với những khoảng nợ xấu lớn thực sự đáng lo ngại và gây ảnh hưởng tới hoạt động của các
ngân hàng cũng như nền kinh tế. Việc một khoản tiền lớn không thể đưa vào lưu thông, bị chôn
ở các tài sản đảm bảo sẽ gây lãng phí lớn cho xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn như
hiện nay.
Nợ xấu chính là lý do khiến các ngân hàng thời gian qua không dám tiếp tục cho vay, dù
nguồn vốn không thiếu. Ngân hàng phải thận trọng hơn với các khoản vay để tránh các khoản nợ
xấu tiếp theo, dẫn tới hậu quả là các ngân hàng có tiền mà không cho vay được, còn nền kinh tế
thì vẫn tiếp tục khát vốn.
Khi nợ xấu đã đến ngưỡng báo động, nếu cứ để các ngân hàng thương mại và doanh
nghiệp tự xử lý, thì số lượng doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản sẽ tiếp tục gia tăng do vẫn
đang có nợ xấu tại ngân hàng, hàng hóa chậm tiêu thụ.
Hình thức phân tán: Các khoản nợ xấu vẫn được giữ trên bảng cân đối của
ngân hàng. Các khoản nợ xấu của ngân hàng sẽ được xử lý bởi những đơn vị được thành lập
trong chính ngân hàng. Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng các ngân hàng có đủ
thông tin về các doanh nghiệp hoạt động yếu kém để có thể thúc đẩy quá trình tái cơ cấu các
doanh nghiệp đó; đồng thời, các ngân hàng cũng chính là chủ thể có nhiều động lực nhất để cố
gắng thu hồi đến mức tối đa các khoản nợ xấu.
Các nước thành lập AMC theo hình thức tập trung gồm có: Hàn Quốc, Séc,
Mỹ…. Ðại diện các quốc gia áp dụng hình thức phân tán là Trung Quốc và Ba Lan. Hungary và
Thái Lan là 2 nước sử dụng kết hợp cả 2 hình thức. Công tác xử lý nợ xấu tại Hungary đã áp
dụng song song cả 2 loại hình AMC trên (một cơ quan thu hồi nợ xấu tập trung xử lý các
khoản nợ lớn và phức tạp; phần còn lại do các ngân hàng tự giải quyết theo thỏa thuận của
ngân hàng với Bộ Tài chính) trong khi Thái Lan sau khi thất bại với phương pháp phân tán
đã thực hiện phương pháp tập trung.
2. Giải pháp xử lý nợ xấu ở Việt Nam:
+ Siết chặt thẩm định, lựa chọn khách hàng vay vốn: Một giải pháp để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu là
siết chặt việc thẩm định, lựa chọn khách hàng vay vốn mới, tăng cường giải ngân tín dụng vào
các lĩnh vực như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu và sản xuất – kinh doanh
+ Đảo nợ, giãn/hoãn/giảm nợ: Các biện pháp truyền thống như cho vay đảo nợ, giãn/hoãn/giảm
nợ cũng mang lại tác dụng trong việc giúp ngân hàng nhanh chóng hạ tỷ lệ nợ xấu xuống mức
thấp hơn. Tôi cho rằng, với việc các ngân hàng liên tiếp đưa ra các cam kết về gói lãi suất thấp
trong thời gian gần đây, làn sóng đảo nợ sẽ diễn ra khá sôi động. Mặc dù không phải là biện pháp
hạ tỷ lệ nợ xấu bền vững, nhưng việc đảo nợ sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều thời gian hơn để
chuẩn bị nguồn tài chính trả nợ đồng thời ngân hàng cũng có cơ hội hạn chế đáng kể việc gia
tăng tỷ lệ nợ xấu.
3. Ý kiến của nhóm:
Thứ 1: Là các ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ xấu, chấp nhận
giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ. Việc làm này, sẽ giúp ngân hàng thương mại nhanh chóng bù đắp
tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp. Đồng thời, có thể giảm quỹ lương nhưng làm tăng
khả năng tài chính nội tại của ngân hàng.
thuế về hoạt động mua bán nợ sẽ làm giảm tổn thất về nợ xấu, thúc đẩy các nhà đầu tư tư nhân
tham gia vào thị trường mua bán nợ. Đồng thời, thực hiện giải pháp này sẽ không làm tốn kém
ngân sách nhà nước.
Thứ 8, Nhà nước cần miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nghiệp vụ phát hành trái phiếu
doanh nghiệp. Điều này giúp giảm lãi suất huy động, và giúp hệ thống ngân hàng thương mại có
điều kiện huy động vốn dài hạn, thay vì ngắn hạn, đồng thời thúc đẩy tiến trình chứng khoán hóa
các khoản nợ.
Thứ 9: Phá băng thị trường bất động sản. Trong giai đoạn hiện nay vẫn còn hàng triệu người
chưa có khả năng mua nhà, nếu giá nhà chỉ ở mức vài trăm triệu đồng một căn thì nhu cầu thực
tế là rất lớn. Vì thế, nhà nước cần nhanh chóng biến sáng kiến căn hộ nhỏ tối thiểu 25 m2 thành
hiệnthực.
Thứ 10: Nhà nước nên cơ cấu lại phân bổ ngân sách cho năm 2013 theo hướng tăng chi ngân
sách cho lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng. Không nên đặt mục tiêu tăng thâm hụt ngân sách mà
phải là tăng chi ngân sách cho lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng trên cơ sở giảm chi ở các ngành
lĩnh vực chưa cấp thiết.
Thứ 11: Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ của đọi ngũ thẩm định cho vay, đồng thời siết
chặt quản lý việc thẩm định, tăng cường các biện pháp xử lý trừng phạt, truy tố việc thẩm định
sai trái. Tránh tình trạng doanh nghiệp yếu kém “đi đêm” với các nhân viên thẩm định, tiến hành
kê giá, thẩm định sai năng lực doanh nghiệp
Thứ 12 : Tiến hành xem xét để bán ngay các khoản nợ xấu để thu hồi vốn.