– – CH K22
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
Đề Tài:
HIỆP ƢỚC BASEL – LỘ TRÌNH VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
GVHD : PGS.TS Trƣơng Quang Thông
Nhóm thực hiện : Nhóm 6 – Cao Học Ngày 4 – K22
1. Hà Thị Sen (Nhóm trưởng)
2. Vũ Huỳnh Phương
3. Nguyễn Thị Thanh Túy
4. Vương Thị Hồng Lâm
5. Nguyễn Thị Thu Hương
6. Ngô Thị Thanh Nga
7. Nguyễn Thị KimTuyến
8. Phạm Trần Anh Vũ
TP Hồ Chính Minh, tháng 08/2013
– – CH K22
MỤC LỤC
Nam 28
3.2.1. Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro
28
3.2.2. Hiệu quả kinh doanh củ ụ thuộc vào mức độ rủi ro 29
3.2.3. Quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động kinh
doanh củ 29
3.2.4. Quản trị rủi ro để tồn tại và phát triển trong một môi trường quốc tế 29
– – CH K22
3.3. Lộ trình áp dụng Basel tại Việt Nam 30
3.3.1. Sơ lược về thực tiễn áp dụng Basel tại Việt Nam 30
3.3.1.1. Những kết quả đạt được 30
3.3.1.2 Những mặt chưa đạt được 36
3.3.2 Các nguyên nhân cản trở việc áp dụng Basel tại các NHTM Việt Nam 39
3.3.2.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng nhà nước 39
3.3.2.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại 41
3.3.2.3 Nguyên nhân khác 41
3.3.3 Khả năng tuân thủ Basel của các Ngân hàng thương mại Việt Nam 43
3.3.3.1 Mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn mới 43
3.3.3.2 Những thách thức tác động tới khả năng tuân thủ Basel của các ngân hàng
Việt Nam 45
PHẦN 4: KẾT LUẬN 48
Doanh nghiệp
NHTMCP
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần – – CH K22
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Lộ trình hiệp ước Basel 2
Bảng 2: Trọng số rủi ro các tài sản trong bảng cân đối 5
Bảng 3: Bộ kiểm tra ứng với ba trụ cột 9
Bảng 4: Đối chiếu việc thực hiện các nguyên tắc giám sát của Basel trong hoạt động
giám sát của NHNN 36
Bảng 5: Thống kê CAR của một số ngân hàng Việt Nam 44
Bảng 6: Lộ trình thực hiện Basel III … 46
Sơ đồ 7: Các loại rủi ro tác động đến hoạt động KD của các ngân hàng thương mại 25
Sơ đồ 8: Lộ trình thực hiện các yêu cầu về tăng thanh khoản và vốn tối thiểu của ngân
hàng 44 – – CH K22
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, ngành Ngân Hàng đã có những cải cách đáng kể tho
hướng thị trường và mở cửa khu vực dịch vụ tài chính – ngân hàng trước yêu cầu phát
triển kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, để tham gia tốt vào “sân
chơi” chung quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh với các hệ thống ngân hàng nước
ngoài, ngân hàng khác trên thế giới thì việc hệ thống ngân hàng Việt Nam cần phải tuân
thủ các hiệp ước quốc tế, áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về hoạt động
ngân hàng là hết sức cần thiết.
hoảng nợ quốc tế. Cuộc khủng hoảng năm 1970 gây hỗn loạn thị trường tiền tệ quốc tế
và sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng, cũng đặt ra vấn đề giám sát điều tiết của hoạt
động ngân hàng quốc tế. Trong bối cảnh này, Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng
(BCBS) đã được thành lập bởi các thống đốc NHTW của nhóm G -10
vào cuối năm 1974, họp thường xuyên bốn lần một năm.
BCBS là một diễn đàn hợp tác và trao đổi thường xuyên về các vấn đề liên quađế
n giám sát hoạt động ngân hàng. Mục tiêu của nó là để tăng cường sự hiểu biết về
các vấn đề chính trong giám sát và nâng cao chất lượng giám sát ngân hàng trên toàn
thế giới. Ủy ban khuyến khích liên hệ và hợp tác giữa các thành viên và cơ quan giám
sát ngân hàng khác nhau. Uỷ ban báo cáo cho các thống đốc NHTW và thủ trưởng các
cơ quan giám sát của các nước thành viên. BCBS không có bất kỳ một cơ quan giám sát
nào và những kết luận của ủy ban không có hiệu lực pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với
các việc giám sát hoạt động ngân hàng. Thay vào đó là sự mở rộng các tiêu chuẩn giám
sát, hướng dẫn và khuyến nghị với mong muốn rằng các cơ quan, cá nhân riêng lẻ sẽ
thực hiện chúng thông qua luật định hoặc bằng cách khác sao cho phù hợp nhất với hệ
thống của quốc gia của họ. Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp
cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của
các nước thành viên.
Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động
ngân hàng của nhóm G10. Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy Ban là thu
hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: Không ngân hàng nước
ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát, và việc giám sát phải tương ứng.
Quan điểm của BCBS là: “ Sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù
là phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự ổn định về tài chính trong cả nội
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 2
bộ quốc gia đó và trên trường quốc tế” (BCBS a, 2010). Cụ thể hoá quan điểm này, Uỷ
Ban Basel đã ban hành một loạt các văn bản từ năm 1975.
Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó
Chương trình tư vấn thứ hai ( Second Consulative Package –
CP2)
5
Tháng 4/2003
Chương trình tư vấn lần thứ ba (CP3)
6
Quý 4/2003
Phiên bản mới của Hiệp ước vốn (Basel II) được hoàn thiện.
7
Cuối năm 2004
Hoàn tất việc triển khai và hướng dẫn Basel II
8
Cuối năm 2006
Đưa vào áp dụng đầy đủ cho các ngân hàng đủ tiêu chuẩn
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 3
(các quốc gia thuộc nhóm OECD)
9
Tháng 9/2010
Basel 3 ra đời.
Nguồn: The New Basel Capital Accord: an explanatory note
* Quy định về các thành phần của vốn
o Khái niệm vốn trong Basel I đã chia các nhân tố của vốn thành 2 cấp:
- Vốn cấp 1 gồm có vốn cổ phần thường và các khoản dự trữ công khai
- Vốn cấp 2 bao gồm các khoản dự trữ không công khai, giá trị tăng thêm của
việc đánh giá lại tài sản, dự phòng chung và dự phòng tổn thất tín dụng, các công cụ nợ
cho phép chuyển đổi thành cổ phiếu và các khoản nợ thứ cấp.
- Tổng vốn cấp 1 và cấp 2 chính là vốn tự có hay vốn cơ bản của tổ chức tín
dụng.
o Vốn tự có phải đảm bảo những giới hạn sau:
- Tổng vốn cấp 2 chỉ được tối đa bằng 100% vốn cấp 1
- Nợ thứ cấp phải nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn cấp 1
- Trong trường hợp các khoản dự phòng chung hay dự phòng tổn thất tín dụng
bao gồm giá trị giảm của việc đánh giá lại tài sản nhưng chưa thể hiện trên bảng cân đối
kế toán, phần dự phòng cho những khoản này sẽ được giới hạn tối đa hoặc trong một số
trường hợp đặc biệt có thể lên đến 1.25% của tài sản có rủi ro.
- Giá trị tăng thêm của việc đánh giá lại tài sản đối với các khoản giá trị ước
tính ngầm dựa trên những chứng khoán ảo sẽ chịu mức chiết khấu 55%.
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 5
o Các khoản giảm trừ khỏi vốn tự có: Lợi thế thương mại; đầu tư vào các ngân
hàng, các công ty tài chính là công ty con; Đầu tư vào vốn ngân hàng và các tổ chức tài
chính (theo quyết định của cơ quan nhà nước).
* Quy định về trọng số rủi ro
Quy định 5 mức trọng số rủi ro từ 0 đến 100%.
Bảng 2: Trọng số rủi ro các tài sản trong bảng cân đối
Hệ số trọng
lượng
Nhận xét
0%
100%
Các khoản phải đòi từ khu vực tư nhân, Các khoản phải đòi đối với
các ngân hàng được thành lập ở các nước không thuộc OECD, có thời
hạn còn lại từ 1 năm trở lên, và các khoản phải đòi có thời hạn còn lại
từ 1 năm trở lên được các ngân hàng này bảo lãnh thanh toán;
Các khoản phải đòi đối với chính quyền trung ương của các nước
không thuộc OECD, trừ trường hợp cho vay bằng đồng bản tệ và
nguồn cho vay cũng bằng đồng bản tệ của các nước đó.
Và các loại tài sản khác
* Quy định về tỉ lệ tiêu chuẩn
o Yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu
để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra.
o Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ % nhất định trong tổng vốn của ngân hàng,
do đó mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của
ngân hàng đó.
o Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook”: tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS với
mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là những ngân hàng
hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia. Theo tiêu
chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính
toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng.
o Basel I nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ vốn an toàn trong hoạt động ngân
hàng. Dựa trên cách tính vốn tự có mà Basel I đã đưa ra chỉ tiêu tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu (CAR)
CAR = [(Vốn tự có hay vốn cơ bản)/(Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)]*100%
Trong đó: Tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA) = Tổng (Tài sản nội bảng* Hệ
số rủi ro) + Tổng (Tài sản ngoại bảng * Hệ số chuyển đổi * Hệ số rủi ro)
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 7
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 8
Thứ tư, một số quy tắc do Basel I đưa ra chỉ có thể vận dụng trong trường hợp
Ngân hàng hoạt động theo kiểu ngân hàng đơn, ngân hàng mẹ, ngân hàng – chi
nhánh…
Thứ năm, một số quy định trong Basel I đã không còn phù hợp khi các ngân
hàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo thành những tập đoàn lớn có khả năng cạnh
tranh cao và có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, các ngân hàng không còn chỉ
hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà luôn hướng đến tầm quốc tế.
2.2 Hiệp ƣớc Basel II
2.2.1 Mục tiêu của Basel II
- Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế.
- Tạo lập và duy trì sự bình đẳng giữa các ngân hàng hoạt động trên bình diện
quốc tế.
- Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý
rủi ro.
Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel
I. Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ cơ chế điều
tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà
sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình.
2.2.2 Nội dung của Basel II
o Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 06/1999, Ủy ban Basel đã nỗ
lực đưa ra một hiệp ước Basel mới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản hiệp
ước quốc tế về vốn của Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành. Với cách tiếp cận
mới dựa trên 3 cột trụ chính, Basel II đã buộc các ngân hàng quốc tế tuân thủ theo 3
nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc thứ nhất: liên quan đến việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó các ngân
hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro
của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp (Trụ cột 1). So
kiểm tra tương ứng với 3 trụ cột như sau:
Bảng 3: Bộ kiểm tra ứng với 3 trụ cột
Hiệp ước an toàn vốn Basel II được cấu trúc với 3 trụ cột chính, với các yêu cầu chi tiết cần
phải đáp ứng. Mỗi trụ cột được thiết kế với một bộ các kiểm tra và các cân đối trong quản lý
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 10
rủi ro và vốn.
Trụ cột 1 : Các yêu cầu vốn
an toàn tối thiểu
Trụ cột 2 : Tổng quan
về giám sát
Trụ cột 3 : Kỷ luật - thị
trƣờng
Rủi ro tín dụng - các bƣớc
chính:
1. Lựa chọn phương pháp
tiếp cận.
2. Phân loại toàn bộ rủi ro.
3. Đánh giá xếp loại rủi ro,
sử dụng hệ thống xếp hạng
tuân thủ Basel.
4. Thu thập dữ liệu.
5. Tính mức vốn theo quy
định.
6. Quan sát việc thực hiện
các yêu cầu trong quản trị,
quy trình và dữ liệu.
Rủi ro hoạt động - các bƣớc
quan trọng :
mức độ an toàn vốn và
bảo đảm có biện pháp xử
lý kịp thời khi cần thiết.
1. Phần này bao gồm các
công bố về vốn, tài sản có rủi
ro và các quy trình đánh giá
rủi ro. Điều này cho phép các
bên tham gia thị trường có
thể thẩm định mức vốn an
toàn và có sự so sánh.
2. Các ngân hàng phải có
chính sách công khai rõ ràng
và một quy trình để đánh giá
sự chính xác trong các báo
cáo của họ.
3. Đối với từng loại rủi ro
riêng biệt, các ngân hàng
phải mô tả các mục tiêu và
các chính sách quản trị rủi ro
của họ.
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 11
o Theo Basel II, các phương pháp đo lường rủi ro bao gồm:
- Các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng:
+ Phương pháp chuẩn hóa: phụ thuộc vào đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín
nhiệm độc lập
+ Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ cơ bản: Các ngân hàng đưa ra
những khoản rủi ro ngầm định
operation and Development). Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc
quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài.
Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel II thừa
nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm
bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting).
Basel II cho phép TCTD sử dụng các phương pháp nội bộ để tính toán các yêu
cầu về vốn đối với rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động, nhưng cũng qui định các TCTD
phải công bố thông tin đầy đủ cho các thành viên tham gia thị trường, giúp các thành
viên tham gia thị trường hiểu biết về mối quan hệ giữa danh mục rủi ro và vốn của một
ngân hàng cũng như sự lành mạnh của nó so với các thành viên tham gia thị trường.
Công bố thông tin phải phản ánh được tình hình tài chính của ngân hàng, trong đó yêu
cầu đầu tiên là đủ vốn và sau đó là các danh mục rủi ro tương ứng nhằm đảm bảo tính
minh bạch và bình đẳng trong cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro hệ thống, góp phần củng
cố sự lành mạnh và an toàn cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính. Các
phương pháp đo lường và qui chuẩn của Basel II cũng khuyến khích các ngân hàng tự
quản lý bằng việc áp dụng những phương pháp đánh giá nội bộ về nhu cầu sử dụng
vốn, chú ý đến tình trạng rủi ro của ngân hàng, đưa nhiều hơn yếu tố thị trường vào hệ
thống ngân hàng thông qua yêu cầu công bố thông tin, cho phép các bên tham gia đánh
giá được rủi ro và mức vốn hóa thực sự của những chủ thể khác nhau
2.2.4. Những hạn chế của Basel II
Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn
bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại
đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II. Đó là:
Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn
có thể được chấp nhận rộng rãi.
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 13
Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của
chu kỳ kinh doanh.
nhằm ngăn chặn việc lạm dụng chia thưởng hoặc chia cổ tức cao trong bối cảnh trình
trạng tài chính và tỷ lệ an toàn vốn không đảm bảo.
o Basel III cũng đồng thời rà soát lại các tiêu chuẩn (định nghĩa) vốn cấp 1 và vốn
cấp 2 và sẽ loại bỏ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn khi giám sát chỉ tiêu an toàn vốn
tối thiểu. Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu: 6%
o Ngoài những nội dung đã đạt được sự đồng thuận như ở trên, Ủy ban Basel III
còn đề xuất các nội dung sau:
- Đầu tiên, chất lượng, tính đồng nhất và minh bạch của cơ sở vốn sẽ được tăng
lên. Vốn cấp 1 chủ yếu phải có cổ phần phổ thông và lợi nhuận. Vốn cấp 2 sẽ được hài
hòa, trong khi vốn cấp 3 sẽ bị loại bỏ.
- Thứ hai, tăng cường quản lý rủi ro khuôn khổ vốn bằng cách: Đề xuất kết hợp
quản lý thị trường và rủi ro tín dụng của đối tác; thêm nguy cơ CVA (điều chỉnh giá trị
tín dụng) do suy giảm xếp hạng tín dụng của đối tác; nâng yêu cầu vốn đối với các tổn
thất tín dụng đối tác phát sinh từ các hoạt động phái sinh của các ngân hàng, repo và các
giao dịch tài chính, chứng khoán; nâng yêu cầu vốn đệm dự phòng cho các tổn thất này.
Sơ đồ 1: Yêu cầu vốn theo Basel III
Nguồn: Kế hoạch mới về yêu cầu vốn (tháng 7 2011), Ủy ban Châu Âu
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 15
- Thứ ba, sẽ giới thiệu một tỷ lệ đòn bẩy như một biện pháp bổ sung dựa trên
khuôn khổ quản lý rủi ro của Basel II.
- Thứ tư, giới thiệu một loạt biện pháp để thúc đẩy việc xây dựng các bộ đệm
vốn trong thời kỳ hanh thông để phòng cho giai đoạn căng thẳng.
- Thứ năm, giới thiệu một tiêu chuẩn thanh khoản toàn cầu tối thiểu cho các ngân
hàng toàn cầu, trong đó bao gồm yêu cầu thanh khoản tỷ lệ bảo hiểm 30 ngày, được củng
cố bằng một tỷ lệ thanh khoản cơ cấu dài hạn được gọi là Tỷ lệ tài trợ ổn định ròng.
2.3.3 Hạn chế Basel III
Basel III với những quy định mới về khái niệm và các tiêu chuẩn tối thiểu cao
hơn, cùng phương pháp giám sát an toàn vĩ mô được đánh giá là sự thay đổi lịch sử
chuyển thành tiền để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn và dài hạn, bỏ sót qui định
thanh khoản đối với các nghĩa vụ trong 12 tháng và điều chỉnh thành nghĩa vụ trong 30
ngày để tính trái phiếu dự phòng thành tài sản thanh khoản. Đan Mạch, Thụy Điển và
Tây Ban Nha vận động cho việc điều chỉnh này vì các ngân hàng của họ nắm giữ nhiều
trái phiếu loại này, đây là loại chứng khoán được bảo lãnh bởi dòng tiền mặt từ vốn
góp cho vay cầm cố.
Theo Vishal Vedi (Công ty Tư vấn tài chính Deloitte tại Luân Đôn) có những
mâu thuẫn trong nội dung Basel 3 như: Cộng hòa liên bang Đức bỏ các loại chứng
khoán lai ghép như nợ và cổ phần vào một rọ - loại chứng khoán này đang chiếm trên
50% nguồn vốn của một số ngân hàng Đức. Italia đòi phải tính cả tài sản hoãn nộp
thuế vào vốn cấp I - các khoản khấu trừ trong tương lai từ nghĩa vụ thuế bắt nguồn từ
các khoản lỗ hiện tại (Basel III chỉ cho phép sử dụng những tài sản này không quá
10% vốn ngân hàng, trong khi dự thảo của EU cho phép sử dụng không hạn chế phần
tài sản hoãn nộp thuế nếu đáp ứng những yêu cầu nhất định)… có thể ảnh hưởng xấu
đến qui chế vốn mới, như đã xảy ra khi cụ thể hóa Basel I và Basel II trước đây, nếu
nhiều nước xây dựng phiên bản riêng về qui chế vốn. Trong đó, lo ngại lớn nhất là sự
khác biệt giữa Mỹ và châu Âu về việc thực hiện Basel III sẽ tăng lên, khi tinh thần
Basel III bị bên này đẩy sang bên kia.
Hiệp ƣớc vốn Basel
Nhóm 6 – CH Ngày 4 – K22 Page 17
PHẦN 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BASEL TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1. Giới thiệu hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
3.1.1. Quy mô
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt
Techcombank là NHTMCP có tổng tài sản lớn nhất khối tư nhân. Có 11 ngân hàng đã bán
cổ phần cho nước ngoài, tỷ lệ từ 14,88 - 20%.