Nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 13



TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA NGÂN HÀNG ĐỀ TÀI:

TP.HCM, tháng 01/2014
NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương
Nhóm 5 – NH Đêm 1

Đặng Thị Ngọc Diễm
Nguyễn Hoàng Nam
Ngô Thị Hồng Nga
Lê Hoài Khánh Vi
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 2 LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian vừa qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam đã và đang trải qua nhiều khó khăn và thách thức.

nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi
cho ngân hàng.
Theo quan điểm của Phòng thóng kê – liên hiệp quốc: Về cơ bản một khoản
nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản
lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo
thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do
chắc chắn để nghi ngờ về khả năng sẽ được thanh toán đầy đủ.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế - IAS: nợ xấu là những khoản nợ quá hạn
trên 90 ngày và/hoặc khả năng trả nợ nghi ngờ.
Ngoài ra còn có một định nghĩ về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài
chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 vừa được chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)
công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000,
lần 2 vào tháng 12 năm 2003) và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát
triển vào đầu năm 2005. Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 4

của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá
hạn.Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương
pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (xếp hạng khách
hàng).Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng
thực tế gặp nhiều khó khăn.Vì vậy, nó đang được ủy ban kế toán quốc tế tiếp tục
nghiên cứu để hoàn chỉnh.
Một định nghĩa khác của từ điển tài chính Farlex: “Nợ xấu là một khoản
nợ từ việc tín dụng bán hàng mà chủ nợ không có khả năng thu hồi. Chủ nợ đã tiến
hành tất cả mọi nỗ lực có thể để thu hồi nợ nhưng không thành công. Thông
thường, nợ xấu xuất hiện khi con nợ tuyên bố phá sản hay chủ nợ thực hiện nhiều
hoạt động thu nợ mà chi phí của chúng là tương đối so với khoản nợ. Một doanh
nghiệp xóa sổ và kê khai nợ xấu như một chi phí làm giảm thu nhập chịu thuế của

- Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí.
- Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán
nợ khi đến hạn.
Các hoạt động cho vay:
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng.
- Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi.
- Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến,…
Phương thức tài chính:
- Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển
dài hạn.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất (ví dụ: thường xuyên sử
dụng nghiệp vụ factoring…)
- Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu.
- Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu …
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lí của
khách hàng:
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 6

Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
Hệ thống điều hành luôn bất đồng vì mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc
quá phân tán.Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện:
- Được hoạch định bởi HĐQT hoặc giám đốc điều hành ít hay không có
kinh nghiệm
- Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ.
- Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên.
Có các chi phí quản lí bất hợp lí: tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng
như thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, ban giám đốc
có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và chi phí cá nhân.

thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ.
Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường
là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn
thua lỗ hoặc phá sản, Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước
những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ
xấu ở kì trước.
- Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất
cho doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho doanh
nghiệp là không thể được thu thập, và tất cả những nỗ lực hợp lý đã được tận dụng
để thu thập các số tiền nợ. Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá
sản hoặc chi phí của việc theo đuổi hành động hơn nữa trong một nỗ lực để thu
thập các khoản nợ vượt quá các khoản nợ của chính nó.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN được ban hành ngày
22/4/2005, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Đến ngày
21/1/2013, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 02. Thông tư này đã sửa đổi,
bổ sung cho Quyết định 493 về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng. Theo đó, việc phân loại nợ để trích lập dự phòng cụ thể
được quy định lại theo hướng siết chặt hơn so với Quyết định 493. Cụ thể là các
khoản nợ được xếp vào loại nợ xấu bao gồm những khoản nợ từ Nhóm 2 đến
Nhóm 5 và một phần nợ nhóm 1.
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 8

Thông tư 02 sẽ được áp dụng từ ngày 1/6/2013.Nhưng vào ngày 27/5/2013
thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 12/2013/TT-NHNN sửa đổi một số
điều trong Thông tư 02.Theo đó, ngày áp dụng Thông tư 02/2013/TT-NHNN sẽ
được gia hạn thêm 1 năm và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2014.Vì
vậy chuyên đề này được nghiên cứu dựa trên Quyết định 493.
Các nhóm nợ thuộc khoản nợ xấu:

chính hiện tại của các chủ thể trong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên mức nguy
hiểm trong tương lai. Với Việt Nam, tình hình nợ xấu chưa tới mức báo động song
rất cần xử lý quyết liệt để không gây hậu quả nghiêm trọng.
 Nợ xấu NHTM VN từ 2008-2012
Đơn vị: tỷ đồng
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 10
Nguồn: www.Cafef.vn
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của
các tổ chức tín dụng tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Trung bình giai đoạn
2008 - 2011, dư nợ bình quân nợ xấu khá cao, khoảng 51%. Theo báo cáo của các
ngân hàng thương mại, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tại thời điểm 30-11-2012 là 3,43%,

2008 2009 2010 2011 2012
Tổng nợ xấu 26970 35875 49064 87967 185205
Tổng dư nợ
1242857 1630682 2292720 2665670 3086750
Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng
dư nợ %


lớn ở Việt Nam đều nằm trong giới hạn an toàn cho phép, trong đó tỷ lệ nợ xấu
của các NHTMCP có dấu hiệu được kiểm soát tốt hơn các NHTMQD.
Biểu đồ: Tỷ lệ nợ xấu tại một số NHTM Việt Nam có niêm yết từ 2008-
2010

Nguồn: Thư viện quốc gia Việt Nam (nlv.gov.vn)
Theo báo cáo tổng kết ngành của NHNN, năm 2008 tỷ lệ nợ xấu của toàn
hệ thống tăng lên đến 2,1% nhưng vẫn còn thấp hơn mức cho phép theo tiêu chuẩn
quốc tế 5%, trong khi tỷ lệ nợ xấu của Trung Quốc năm 2007 đang ở mức 6,17%,
đây là một dấu hiệu rất khả quan. Đến cuối năm 2009 tỷ lệ nợ xấu là 2,6% và 2010
khoảng 3% tổng dư nợ tín dụng nên vẫn nằm trong tỷ lệ an toàn cho phép của
NHNN
Tốc độ “tăng trưởng” của nợ xấu hàng năm, hiện đã được được tính theo
cấp số hàng chục %.
Tính đến cuối năm 2008, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở
khoảng 43.500 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng Đây là số liệu có từ hội
nghị toàn ngành ngân hàng tổ chức tại Hà Nội 30/12/2008
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 13

Ngân hàng Nhà nước cho biết, về số nợ xấu nói trên, cơ bản đã được các
ngân hàng trích lập đủ dự phòng rủi ro.
Liên quan đến tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại, cũng
theo thông tin từ hội nghị trên, trong năm 2008 không có ngân hàng nào rơi vào
thua lỗ; một số chỉ số chính cho thấy hệ thống vẫn an toàn và đạt kết quả khả quan
trong năm 2008
Trong năm 2008, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, vốn tín dụng đầu
tư vào khu vực dân doanh tăng khoảng 35% - 37%, lĩnh vực xuất khẩu có mức
tăng tương ứng, khu vực sản xuất tăng 34% - 36%, khu vực nông nghiệp và nông

2.1.2. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2010-2011
Theo thống kê của Ngân Hàng Nhà nước, cuối năm 2010, tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng là 2,5%, chưa bao gồm dư nợ của hệ
thống ngân hàng đối với Tập Đoàn Công Nghiệp và Tàu Thủy Việt Nam
(Vinashin). Nếu tính thêm cả dư nợ đối với Vinashin thì tỷ lệ nợ xấu cuối năm
2010 sẽ là 3,2% tổng dư nợ cho vay. Trong đó nợ xấu từ phía các doanh nghiệp
quốc doanh chiếm đến 60% tổng số nợ xấu. Đến cuối năm 2011, tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ lại tiếp tục tăng lên đến mức 3,3%. Hầu hết các ngân hàng niêm yết
đều có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh so với năm 2010. Cụ thể là tính đến 30/9/2011, tổng
nợ xấu của 8 NHTM niêm yết là 15.018 tỷ đồng, trong đó nợ có khả năng mất vốn
(nợ nhóm 5) chiếm 55,22% tương ứng với số tiền cụ thể là 8.293 tỷ đồng. Tình
hình gia tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của 8 ngân hàng niêm yết được thể hiện
qua biểu đồ sau:
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 15 Hình 1: Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các NHTM tại 30/09/2011
(Nguồn: Theo CafeF/TTVN/BCTC các NHTM)
CTG: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
VCB: Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
STB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
EIB: Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
ACB: Ngân Hàng TMCP Á Châu
SHB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội
HBB: Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội
NVB: Ngân Hàng TMCP Nam Việt

NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương


(Nguồn: BCTC/CafeF)
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng qua 9 tháng đầu năm 2012
Đáng lưu ý trong bức tranh nợ xấu của các ngân hàng thời gian qua là nhóm
nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) mà ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro
100%. Theo báo cáo tài chính, hiện nay tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên dư nợ
cho vay khách hàng của BaoVietBank đang ở mức cao nhất với 2,93%, tiếp đến là
của LienVietPostBank với 1,46%; của Vietcombank là 1,42%; của BIDV là
1,22%; của MB là 1,07%; của KienLongBank là 1,36%. Nợ có khả năng mất vốn
của các ngân hàng khác trong khi đó cũng xấp xỉ mức 1% như Vietinbank là
0,86%; của Techcombank 0,99%; của ACB là 0,81%; PGBank 0,83%

NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 18

(Nguồn: BCTC/CafeF)
Hình 3: Biểu đồ tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên tổng dư nợ cho vay khách hàng
tại thời điểm 30/9/2012
Về con số cụ thể, ngân hàng BIDV có khoản nợ có khả năng mất vốn cao
nhất, lên tới 3.984,4 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 9/2012; của Vietcombank
cũng hơn 3.200 tỷ đồng; của Vietinbank là 2.578 tỷ đồng. Ngân hàng ACB hiện có
829,1 tỷ đồng nợ có khả năng mất vốn; MB có 629,4 tỷđồng; Techcombank là
610,8 tỷđồng So với thời điểm cuối năm 2011, nợ có khả năng mất vốn của các

Ngân hàng TMCP Xăng Dầu (PG Bank) đang là ngân hàng dẫn đầu về tỷ
lệ nợ xấu, tính đến hết tháng 9.2013, PGBank có 1.240 tỉ đồng nợ xấu chiếm 9,5%
trên tổng dư nợ 13.057 tỉ đồng.
Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) xếp thứ hai về tỷ lệ nợ xấu khi có
1.034 tỉ đồng nợ xấu, chiếm 8,87% dư nợ. Navibank có tổng dư nợ cho vay chín
tháng đầu năm đạt 11.786 tỉ đồng, âm 9% so với đầu năm.
Ngân hàng Phương Nam có tỷ lệ nợ xấu 3,79% (1.650 tỉ đồng) trên tổng
dư nợ 43.539 tỉ đồng. So với đầu năm, số tuyệt đối thì nợ xấu của ngân hàng này
đã tăng 474 tỉ đồng. Đặc biệt, nợ có khả năng mất vốn tăng 25% lên 999 tỉ đồng.
Ngân hàng TMCP Đại Dương (Ocean Bank) là trường hợp ngân hàng có
mức độ tăng nợ xấu thuộc loại nhanh nhất trong các ngân hàng. Thời điểm đầu
năm chỉ có 666 tỉ đồng nợ xấu, chiếm 2,26% trên tổng dư nợ. Tuy nhiên đến 30.9
nợ xấu của Ocean Bank đã tăng lên 1.458 tỉ đồng, chiếm 5,21% trên tổng dư nợ
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 20

cho vay 27.948 tỉ đồng. Trong cơ cấu nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn chiếm đến
986 tỉ đồng, tương đương 67,7% tổng nợ xấu và gấp hơn hai lần so với con số 355
tỉ đồng nợ có khả năng mất vốn hồi cuối năm 2013.
Trong các ngân hàng có mức vốn hoá nhỏ thì ngân hàng TMCP Nam Á
(Nam A Bank) có tỷ lệ nợ xấu khá thấp 2,17% trên tổng dư nợ. Nam A Bank đã
kiểm soát khá tốt chất lượng tín dụng của mình khi chỉ có 188,5 tỉ đồng nợ xấu
trên 8.664 tỉ đồng dư nợ cho vay. So với cuối năm 2012 thì tỷ lệ nợ xấu của Nam
A Bank đã giảm 0,30%.
Thời điểm đầu năm 2013, tỷ lệ nợ xấu của Dong A Bank chiếm 3,95% với
gần 2.000 tỉ đồng, nhưng nhờ triển khai các biện pháp xử lý mạnh đã kéo nợ xấu
giảm xuống còn 1.503 tỉ đồng, chiếm 2,93% trên tổng dư nợ.
Nợ xấu của các ngân hàng “top dưới” kể trên có trường hợp tăng hoặc
giảm, thì đối với các ngân hàng được cho là “top trên” nợ xấu hầu hết đều tăng,

trong tương lai, không được thực hiện việc cơ cấu lại nợ và các biện pháp nghiệp
vụ khác để che giấu nợ xấu hoặc làm sai lệch chất lượng tín dụng”- ông Thọ phát
biểu.
2.2 Tỷ lệ nợ xấu theo lĩnh vực cho vay và đối tượng vay
Nợ xấu là một trong những con số nhạy cảm, những thông tin chi tiết về nợ
xấu của toàn hệ thống ngân hàng mà được công bố thì rất hiếm hoi. So với năm
2010 thì chỉ có năm 2011 những thông tin về nợ xấu mới được thống đốc ngân
hàng nhà nước công bố một cách chi tiết hơn. Do đó khi phân tích tỷ lệ nợ xấu
theo lĩnh vực cho vay thì đề tài này chỉ tập trung vào năm 2011.
2.2.1. Tỷ lệ nợ xấu đối với tín dụng bất động sản và cho vay phi sản
xuất
Như đã biết thì hầu hết các ngân hàng thường cho vay ở nhiều lĩnh vực
khác nhau như cho vay sản xuất và cho vay phi sản xuất, xuất khẩu, phát triển
nông thôn. Theo như các chuyên gia kinh tế phân tích thì những khoản cho vay phi
sản xuất thường không được ưu tiên và khuyến khích so với các lĩnh vực khác bởi
vì tỷ lệ rủi ro cao và dễ gây ra nợ xấu. Đó là lí do tại sao Ngân Hàng Nhà Nước
quy định tỷ lệ tối đa các ngân hàng cho vay vào lĩnh vực phi sản xuất không vượt
quá 16% (theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN, thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban
hành vào ngày1/3/2011). Tỷ trọng cho vay phi sản xuất tính đến cuối năm 2011 là
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 22

14,7%. Tương ứng với con số cụ thể hơn 400.000 tỷ đồng cho vay ở lĩnh vực “phi
sản xuất”.
Thống kê toàn hệ thống ngân hàng đến 31/12/2011, tổng dư nợ cho vay bất
động sản là 201.000 tỷ đồng giảm 14,25% so với 31/12/2010(Cafeland - số liệu từ
báo cáo của NHNN), chiếm khoảng 8,45% tổng dư nợ của toàn hệ thống. Nếu chỉ
xét trên toàn hệ thống ngân hàng của Việt Nam, thì tỷ lệ nợ xấu trong lĩnh vực bất
động sản chỉ chiếm 8,45% tổng dư nợ, nhưng khi xét riêng các ngân hàng trên địa

chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tính đến ngày 31/5/2012, dư nợ cho vay đầu tư
kinh doanh chứng khoán khoảng 12.000 tỷ đồngtương đương 6,5% dư nợ cho vay
đầu tư kinh doanh BĐS và con số nợ xấu cho vay BĐS chiếm 10,3% tổng nợ xấu
của hệ thống và nợ xấu khoảng 485 tỷ đồng (tapchitaichinh - báo cáo của các
TCTD).
Cùng với kết quảnghiên cứu của nhóm chuyên gia thuộc Trung tâm nghiên
cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thì tỷ trọng dư nợ chứng khoán và bất động
sản chiếm 10 đến 12% tổng dư nợ hệ thống ngân hàng. Kết hợp với tỷ lệ dư nợ bất
động sản của toàn hệ thống ngân hàng là 8,45% tổng dư nợ (nguồn báo cáo của
NHNN) thì tỷ lệ dư nợ của những khoản vay đầu tư vào chứng khoán tính toán
được là 1,55 - 3,55%.
Nhìn chung thì cho vay bất động sản và cho vay đầu tư chứng khoán là
những vực không đước khuyến khích, nhưng trên thực tế thì dư nợ trong hai lĩnh
vực này lại khá cao, do đó nguy cơ nợ xấu cũng có xu hướng tăng.
2.2.3. Tỷ lệ nợ xấu đối với các doanh nghiệp nhà nước
Trong những đối tượng vay tín dụng ở ngân hàng, thì các doanh nghiệp
quốc doanh là một trong những khách hàng lớn của các ngân hàng, đặc biệt là các
ngân hàng quốc doanh hoặc các ngân hàng mà cổ phần nhà nước chiếm đại đa số
như Vietinbank, Vietcombank, Agribank, Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam Vì vậy tỷ lệ nợ xấu ở những ngân hàng này cao hơn mức bình quân của
toàn ngành là 3,3% (tính đến cuối năm 2011).Cụ thể, nợ xấu của các NHTM Nhà
nước là 3,76% và của NHTM cổ phần ngoài quốc doanh lên tới 4,73%. Đơn
cửtrong nhóm NHTM Nhà nước, Agribank có tỷ lệ nợ xấu cao nhất lên tới 6,14%,
xấp xỉ gấp đôi mức bình quân của ngành, tiếp theo là Vietcombank 3,55% (báo
Dân Trí - báo cáo của các TCTD).
Theo thống kê năm 2010, nợ xấu từ phía các doanh nghiệp quốc doanh
chiếm 60% tổng số nợ xấu. Thêm vào đó đến thời điểm tháng 9/2012, theo báo
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 24

giải thể. Ngoài ra, lạm phát biến động mạnh và bất thường làm cho môi trường
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 25

kinh doanh trở nên bất định hơn, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả tài chính và khả
năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp.
- Thị trường bất động sản trầm lắng cũng là một nguyên nhân chính gây ra
nợ xấu bất động sản tăng cao. Do tác động khủng hoảng tài chính cùng với chính
sách hạn chế tín dụng cho các lĩnh vực phi sản xuất, các dòng vốn chảy vào lĩnh
vực bất động sản (bao gồm cả tín dụng bất động sản và vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) đều suy giảm mạnh khiến giao dịch trên thị trường này khá ít ỏi, bất
chấp giá mặt hàng này đã giảm tương đối mạnh, số lượng hàng tồn bất động sản
ngày càng lớn. Nhiều dự án bị tạm ngưng do thiếu vốn, thị trường ảm đạm kéo dài
khiến nhiều doanh nghiệp bất động sản rơi vào tình trạng thua lỗ, không có tiền trả
nợ ngân hàng, dẫn đến nguy cơ nợ bất động sản trở thành nợ xấu.
- Áp lực cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước từ các ngân hàng thương
mại có vốn nhà nước chi phối cao. Cho đến nay, ngân hàng thương mại nhà nước
vẫn là người cho vay lớn nhất đối với doanh nghiệp nhà nước vì các lý do khác
nhau. Do vậy, nhiều dự án kém hiệu quả cũng như một số doanh nghiệp nhà nước
hoạt động yếu kém vẫn được vay vốn. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn
không được kiểm soát một cách chặt chẽ gây lãng phí lớn nguồn vốn vay. Trong
bối cảnh chu kỳ kinh tế biến động bất thường, hậu quả tất yếu là nhiều doanh
nghiệp, dự án không đủ khả năng để trả nợ, góp phần gia tăng nợ xấu trong khu
vực này.
- Năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng còn nhiều bất cập so với quy
mô, tốc độ tăng trưởng và mức độ rủi ro trong hoạt động. Với nhiều ngân hàng
thương mại, nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tới 70% - 80% tổng nguồn,
thậm chí đối với một số ngân hàng, tỷ trọng này còn cao hơn, trong khi tỷ trọng
cho vay trung hạn và dài hạn không nhỏ. Với độ vênh lớn về kỳ hạn giữa tài sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status