Tăng cường quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế đô lương – nghệ an (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THỜI

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Kim Hào

Phản biện 1: TS. Lê Anh Vũ
Phản biện 2: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội 09 giờ. 23 ngày 17 tháng 10
năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội



2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về quản lý thuế nói
riêng và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung tại Việt Nam khá đa
1


dạng. Tuy nhiên, đa phần các công trình này mới đề cập đến một khía cạnh
nào đó của thuế.
Nghiên cứu kinh điển về vấn đề này có thể kể đến Joseph (1995).
Tác giả này đã hệ thống các lý thuyết về ngân sách nhà nước, nguồn thu
ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước từ thuế của Mỹ và
một số nước châu Âu. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của nghiên cứu
này là mang tính sách giáo khoa quá nhiều, và được coi là một nguồn lý
thuyết gốc cho các nghiên cứu tiếp theo chứ không tập trung cụ thể vào
nguồn nào, cũng như không đưa ra được một nghiên cứu cụ thể về quản lý
thuế - đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp.
Cuttaree (2008 nghiên cứu đến nguồn tài trợ cho các dự án phát
triển tại Mexico và Chile – chủ yếu bằng nguồn hình thành từ ngân sách nhà
nước, sau đó tập trung vào phân tích thực trạng nguồn thu thuế để tập trung
vào đầu tư một số ngành cần thiết trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nghiên cứu
này vấp phải một số ý kiến rằng mang tính chất định tính quá cao, không
lượng hóa được tác động của từng yếu tố đối với quản lý ngân sách nhà
nước, đặc biệt là đối với nguồn thu từ các doanh nghiệp. Tương tự, nghiên
cứu kinh nghiệm thực hiện các dự án cải cách thuế tại Úc và lấy trường hợp
nghiên cứu điển hình là Airport Link, Banks (2008) cho rằng một hệ thống
quản lý thuế được cho là thành công thì phải thực hiện tốt các vấn đề sau:
(1) cam kết chính trị mạnh mẽ của nhà nước; (2) có luận chứng kinh tế đúng
đắn; (3) gặp sự phản ứng không quá mạnh mẽ từ các đối tượng thu thuế (4)
năng lực của nhóm cán bộ thực hiện Pascual (2008) khi nghiên cứu dự án
cải cách một số vấn đề về thủ tục thuế và tài trợ cho dự án phát triển thông

Tóm lại, các nghiên cứu trước đây tại trong nước và quốc tế đã đề
cập đến nhiều lĩnh vực trong quản lý thuế, song không có nghiên cứu nào đề
cập sâu đến vấn đề tăng cường thu thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm tránh
thất thoát. Do đó, đề tài của tác giả chọn nghiên cứu là đề tài mới, không
trùng lắp với các vấn đề đi trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản về thu
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một chi cục. Đánh giá thực trạng thu
thuế dựa trên những chỉ tiêu đã được lựa chọn từ trước, từ đó đánh giá xem
3


chi cục thuế Đô Lương đã làm được những vấn đề gì đối với thu thuế thu
nhập doanh nghiệp, còn hạn chế gì cần giải quyết.
Nhiệm vụ nghiên cứu: đề xuất giải pháp và kiến nghị để tăng
cường quản lý thu thuế tại chi cục thuế Đô Lương, Nghệ An.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh
nghiệp tại chi cục thuế Đô Lương, Nghệ An.
Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu của luận văn từ năm
2013 đến năm 2016 và tập trung nghiên cứu quản lý thu thuế.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: sử dụng phương pháp luận trong học thuyết của
chủ nghĩa Mác – Lênin bao gồm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp
sau:
Phương pháp thống kê: Số liệu thu thập từ báo cáo thường niên của
các doanh nghiệp gửi lên chi cục thuế Đô Lương.
Phương pháp so sánh: So sánh và đối chiếu các số liệu, phân tích

nghiệp tại chi cục thuế Đô Lương – Nghệ An

5


Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

1.1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận trước
thuế của các doanh nghiệp trong kỳ sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lí,
hợp lệ.
Về cơ bản, thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc điểm sau
Thứ nhất, đây là loại thuế trực thu. Đối tượng nộp thuế là các doanh
nghiệp có đăng ký kinh doanh trên thị trường. Thường thì các doanh nghiệp
này sẽ được miễn thuế trong giai đoạn đầu mới thành lập, hoặc được miễn
giảm thuế đối với (1) sản xuất - kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đặc trưng, có
vai trò quan trọng đối với nhiều ngành khác như sản xuất nông nghiệp, điện
hay nước; (2) là loại hình các doanh nghiệp đóng vai trò cung ứng những sản
phẩm dịch vụ đặc biệt như các ngân hàng chính sách hay các doanh nghiệp
công ích, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào kết quả sản
xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do nó đánh trực tiếp vào phần lợi
nhuận trước thuế được tạo ra. Do vậy, đối với các doanh nghiệp có lợi
nhuận càng cao thì khoản thuế phải nộp cho nhà nước càng lớn.
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là một phần quan trọng trong việc
quản lý chính sách tài khóa của chính phủ. Đối với những thời kỳ kinh tế đi
xuống, chính phủ sẽ giảm tỷ lệ nộp thuế xuống. Điều này kích thích các
doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn, do phần lợi nhuận giữ lại tăng lên, từ đó

đối với những ngành ưu tiên phát triển sản xuất kinh doanh, thuế suất đối
với hoạt động này có thể bằng 0 hoặc được giảm trong một thời gian nhất
định. Bên cạnh đó, đi kèm với hoạt động giảm thuế suất thuế thu nhập, các
doanh nghiệp thường được hỗ trợ thêm nhiều chính sách khác.
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp giúp chính phủ thực hiện chức
năng tái phân phối thu nhập xã hội, nhằm đảm bảo công bằng đối với các
thành phần khác nhau trong nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp có quy
mô vốn lớn, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến, quy trình quản lý tốt…
sẽ có cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh và chiếm được thị phần lớn trên
7


thị trường. Tuy nhiên, cũng chính vì vậy nên theo cơ chế thị trường sẽ tạo ra
một số các doanh nghiệp có khả năng độc chiếm các lĩnh vực, tạo áp lực
tham gia thị trường đối với các doanh nghiệp mới, hoặc đối với các doanh
nghiệp cũ, đã hoạt động. Những doanh nghiệp không có khả năng cạnh
tranh với các doanh nghiệp lớn không có cơ hội để nâng cao nguồn thu cũng
như mở rộng sản xuất kinh doanh, vừa gây ra bất bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế, vừa tạo áp lực đối với hệ thống an sinh xã hội. Do vậy, thuế
thu nhập doanh nghiệp khi đánh vào các thành phần như nhau sẽ có tác dụng
điều tiết thu nhập của các chủ thể chịu thuế. Đồng thời, với các doanh
nghiệp mới hoặc những doanh nghiệp chưa có doanh thu, thuế suất thường
bằng 0 hoặc được kết chuyển lỗ sang năm sau, sẽ tiết kiệm được một khoản
chi phí cho bản thân các doanh nghiệp.
Thứ tư, thuế có chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động sản
xuất kinh doanh. Trong quá trình thu thuế, cơ quan thuế quản lý doanh
nghiệp vì Nhà nước muốn thu thuế thì nhà nước phải quản lý được đối
tượng nộp thuế. Nội dung quan lý đối tượng nộp thuế bao gồm tên, địa chỉ,
vốn, phản ứng của doanh nghiệp… Các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành,
lĩnh vực khác nhau nên nhà nước quản lý doanh nghiệp cần kết hợp với việc

nghiệp, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời
sống kinh tế xã hội.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý thu thuế TNDN
Hoạt động của cơ quan thuế các cấp hiện nay được định hình theo các
chức năng chủ yếu sau: Công tác lập dự toán thu thuế, tuyên truyền hỗ trợ,
tin học và xử lý dữ liệu, quản lý kê khai và kế toán thuế, quản lý thu nợ
thuế, thanh tra kiểm tra thuế…Mỗi chức năng phải xây dựng một hệ thống
các chỉ tiêu đo lường hiệu quả công tác quản lý thu thuế bao gồm các nhóm
chỉ tiêu: (1) Nhóm chỉ tiêu về công tác lập dự toán thu thuế; (2) Nhóm chỉ
tiêu về công tác thanh tra kiểm tra thuế; (3) Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả công tác quản lý đăng ký, kê khai thuế; (4) Nhóm chỉ tiêu về công tác
quản lý thu nợ thuế.

9


1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan
Đây là nhân tố thuộc về bản thân chủ thể quản lý, tức cơ quan quản lý
thuế gồm :
Trình độ và kỹ năng của công chức thuế. Công chức thuế là những người
trực tiếp thực thi công vụ về thuế, chính sách thuế. Trình độ và kỹ năng của
công chức thuế thể hiện qua trình độ chuyên môn về các nghiệp vụ thuế,
kinh nghiệm, thái độ trong quá trình công tác sẽ tác động tới hiệu quả quản
lý công tác thu thuế. Một công chức quản lý thuế có nghiệp vụ thuế vững
chắc, tinh thần và thái độ chuẩn mực sẽ làm cho hiệu quả công tác quản lý
thu thuế nâng cao. Điều này thể hiện trong tất cả các khâu quản lý thu thuế
từ khâu lập dự toán thuế, công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, hoàn thuế,
công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, thực hiện tốt công tác này sẽ
hạn chế tối thiếu sai sót khi thực hiện chính sách thuế, nâng cao tinh thần tự

có hạn, sự hiểu biết về các chính sách thuế còn hạn chế nên còn xẩy ra sai
sót không đáng có nghĩa vụ nộp thuế của mình như chậm nộp tờ kê khai
thuế, nộp thuế hoặc vi phạm các hành vi phạm pháp luật thuế TNDN.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN
2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Đô Lương
Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ nhiệm kỳ XIX,
tốc độ tăng trưởng bình quân của Đô Lương đạt 9,6%/năm, cao hơn mức
bình quân chung cả tỉnh; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 30,25 triệu
đồng/năm, tăng 2 lần so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo
hướng tích cực; công nghiệp - xây dựng tăng từ 23,23% (năm 2010) lên
26,69%, dịch vụ tăng từ 44,45% lên 46,64%, tỷ trọng nông nghiệp giảm còn
26,67%.
2.2. Khái quát về chi cục thuế huyện Đô Lương - Nghệ An
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trong giai đoạn 2010 đến nay, Chi cục Thuế huyện Đô Lương đã thực
hiện tổ chức bộ máy theo Quyết định số 503/QĐ-TCT của Tổng cục thuế
ban hành ngày 29/03/2010. Theo quy định này, mô hình tổ chức quản lý
11


thuế của Chi cục là mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng, lấy chức năng
quản lý thuế là nguyên tắc bao trùm. Theo đó, cơ cấu tổ chức bao gồm có 1
chi cục trưởng và 1 chi cục phó.
2.2.2. Các hoạt động chủ yếu
Các hoạt động chủ yếu của chi cục thuế Đô Lương được tiến hành theo
quy định tại Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục
trưởng Tổng cục Thuế Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế.

phần chiếm một tỷ trọng bằng bình quân của các doanh nghiệp khác trên thị
trường, nhưng có sự biến động theo xu hướng ngược lại: trong năm 2016 số
lượng doanh nghiệp giảm đi 8, từ 77 xuống 69.
2.3.1.2. Công tác quản lý căn cứ tính thuế
Doanh thu tính thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đô Lương
tăng nhanh qua các năm. Vào cuối năm 2013, tổng doanh thu của toàn bộ
203 doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức khoản 1,2 nghìn tỉ đồng thì đã tăng
thêm 1000 tỷ vào cuối năm 2016. Số lượng doanh nghiệp tăng thêm và dừng
hoạt động nhiều khiến cho công tác tính toán và thanh tra doanh thu tính
thuế gặp nhiều khó khăn. Một số doanh nghiệp khi tính doanh thu tính thuế
lại căn cứ theo những quy định cũ, làm cho hoạt động này trở nên phức tạp.
Các khoản mục thuế phải nộp của các doanh nghiệp cộng theo
chiều ngang (cộng dồn tất cả chi phí của các doanh nghiệp) có xu hướng
tăng theo doanh thu. Tuy nhiên, đến năm 2014 và 2015 có một sự đột biến
khi tổng doanh thu (cộng dọc) nhỏ hơn tổng chi phí (cộng dọc). Điều này
không hàm nghĩa là thuế thu nhập doanh nghiệp của huyện sẽ bằng 0, mà
chỉ những doanh nghiệp có tổng doanh thu nhỏ hơn tổng chi phí sẽ được kết
chuyển lỗ sang năm sau.
Vì các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng sâu, vùng xa nên
hầu như chỉ có doanh thu và chi phí hoạt động, không có những khoản mục
doanh thu, chi phí khác như từ hoạt động tài chính hay hoạt động khác
(thanh lý tài sản cố định, doanh thu từ cho – biếu – tặng…).
2.3.1.3. Công tác quản lý thu nộp tiền thuế
Các khoản mục nộp thuế được tính dựa trên trụ sở chính đối với các
doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Các doanh nghiệp sau khi gửi kê khai về
13


doanh thu và chi phí lên chi cục thuế huyện thông qua bản giấy và email
theo mẫu trên website thì chuyển thẳng tiền qua hệ thống ngân hàng (chi cục


sẽ kết hợp với thanh tra tài chính của huyện và tỉnh – để tiến hành kiểm tra
những vi phạm có thể có tại chi nhánh.
2.3.2.Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý thuế thu nhập
doanh nghiệp tại chi cục thuế Đô Lương
2.3.2.1. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả lập công tác dự toán
2.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu về công tác thanh tra, kiểm tra thuế
2.3.2.3. Nhóm chỉ tiêu về công tác đăng ký, kê khai thuế
2.3.2.4. Nhóm chỉ tiêu về công tác quản lý thu nợ thuế
2.4.

Đánh giá thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại
chi cục thuế Đô Lương

2.4.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, công tác lập dự toán thu thuế nói chung, thu thuế TNDN nói
riêng đã đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ. Dự toán thu thuế được lập
tương đối sát với kết quả thực hiện của Chi cục thuế. Hàng năm (thường vào
tháng 9), Chi cục thuế huyện Đô Lương đã tiến hành cây dựng chương trình
dự toán thu thuế nói chung, thu thuế TNDN nói riêng cho năm sau.
Thứ hai, các chỉ tiêu về việc hoàn thành kế hoạch đặt ra đều vượt. Cụ
thể, theo dự toán của địa phương, hay theo dự toán của cục thuế Nghệ An
hay so với năm trước đều hoàn thành các nghĩa vụ đặt ra đối với nhà nước.
Mặc dù tỷ lệ vượt không nhiều nhưng đã đáp ứng được yêu cầu mà cấp trên
giao phó.
Thứ ba, chi cục thuế huyện Đô Lương đã thực hiện tốt công tác hỗ trợ
người nộp thuế. Chi cục thuế huyện đã cập nhật thường xuyên tình hình biến
động về số lượng biến động của các DN trong tình hình DN đăng ký kinh
doanh mới, DN giải thể và DN nghỉ kinh doanh. Làm cơ sở để xây dựng kế
hoạch dự thu.

người quản lý muốn tra soát lại.
Thứ ba, việc thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp kê khai thiếu
(do nộp muộn hoặc do cố tình) chỉ thực sự triển khai mạnh mẽ vào năm
2013 mà không tiến hành vào các năm tiếp theo, gây ra tình trạng nhờn luật
đối với các doanh nghiệp. Điển hình cho việc này là số lượng doanh nghiệp
nộp muộn tăng lên, nhưng những phát hiện và xử lý vi phạm hành chính lại
giảm đi nhiều hơn nhiều lần. Việc này còn thể hiện thông qua các chỉ tiêu hỗ
16


trợ người nộp thuế: chi cục tuy có thể thanh tra, song tỷ lệ doanh nghiệp trốn
thuế của năm sau so với năm trước vẫn cao, và xấp xỉ lên đến 90%.
Thứ tư, công tác hỗ trợ người nộp thuế chưa đạt hiệu quả cao. Mặc dù
trên 90% các doanh nghiệp được hỏi trả lời “hài lòng” với những dịch vụ mà
chi cục thuế cung cấp, nhưng con số này chưa thực chất đáp ứng được nghĩa
vụ mà cán bộ thuế cung cấp. Trên bảng hỏi ghi thẳng tên của doanh nghiệp,
mặc dù có thể không điền, nhưng người mang bảng kê đến lại yêu cầu điền
trực tiếp..
Thứ năm, hiệu quả thu thuế còn bộc lộ những hạn chế thông qua
công tác thu nợ thuế tồn đọng các năm. Số lượng doanh nghiệp bị cưỡng chế
về thuế tuy về con số tỷ lệ có xu hướng giữ ổn định và cũng có dấu hiệu
giảm, nhưng trên thực tế, con số tuyệt đối lại tăng. Điều này cho thấy, công
tác thanh tra và thực thi những biện pháp cưỡng chế còn rất nhiều hạn chế,
chưa đủ cứng rắn để mang tính chất răn đe. Các khoản mục chờ xử lý hàng
năm có dấu hiệu tăng trở lại. Các khoản khó thu năm sau luôn chiếm tỷ
trọng xấp xỉ so với năm trước về số lượng, trong khi đó về số tiền lại có dấu
hiệu đội lên. Việc này gây ra tình trạng thất thoát thuế đối với nhà nước,
đồng thời làm cho xu hướng nhờn luật của các doanh nghiệp có xu hướng
tăng lên.
Cuối cùng, số lượng doanh nghiệp quản lý bởi 1 cán bộ còn quá ít.

Thứ ba, công tác quản lý thu thuế còn gặp vấn đề khó khăn trong việc
phát triển cơ sở hạ tầng cho việc thu thuế. Các file lưu trữ theo định hướng
của cục thuế tỉnh đều không thay đổi được so với những biến đổi trên thị
trường mà các doanh nghiệp gặp phải. Điển hình là việc bóc tách các khoản
giảm trừ khi thực hiện nộp thuế vẫn dựa trên file mà doanh nghiệp gửi lên,
thậm chí một số còn dựa vào hình thức bản dạng giấy, làm cho công tác
thẩm định thuế còn gặp nhiều phức tạp.
b.

Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, chính sách quản lý thuế hiện hành vẫn còn những bất cấp gây
khó khăn, lung túng trong quá trình thực hiện, ảnh hưởng đến hiệu quả công
tác quản lý thu thuế. Theo Luật Quản lý thuế, đã sử dụng kết hợp đan xen
nhiều nguyên tắc nhưng chủ yếu theo nguyên tắc trình tự thời gian, trong khi
bộ máy quản lý thuê được thiết kế theo mô hình chức năng. Điều này sẽ dẫn
đến những điểm chưa tương thích đặc biệt khi áp dụng theo mô hình “một
cửa”.

18


Thứ hai, sự hiểu biết chính sách thuế và tinh thần tự giác của đối
tượng nộp thuế với nghĩa vụ thuế còn thấp. Thất thu ngân sách tại Chi cục
thuế Đô Lương còn diễn ra dưới nhiều hình thức như: gian lận thuế, hoạch
toán kế toán không đúng nhằm làm giảm số thuế vào NSNN, tình trạng mua
bán hóa đơn bất hợp pháp vẫn còn diễn ra…Nguyên nhân một phần do đối
tượng nộp thuế hiểu biết về pháp luật còn hạn chê,nhiều trường hợp là cố
tình vi phạm. Việc tự tính, tự khai, tự nộp của các doanh nghiệp chưa tự giác
cao. Tình trạng khai sai, khai thiếu số thuế phải nộp như: có doanh thu

là từ khi thực hiện công tác cải cách hành chính thuế. Từ những bài học thực
tiễn đều cho rằng công tác tuyên truyền chính sách để giải thích sâu rộng từ
mục đích, ý nghĩa nội dung của pháp luật, pháp lệnh thuế cũng là một trong
những biện pháp góp phần tích cực vào việc thu nộp thuế ngày một tốt hơn.
3.2.2. Giải pháp về quản lý căn cứ tính thuế
Tăng cường giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
Nhìn chung đây là công tác hết sức khó khăn đặt ra cho các cán bộ
quản lý. Để khắc phục hiện tượng khai giảm doanh thu do doanh nghiệp thực
hiện bán hàng trực tiếp không dùng hoá đơn, cán bộ thuế phải thường xuyên
giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp để kịp thời phát hiện
và xử lý nếu các doanh nghiệp có biểu hiện tiêu cực. Các cán bộ thuế phải có sự
hiểu biết sâu rộng về hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp để phát hiện
ra nhiều các trường hợp vi phạm khác.
20


Quản lý tốt hoá đơn chứng từ ở các đơn vị
Để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoá đơn chứng từ ở các
doanh nghiệp nhằm quản lý chặt chẽ hơn doanh thu tính thuế trong kỳ, cơ
quan thuế phải quản lý tốt hoá đơn chứng từ của đơn vị bằng cách thức sau:
Quản lý tốt việc mua bán hoá đơn của đơn vị, tránh hiện tượng mất mát
hoặc làm giả hoá đơn, cán bộ thuế phải theo dõi số hoá đơn ghi trên sổ cấp
phát hoá đơn sau đó đối chiếu với quyển sổ seri hoá đơn mà đơn vị đang
dùng xem có đúng là hoá đơn của Bộ tài chính quy định hay không.
Chi phí hợp lý, hợp lệ trong doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản
cấu thành lên. Do đó, việc quản lý chi phí rất phức tạp liên quan đến cả một
hệ thống chính sách chế độ và pháp lệnh kế toán thống kê hiện hành. Muốn
quản lý tốt các chi phí hợp lý hợp lệ, trước hết các cán bộ thuế phải thường
xuyên chấn chỉnh công tác hạch toán kế toán của các đơn vị, đưa công tác
hạch toán vào nề nếp.

nợ NSNN đã quá 90 ngày hoặc đã hết thời hạn được gia nộp thuế… Thời gian
qua, trên cơ sở quy định của Luật quản lý thuế, Nghị định của Chính phủ,
Thông tư của Bộ tài chính và Quy trình hướng dẫn của Tổng cục thuế, cơ
quan thuế đã triển khai thực hiện công tác cưỡng chế nợ thuế và đạt được kết
quá khá tốt, số nợ thuế giảm dần.
3.3.2. Kiến nghị với cơ quan thuế cấp trên
Vướng mắc lớn nhất hiện nay của cả người nộp thuế và cơ quan
thuế là chưa có đủ cơ sở hạ tầng phục vụ việc khai thuế “ điện tử” nên người
nộp thuế vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế (bản giấy) cho cơ quan thuế. Tâm lý
người nộp thuế nói chung là đợi đến khi gần hết hạn mới nộp hồ sơ do đó có
tình trạng chen chúc tại cơ quan thuế để nộp hồ sơ khai thuê khi sắp đến hạn
trong khi đó bộ phận hồ sơ khai thuế tuy đã được tăng cường nhưng vẫn
chưa đáp ứng đủ nhu cầu ở một số nơi. Vì vậy, dể thuận tiện cho việc kê
khai, Tổng cục thuế cần chú trọng đầu tư để có đủ cơ ở hạ tầng phục vụ cho
việc khai thuế điện tử.
Đối với cán bộ công chức thuế: Việc tập huấn nghiệp vụ do Tổng
cục thuế tổ chức hiện nay về thực chất mới dừng ở mức là phổ biến các
chính sách cần thiết, chưa đào tạo kỹ năng quản lý cần thiết, công tác đào
tạo phải nhằm thực hiện mục đích của công tác quản lý chứ không chỉ là
hoàn thành kế hoạch được giao. Phải tiếp tục tổ chức tốt việc đào tạo và đào
tạo lại đội ngũ cán bộ công chức thuế để đảm đương nhiệm vụ quản lý thuế
được giao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ thuế tại Chi cục. Đào tạo nâng cao
22


trình độ sử dụng may tính và khai thác thông tin trên mạng cho đội ngũ cán
bộ thuế.
- Kiến nghị với Cục thuế tỉnh Nghệ An
Hàng năm không tạo áp lực lấy thêm người cho chi cục thuế huyện
Đô Lương, do tình trạng chỉ có 10 doanh nghiệp để cho 1 cán bộ quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status