TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
MÔ HÌNH CAMELS VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
MỤC LỤC
1
1
I. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH CAMELS
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CAMELS
Hệ thống đánh giá CAMELS do Cục Quản lý các tổ hợp tín dụng Hoa Kỳ
(National Credit Union Administration - NCUA) xây dựng và được thông qua năm
1987, song không chỉ có Hoa Kỳ mà còn có nhiều nước trên thế giới áp dụng. Sau
khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, hệ thống CAMELS được Quỹ Tiền tệ Quốc tế và
Nhóm Ngân hàng Thế giới khuyến nghị áp dụng ở các nước bị khủng hoảng như một
trong các biện pháp để tái thiết khu vực tài chính. Hệ thống đánh giá này được sử
dụng bởi ba giám sát ngân hàng liên bang (Cục Dự trữ Liên bang, FDIC và OCC) và các
cơ quan giám sát tài chính khác để cung cấp một bản tóm tắt thuận tiện điều kiện
ngân hàng tại một thời điểm
Hệ thống CAMELS là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ
và được coi là chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức trên toàn thế giới khi đánh giá
hiệu quả, rủi ro của các ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung.
CAMELS là chữ viết tắt tiếng Anh của:
• C: Capital Adequacy – Mức độ an toàn vốn;
• A: Asset Quality – Chất lượng tài sản có;
• M: Management – Quản lý;
• E: Earnings – Lợi nhuận;
• L: Liquidity – Thanh khoản;
• S: Sensitivity to Market Risk – Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị
trường.
hiểu và thực hiện các phân tích.
- Sổ tay của cán bộ thanh tra rất dễ sử dụng.
- Được xếp hạng từ 1 đến 5 cho 6 yếu tố với
một xếp hạng tổng hợp
- Tập trung vào các khía cạnh tài chính.
- Khích lệ các nỗ lực của từng ngân hàng để
cải thiện công tác quản lý.
- Cán bộ thanh tra có kinh nghiệm cận phải
thảo luận thấo đáo với ngân hàng.
- Cán bộ thanh tra phải áp dụng sổ tay phức
tạp.
- Được xếp hạng từ A đến D cho 10 yếu tố mà
không có xếp hạng tổng hợp.
Nguồn: Ứng dụng mô hình Camels trong hệ thống giám sát ngân hàng, số 14, tr.19,
Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ.
II. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THEO MÔ HÌNH CAMELS
Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa theo sáu yếu tố cơ bản được sử dụng để
đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là Mức độ an toàn vốn, Chất lượng tài sản
có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy cảm thị trường.
3
3
1. Capital Adequacy – Mức độ an toàn vốn
Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro (ví dụ như trong phạm
vi một danh mục cho vay) thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt
động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao
hơn. Các chỉ tiêu cụ thể được sử dụng để phân tích vốn gồm:
- Cơ cấu vốn, tập trung vào mức độ quan trọng tương đối của vốn cấp 1, cấp 2 :
Vốn cấp 2 tối đa bằng 100% vốn cấp 1.
- Tỉ lệ an toàn vốn được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp
2. Asset quality – Chất lượng tài sản
Nội dung hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thể hiện ở phía tài sản có thể
hiện trên bảng cân đối kế toán của nó. Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có quyết
định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp
nói lên chất lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền
vững của một ngân hàng. Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập trung ở
phía tài sản của nó, nên cùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất
lượng tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn.
Chất lượng tài sản của một tổ chức tài chính được đánh giá dựa trên những
tiêu chí như: Đầy đủ các tiêu chuẩn bảo hiểm, tính đúng đắn của tín dụng, thực hành
quản lý phù hợp xác định rủi ro thực tiễn; Đầy đủ các khoản dự phòng cho các thiệt
hại của các khoản cho vay và cho thuê tài sản khác, xác định chính xác gía trị dự
phòng; Sự đa dạng và chất lượng các khoản vay và danh mục đầu tư; Mức độ của các
hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và mức độ tiếp xúc với các đối tác trong
hoạt động kinh doanh; Khả năng quản lý tài sản, kịp thời nhận dạng và thu thập các
tài sản có vấn đề; Đầy đủ hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống thông tin quản lý.
Để đánh giá chất lượng tài sản có, người ta sử dụng một số chỉ tiêu sử dụng để
phân tích như:
- Danh mục cho vay/ Tổng tài sản = Dự nợ tín dụng / Tổng tài sản có.
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng = ( Dư nợ tín dụng cuối kỳ - Dư nợ tín dụng đầu
kỳ) / Dư nợ tín dụng cuối kỳ.
- Tỷ trọng dư nợ theo ngành = Dư nợ tín dụng theo ngành/ Dư nợ tín dụng .
5
5
- Tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ ( 1,5% theo chuẩn quốc tế; 3,5% theo chuẩn Úc ).
- Tỷ lệ nợ quá hạn / tổng dư nợ ( quốc tế : 5%; VN: 3% ).
Xếp hạng chất lượng tài sản:
- Hạng 1: Đánh giá cho thấy chất lượng tài sản đảm bảo và quản lý tín dụng thực
tiễn. Chất lượng tài sản trong ngân hàng được quan tâm giám sát thường
xuyên.
Ngoài ra, chất lượng và năng lực quản lý còn thể hiện ở khả năng nắm bắt kịp
thời những tình huống bất lợi, nhận biết sớm các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn đe doạ sự an
toàn của ngân hàng để đưa ra những biện pháp đối phó kịp thời. Chất lượng quản lý
cuối cùng được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ luật pháp cũng như các quy chế
hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thu được tăng lên, duy trì được
khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của ngân hàng trên thị trường ngày
một nâng cao, ngân hàng luôn phát triển bền vững trước những biến động trong và
ngoài nước.
Khả năng quản lý được xếp hạng như sau:
- Hạng 1: Một đánh giá cho thấy hiệu suất mạnh mẽ của quản lý và hội đồng
quản trị và thực hành quản lý rủi ro mạnh tương đối so với kích thước, của tổ
chức phức tạp và hồ sơ rủi ro. Tất cả các rủi ro đáng kể nhất quán và hiệu quả
xác định, đo lường, giám sát, và kiểm soát. Quản lý và hội đồng quản trị đã
chứng minh khả năng kịp thời và thành công giải quyết vấn đề hiện tại và tiềm
năng, rủi ro.
- Hạng 2: Một đánh giá chỉ quản lý thỏa đáng và hiệu suất hội đồng quản trị và
thực hành quản lý rủi ro liên quan đến kích thước của cơ sở giáo dục, hồ sơ
phức tạp, và nguy cơ. Nói chung, những rủi ro và các vấn đề quan trọng là có
hiệu quả xác định, đo lường, theo dõi, và kiểm soát.
- Hạng 3: Một đánh giá chỉ ra hiệu suất quản lý và hội đồng quản trị cần cải thiện
hoặc thực hành quản lý rủi ro ít hơn thỏa đáng do tính chất hoạt động của tổ
chức. Các khả năng của quản trị, Ban giám đốc có thể không đáp ứng các loại,
hoặc điều kiện của tổ chức. Các vấn đề và những rủi ro đáng kể có thể được
không đầy đủ được xác định, đo lường, theo dõi, hoặc kiểm soát.
- Hạng 4: Một đánh giá cho thấy hiệu quả quản lý và hội đồng quản trị còn thiếu
hoặc thực hành quản lý rủi ro là không đủ xem xét bản chất của hoạt động của
7
7
một tổ chức. Mức độ của các vấn đề và nguy cơ rủi ro là quá mức. Các vấn đề
và những rủi ro đáng kể được xác định không đầy đủ, đo lường, theo dõi, kiểm
Chi lãi tiền gửi và nợ khác ) / Tổng tài sản sinh lời bình quân.
- Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) = ( Thu ngoài lãi – Chi trả ngoài lãi ) /
Tổng tài sản sinh lời bình quân.
- Chênh lệch lãi suất = Thu từ lãi / TS sinh lãi bình quân – Chi trả lãi / Nợ phải trả
bình quân.
- Tỷ suất chi phí hoạt động vốn = ( Lãi nợ vay + Lãi tiền gửi ) / Tổng tài sản bình
quân.
- Chỉ số chi phí hoạt động = Các chi phí hoạt động / Tổng tài sản bình quân.
- Chỉ số tự lực hoạt động OSS = Tổng thu nhập tài chính / Tổng chi phí tài chính.
- Chỉ số tự lực tài chính FSS = Tổng thu nhập tài chính / (Tổng chi phí tài chính +
Chi phí vốn + Chi phí hoạt động + Dự phòng rủi ro ).
5. Liquidity – Khả năng thanh khoản
Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an
toàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng. Để đảm bảo khả năng thanh
toán, ngân hàng phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tài sản có
tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở
NHTW và các công cụ dự trữ thanh khoản khác. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải chú
trọng nâng cao chất lượng các tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, có khả
năng chuyển hoá thành tiền nhanh chóng và thu hồi nợ đúng hạn để đáp ứng yêu cầu
chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết.
Khả năng thanh khoản được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu như:
♦ Tỷ lệ thanh toán của tài sản = tài sản thanh khoản/ tổng tài sản (20-30%)
♦ Hệ số đảm bảo tiền gửi = tài sản thanh khoản/ tổng tiền gửi (30-45%)
♦ Hệ số thanh khoản ngắn hạn = tài sản thanh khoản/ tổng nợ ngắn hạn
(30%)
♦ Tỷ lệ dư nợ cho vay và tiền gửi = tổng dư nợ cho vay / tổng tiền gửi ( 80-
100%).
Xếp hạng thanh khoản
9
9
10
10
kinh doanh của ngân hàng đó. Do vậy, khi đánh giá sự an toàn hoạt động của ngân
hàng trong điều kiện hiện nay, cần tính đến cả những yếu tố nước ngoài trong cơ cấu
tài sản của ngân hàng.
Rủi ro thị trường được đánh giá dựa trên những yếu tố :
■ Độ nhạy của thu nhập của tổ chức tài chính hoặc giá trị kinh tế vốn của
mình để thay đổi bất lợi về lãi suất, tỷ lệ trao đổi nước ngoài, giá hàng hóa, giá
cổ phiếu.
■ Khả năng quản lý để xác định, đo lường, giám sát, và kiểm soát tiếp xúc
với rủi ro thị trường của tổ chức.
■ Bản chất và phức tạp của tiếp xúc với rủi ro lãi suất phát sinh từvị trí
không giao dịch.
■ Nếu thích hợp, tính chất và độ phức tạp của tiếp xúc với rủi ro thị trường
phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý tài sản, và ngoài
nước.
Xếp hạng độ nhạy rủi ro thị trường:
- Hạng 1 - Đánh giá chỉ ra rằng độ nhạy cảm rủi ro thị trường được kiểm soát tốt
vàrằng có tối thiểu tiềm năng hiệu suất thu nhập hoặc vốn vị trí sẽ được ảnh
hưởng bất lợi. Thực hành quản lý rủi ro rất mạnh cho quy mô, tinh tế, và rủi ro
thị trường được chấp nhận.
- Hạng 2 - Một đánh giá chỉ ra rằng độ nhạy cảm rủi ro thị trường được kiểm
soát đầy đủvà rằng chỉ có trung bình tiềm năng rằng hiệu suất thu nhập hoặc vị
trí vốn sẽ bị ảnh hưởng xấu. Thực hành quản lý rủi ro thỏa đáng cho kích
thước, tinh tế, và rủi ro thị trường chấp nhận bởi các tổ chức. Mức độ thu
nhập và vốn hỗ trợ đầy đủ cho số lượng rủi ro thị trường được thực hiện bởi
tổ chức.
- Hạng 3 - Một đánh giá chỉ ra rằng kiểm soát nhu cầu thị trường nhạy cảm rủi
ro cải thiện hoặc rằng có tiềm năng đáng kể các khoản thu nhập vị trí hoạt
11
gồm:
12
12
- Vốn tự có
- Chất lượng hoạt động
- Công tác quản trị, kiểm soát, điều hành
- Kết quả kinh doanh
- Khả năng thanh toán
(1) Vốn tự có: Điểm tối đa là 15 điểm, tối thiếu là -2 điểm
Các tổ chức tín dụng đạt 10 điểm về vốn tự có phải có đủ các điều kiện sau
đây:
- Vốn điều lệ đủ mức vốn pháp định
- Đảm bảo an toàn vốn mà cụ thể là:
+ Duy trì vốn điều lệ thực có không thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký tại sở
kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phố nơi tổ chức tín dụng đặt trụ sở.
+ Đảm bảo các quy định của ngân hàng nhà nước về cổ đông cổ phần cổ
phiếu
Điểm thưởng tối đa là 5 điểm:
Các tổ chức tín dụng được cộng thêm 5 điểm phải có vốn điều lệ trên 300%
vốn pháp định.
(2) Chất lượng hoạt động: Mức điểm tối đa 35 điểm.
- Chất lượng tín dụng: Mức điểm tối đa 25 điểm, tối thiểu 0 điểm
Tổ chức tín dụng đạt tối đa 25 điểm về chỉ tiêu chất lượng tín dụng phải đảm
bảo:
+ Tỷ lệ giữa tổng các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ nhỏ hơn hoặc bằng 2
+ Không có nợ khó đòi hoặc nợ khó đòi ròng nhỏ hơn hoặc bằng 0.
- Chất lượng bảo lãnh: Mức điểm tối đa 5 điểm, tối thiểu 0 điểm
Tổ chức tín dụng đạt tối đa 5 điểm về chỉ tiêu chất lượng bảo lãnh phải không
có nợ bảo lãnh quá hạn.
(3) Quản trị, kiểm soát, điều hành: Mức điểm tối đa 15 điểm, tối thiểu 0 điểm.
không cho điểm đối với các chỉ tiêu quy định tại nghiệp vụ đó.
- Số liệu để xem xét cho điểm căn cứ: Số liệu trên bảng cân đối tài khoản ( Cấp III, IV,
V), số liệu báo cáo thống kê của tổ chức tín dụng tại thời điểm 31/12 hàng năm , số
liệu qua công tác thanh tra giám sát của ngân hàng nhà nước, các số liệu khác có liên
quan như kết quả kiểm toán, báo cáo tài chính của tổ chức tín dụng.
14
14
- Tổ chức tín dụng xếp loại A có tổng điểm đạt từ 80 trở lên và có điểm của từng chỉ
tiêu không thấp hơn 65% điểm tối đa của từng chỉ tiêu đó.
- Tổ chức tín dụng xếp loại B có tổng số điểm đạt từ 60 điểm đến 79 điểm và có điểm
của từng chỉ tiêu không thấp hơn 50% điểm tối đa của từng chỉ tiêu đó; hoặc có tổng
số điểm cao hơn 79 nhưng có điểm số của từng chỉ tiêu từ 50% đến 65% số điểm tối
đa của chỉ tiêu đó.
- Tổ chức tín dụng xếp loại C có tổng số điểm đạt từ 50 điểm đến 59 điểm và có điểm
của từng chỉ tiêu không thấp hơn 45% điểm tối đa của từng chỉ tiêu. Hoặc có tổng số
điểm cao hơn 59 điểm nhưng điểm số của từng chỉ tiêu từ 45% đến dưới 50% số
điểm tối đa của từng chỉ tiêu đó.
- Tổ chức tín dụng xếp loại D có tổng số điểm dưới 50 điểm hoặc có tổng số điểm cao
hơn 50 điểm nhưng có điểm số của từng chỉ tiêu thấp hơn 45% số điểm tối đa của chi
tiêu đó.
2. Thực trạng áp dụng mô hình CAMELS tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
♦ Căn cứ và phương pháp đánh giá và xếp loại các tổ chức tín dụng
theo CAMELS theo Quyết định số 06/2008/QĐ – NHNN ngày 12 tháng 3 năm 2008, có
thể thấy rằng các chỉ tiêu đánh giá xếp loại gồm 5 thành phần của CAMELS là C; A; M;
E; L và không có S. Trong điều kiện hiên nay việc đánh giá các NHTM dựa trên chỉ tiêu
S là tương đối khó.
Trong 5 thành phần của CAMELS được sử dụng để chấm điểm thì yếu tố chất
lượng tài sản được đánh giá là quan trọng nhất. Việc đánh giá yếu tố nào quan trọng
hơn thì còn tùy thuộc vào quan điểm quản lý của Ngân hàng trung ương các nước. Ví
dụ: Ở Trung Quốc các chỉ tiêu trong CAMELS tại các ngân hàng Trung Quốc được tính
Bảng 1, Bảng 2 và Bảng 3 cho thấy việc xếp hạng 8 ngân hàng Top đầu về tổng tài sản
thông qua việc đánh giá về mức độ quan trọng của một số tiêu chí trong mô hình
CAMELS với dữ liệu năm báo cáo tài chính năm 2011.
16
16
17
17
Sau khi tính toán giựa các tỷ số và tiến hành xếp hàng dựa trên hệ thống thì
thứ hạng về đánh giá các ngân hàng năm 2011 theo mô hình CAMMELS như sau:
Đứng thứ nhất là NHTMCP Kỹ thương (TechcomBank), đứng thứ 2 là NHTMCP xuất
nhập khẩu Việt Nam (Exim Bank), thứ 3 là hai ngân hàng NHTMCP Công Thương
(Viettin Bank) và NHTMCP Sài Gòn thương tín (SacomBank), thứ 4 là NHTMCP Á Châu
(ACB), thứ 5 là NHTMCP ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), thứ 6 là NHTMCP
đầu tư và phát triển (BIDV), thứ 7 là NH nông nghiệp và phát triển nông thông Việt
Nam (Agribank).
II. ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CAMELS TRONG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BIDV)
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập vào
tháng 4 năm 1957 với chức năng ban đầu là cấp phát và quản lý vốn kiến thiết cơ bản
từ nguồn vốn ngân sách phục vụ tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Cho đến nay, BIDV
vẫn là Ngân hàng đi đầu trong việc thực hiện các chính sách về kinh tế vĩ mô của
Chính phủ và trở thành một trong những ngân hàng thương mại (NHTM) lớn nhất tại
Việt Nam. Bên cạnh đó, BIDV cũng là một trong số ít các ngân hàng được đánh giá cao
về tính minh bạch và chất lượng quản trị, duy trì hiệu quả hoạt động tương đối cao
được thể hiện qua việc phân tích bằng mô hình CAMELS.
1. Capital Adequacy – Mức độ đầy đủ của vốn
1.1. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR:
Lý thuyết: Công thức tính:
Tỷ lệ an toàn
vốn tối thiểu =
Tỷ
đồng
BIDV
Vốn CSH TTS
Tỷ số tự
tài trợ
2008 13,484 246,520 5.47%
2009 17,639 296,432 5.95%
2010 24,220 366,268 6.61%
2011 24,390 405,755 6.01%
Như mô hình, tỷ suất tự tài trợ của BIDV cho thấy mức độ tự chủ về tài chính
cao, khả năng bù đắp tổn thất bằng VCSH tương đối lớn.
1.3. Áp dụng các chỉ tiêu của NHNN:
19
19
Các chỉ tiêu bao gồm:
- Vốn điều lệ trong năm đánh giá cao hơn mức vốn pháp định.
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong năm xếp loại cao hơn mức tối thiểu;
- Đảm bảo định hướng khuyến khích tăng vốn hiệu quả của NHNN,
+ Loại 1: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiệu trên 9%, lợi nhuận trước thuế trên VCSH
đạt từ 17%;
+ Loại 2: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trên 9%, lợi nhuận trước thuế trên VCSH
đạt từ 14% - 17%;
+ Loại 3: Trường hợp ngoài 2 loại trên.
Áp dụng vào BIDV:
- Vốn điều lệ của BIDV cao hơn mức vốn pháp định yêu cầu:
Năm Pháp định BIDV
2008 1,000 8,755
2009 1,000 10,498
2010 1,000 14,599
Cổ phần Công Thương Việt Nam.
Tốc độ tăng tổng tài sản của BIDV giảm khá mạnh năm 2011 so với các năm
trước. Tổng tài sản năm 2011 chỉtăng 10,8% so với năm 2010, nhỏ hơn 24% trong
2010 và 20,5% trong 2009. Và so với tốc độ tăng trưởng bình quân 25% trong giai
đoạn 2005-2009.
Cơ cấu các khoản cho vay
Đơn vị: Tỷ đồng
Cơ cấu cho vay 2011 Tỷ lệ 2010 Tỷ lệ 2009 Tỷ lệ
Cho vay thương mại 271.500 92,37% 233.807 91,98% 193.962 93,97%
Cho thuê tài chính 2.576 0,88% 2.830 1,11% 2.878 1,39%
Cho vay ODA 19.234 6,54% 14.780 5,81% 8.268 4,01%
Cho vay theo chỉ định
của nhà nước
227 0,08% 445 0,18% 755 0,37%
Cho vay ủy thác 400 0,14% 2.330 0,92% 539 0,26%
Cho vay và ứng trước
khách hàng
293.937 100% 254.192 100% 206.402 100%
Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản là hoạt động tín dụng với tỷ trọng
73,92% (2011), 68.4% (2010), 69% (2009). Đây là hoạt động mang lại thu nhập chủ
yếu cho ngân hàng BIDV.
Tổng dư nợ cho vay có xu hướng tăng so với năm 2009 cụ thể năm 2010 tăng
23,15%, năm 2011 tăng 42,41%; chiếm tỷ trọng lớn nhất là cho vay thương mại sau
đó đến cho vay ODA, đặc biệt cho vay theo chỉ định của nhà nước có xu hướng giảm
từ 755 tỷ (2009) còn 445 tỷ năm (2010) và xuống 227 tỷ năm 2011.
Lĩnh vực cho vay rất đa dạng từ cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế biến,thương
nghiệp, dịch vụ, du lịch. nông lâm thủy sản…., cho vay doanh nghiệp quốc doanh
(21%), doanh nghiệp ngoài quốc doanh (TNHH, cổ phần…) chiếm 65%, doanh nghiệp
21
21
hoạt động tín dụng của BIDV không nằm ngoài khó khăn chung của nền kinh tế. Tuy
nhiên, cùng với mức tăng của cho vay thì nhóm nợ đủ tiêu chuẩn vẫn tăng 15,4% so
với năm 2010.
+ Phân loại nợ theo kỳ hạn:
22
22
BIDV duy trì cơ cấu nợ theo kỳ hạn ổn định từ năm 2009 đến nay. Cho vay
ngắn hạn chiếm 54% tổng dư nợ trong 9T2011, tăng nhẹ từ 52,6% trong năm 2010.
Trong khi đó, tỷ trọng của các khoản vay trung hạn và dài hạn đều giảm từ 47,4%
trong 2010 xuống 46% trong 9T2011. Ngoài ra, dư nợ cho vay ngắn hạn trong 3Q2011
tăng 11,9% so với đầu năm trong khi dư nợ cho vay trung và dài hạn tăng với tốc độ
thấp hơn 5,7%. Điều này cho thấy sự thay đổi tích cực trong cơ cấu cho vay theo kỳ
hạn của BIDV và nâng cao khả năng của Ngân hàng trong việc đảm bảo tỷ lệ vốn ngắn
hạn cho vay trung và dài hạn.
Trích lập dự phòng
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2011 2010 2009
Số dư tại 01/01 5.293 5.402 4.112
Dự phòng trích lập trong năm 4.448 1.764 1.972
Sử dụng dự phòng RRTD để
xử lý trong năm
(3.920) (1.873) (682)
Số dư tại 31/12 5.857 5.293 5.402
Nếu như trích lập dự phòng năm 2010 giảm 2% so với năm 2009, thì tới năm
2010, trích lập dự phòng cho vay tăng hơn 10%, một phần chứng minh cho tỷ lệ nợ
xấu tăng cao trong năm 2011.
Quy mô, cơ cấu và chất lượng tín dụngđã cho thấy ngân hàng đã thực thi tốt
chính sách tín dụng: kiểm soát chất lượng, đa dạng hóa khách hàng, nâng cao quản lý
rủi ro, vừa đảm bảo tăng trưởng song vẫn kiểm soát tốt chất lượng tín dụng.
23
tác thành công”.
3.2. Phát triển nguồn nhân lực
24
24
Nhận thức sâu sắc con người là yếu tố quyết định thành công của mỗi doanh
nghiệp, trong giai đoạn vừa qua BIDV đã ko ngừng phát triển nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực và xác định đây là một chính sách quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh doanh. Đến cuối năm 2011, tổng số cán bộ công nhân viên của BIDV là
17863 người. Trong đó: tại trụ sở chính và các chi nhánh là 16691 người và khối các
cty, trung tâm, văn phòng đại diện là 1172 người.
3.3. Kiểm toán nội bộ
BIDV là một trong số ít những ngân hàng thể hiện sự minh bạch thông qua việc
ứng dụng cả hai tiêu chuẩn kế toán của Việt Nam (VAS) và quốc tế (IFRS). Bên cạnh
đó, BIDV là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam đạt được chứng nhận ISO trong năm
2010. Ngân hàng BIDV nhiều năm gần đây luôn nhận đánh giá xếp hạng tín nhiệm từ
Moody và S&P. Hiện tại xếp hạng của ngân hàng luôn được xem là tích cực nếu so
sánh với những ngân hàng khác trong nước. Đây cũng là một trong những lí do vì sao
nhiều tổ chức tài chính quốc tế chọn BIDV để trở thành ngân hàng điều phối nguồn
vốn của họ đến khách hàng.
3.4. Hệ thống công nghệ thông tin
Guồng máy của BIDV hoạt động năng động và hiệu quả nhờ hệ thống core-
banking theo mô hình quản lý tập trung và trực tuyến. Quá trình triển khai hệ thống
Core -Banking tại BIDV là chuyển từ hệ thống cũ theo mô hình quản lý phân tán (mỗi
chi nhánh tương đương với một NH con) sang quản lý tập trung và trực tuyến (hội sở
chính quản lý tất cả mọi hoạt động của NH). Hiện nay, BIDV đã sử dụng chữ ký điện
tử cho 100% các giao dịch, giải pháp mã hóa và xác thực. BIDV đã thực hiện bảo mật
ở cả 4 tầng: bảo mật PC (người được phân sử dụng máy tính nào chỉ mở được máy
25
25