VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA THUYỀN VIÊN TÀU BIỂN
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Phạm Thị Thúy Nga
Hà Nội, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới sự hướng dẫn tận tình của Tiến sỹ
Phạm Thị Thúy Nga và lãnh đạo Công ty cổ phần Vận tải Biển Vinafco, các
thầy cô giáo trường Đại học hàng hải Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ cho
tôi hoàn thiện Luận văn Thạc sỹ này.
Do thời gian nghiên cứu không dài và kiến thức chuyên môn còn hạn
chế nên trong Luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong
muốn nhận được sự góp ý và chỉ bảo của quý thầy cô giáo và các bạn học
viên để Luận văn hoàn chỉnh hơn và có thể vận dụng tốt hơn trong quá trình
nghiên cứu và làm việc sau này.
Học viên
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHXH:
Bảo hiểm xã hội
BLHH:
Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015
BLLĐ:
Bộ luật lao động năm 2012
HĐLĐ:
Hợp đồng lao động
ILO:
Tổ chức lao động quốc tế
MLC 2006:
Công ước lao động hàng hải 2006
NLĐ:
Seafarers); Các quy định về thuyền viên của nước Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa (Regulations of the People’s Republic of China on Seafarers) do Quốc
hội Trung quốc biểu quyết thông qua và Thủ tướng chính phủ ban hành hay
Thỏa ước lao động tập thể riêng cho Thuyền viên. Trong các sắc luật và quy
định này, các quốc gia đã khẳng định rất chi tiết về nghĩa vụ và bảo về quyền
lợi của thuyền viên về HĐLĐ, huấn luyện đào tạo, đãi ngộ và trách nhiệm
pháp lý của nhà nước, doanh nghiệp đối với thuyền viên.
1
Các vấn đề liên quan đến thuyền viên và HĐLĐ của thuyền viên ở Việt
Nam được quy định trong các văn bản pháp luật lao động chung, pháp luật
chuyên ngành và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ngoài các
quy định chung của pháp luật lao động áp dụng cho tất cả các đối tượng người
lao động, mới đây, BLHH đã dành một chương quy định về Thuyền bộ và
Thuyền viên. Đây là một bước tiến lớn. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về
HĐLĐ của thuyền viên trong BLHH cũng chỉ quy định rất chung chung tại
Điều 62 mà chưa có quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của
thuyền viên, một số vấn đề về mức lương, chế độ bảo hiểm, thời giờ làm việc
… cũng cần phải có các văn bản hướng dẫn cụ thể mới có thể thực thi tốt. Mặt
khác, quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh các vấn đề liên quan đến
thuyền viên chưa có tính đặc thù phù hợp do lao động thuyền viên có các chế
độ làm việc đặc thù khác biệt so với lao động phổ thông khác. Chính vì vậy,
cần sớm hoàn thiện các quy định về chế độ lao động của thuyền viên Việt
Nam đồng thời hướng tới thực hiện Công ước lao động hàng hải mà Việt Nam
đã gia nhập năm 2013 để có cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi cho thuyền viên.
Luận văn này sẽ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về HĐLĐ của thuyền viên
tàu biển theo pháp luật quốc tế; các quy định của pháp luật lao động Việt Nam
hiện nay trên cơ sở phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp để hoàn
thiện chế độ pháp luật về HĐLĐ của thuyền viên Việt Nam.
Đề tài này đã làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến quan hệ lao động có
yếu tố nước ngoài, đặc biệt là quan hệ lao động của thuyền viên Việt Nam
làm việc trên tàu biển nước ngoài đồng thời đưa ra một số giải pháp mới trong
đó có đề cập đến nhu cầu cần thiết phải xây dựng HĐLĐ thuyền viên tiêu
chuẩn [2, tr. 17]. Một Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường: “Nghiên cứu
hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng lao động thuyền viên” của
Nguyễn Thành Lê và Vũ Việt Dũng, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam,
năm 2016. Với đề tài này, các tác giả đã đưa ra một số phân tích cụ thể các
quy định pháp luật Việt Nam về HĐLĐ của thuyền viên tàu biển, làm rõ về
khái niệm, đặc trưng, nội dung của Hợp đồng này cũng như đề xuất xây dựng
những điều khoản cơ bản trong HĐLĐ của thuyền viên tàu biển.
Với mục đích tìm hiểu và hoàn thiện, tôi chọn đề tài: “Hợp đồng lao
động của thuyền viên tàu biển theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay” để
3
nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật HĐLĐ của thuyền viên,
phân tích thực trạng và hoàn thiện chế độ pháp luật về HĐLĐ của thuyền viên
Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
về pháp luật hợp đồng lao động của thuyền viên, phân tích những ưu điểm và
hạn chế của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về hợp đồng lao động của
thuyền viên để từ đó đề xuất một số ý kiến đóng góp xây dựng và hoàn thiện
các quy định pháp luật về vấn đề này cho phù hợp với MLC 2006.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng lao động
của thuyền viên như khái niệm, đặc điểm, các điều khoản bắt buộc…
- Đánh giá thực trạng pháp luật lao động Việt Nam HĐLĐ của thuyền viên,
Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ công tác giảng dạy, học tập,
nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi lao động thuyền viên và pháp luật bảo vệ
quyền lợi lao động thuyền viên. Đồng thời, đề tài cũng có giá trị nhất định đối
với các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan, tổ chức trong việc nghiên cứu
tiếp tục hoàn thiện những quy định bảo vệ quyền lợi lao động thuyền viên
dưới góc độ pháp luật.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề pháp luật cơ bản về hợp đồng lao động của thuyền
viên tàu biển.
Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về HĐLĐ của thuyền
viên tàu biển hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về hợp
đồng lao động của thuyền viên tàu biển.
5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LUẬT CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
CỦA THUYỀN VIÊN TÀU BIỂN
1.1. Khái niệm và đặc điểm Hợp đồng lao động của thuyền viên tàu biển
1.1.1. Khái niệm
Theo ILO, HĐLĐ được định nghĩa là: “Một thỏa thuận ràng buộc pháp
lý giữa một NSDLĐ và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế
độ việc làm” [15, tr.214].
Khái niệm này có thể coi là có tính chất khái quát theo nghĩa đã phản
ánh được bản chất của hợp đồng nói chung, phù hợp với quan niệm “hợp
đồng, định nghĩa một cách đơn giản nhất là những thỏa thuận có giá trị pháp
b) Tên và địa chỉ của chủ tàu;
c) Ngày và nơi ký kết HĐLĐ;
d) Năng lực của Thuyền viên;
e) Mức lương hoặc cách tính lương của thuyền viên;
f) Giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi;
g) Các khoản tiền phúc lợi như tiền nghỉ lễ, nghỉ phép, làm thêm giờ,
lương tháng 13..- nếu có; .v..v…
Như vậy, theo các nội dung trên, có thể đưa ra một định nghĩa ngắn gọn
về hợp đồng lao động của thuyền viên tàu biển như sau: “Hợp đồng lao động
của thuyền viên tàu biển là thỏa thuận giữa thuyền viên và chủ tàu hoặc đại
diện có thẩm quyền (ký kết HĐLĐ) về các điều kiện sống và làm việc của
thuyền viên trên tàu”.
Định nghĩa này phù hợp về bản chất, chủ thể và một số nội dung của
với khái niệm chung về HĐLĐ theo ILO.
Tuy nhiên, MLC 2006 còn đưa ra khái niệm “Thỏa thuận tuyển dụng
của thuyền viên bao gồm cả thỏa thuận tuyển dụng và các điều khoản thỏa
thuận”. [19, tr. 3] Khái niệm này rộng hơn và bao trùm cả Hợp đồng lao động
7
cũng như các thỏa thuận khác giữa Chủ tàu và thuyền viên.
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng lao động của thuyền viên tàu biển
Dù có sự khác biệt nhất định trong góc độ tiếp cận về các đặc trưng của
HĐLĐ ở mỗi quốc gia nhưng đều có đặc điểm chung là “coi yếu tố quản lý
của NSDLĐ và NLĐ là đặc trưng quan trọng nhất của HĐLĐ” [17, tr. 235]
Ngoài các đặc điểm chung như HĐLĐ thông thường, HĐLĐ của
thuyền viên tàu biển có một số điểm đặc thù khác biệt.
Thứ nhất, HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lý giữa các bên trong quan hệ
lao động. Đây được coi là đặc trưng tiêu biểu nhất của HĐLĐ mà các hệ
thống pháp luật khác nhau đều thừa nhận. Có thể thấy trong tất cả các loại
hoặc một cơ quan có thẩm quyền khác của Ủy ban lao động quốc tế chỉ thị
[19, tr. 30]
Các quốc gia thành viên Công ước MLC 2006 sau khi tham khảo ý kiến
của các đại diện hiệp hội chủ tàu và thuyền viên sẽ xây dựng các quy trình
xác định mức tiền lương/tiền công tối thiểu cho thuyền viên và không mẫu
thuẫn với các nguyên tắc về tự do thỏa thuận tập thể. Các tổ chức đại diện
hiệp hội chủ tàu và thuyền viên cần tham dự vào việc xây dựng quy trình này
[19, tr. 30]
Thứ ba, HĐLĐ do đích danh thuyền viên thực hiện. Đặc trưng này
xuất phát từ bản chất quan hệ HĐLĐ. Khi NSDLĐ thuê mướn NLĐ, họ
không chỉ quan tâm đến trình độ chuyên môn của NLĐ mà còn quan tâm
đến đạo đức, ý thức, phẩm chất… tức nhân thân của NLĐ. Do đó, NLĐ phải
trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được dịch chuyển cho
người thứ ba, ngay cả người có trình độ chuyên môn cao hơn, nghĩa vụ lao
động mà họ tạo ra cũng sẽ chấm dứt khi họ chết, không được chuyển giao
cho người thừa kế. Mặt khác, trong HĐLĐ ngoài những quyền lợi do hai
bên thỏa thuận thì NLĐ còn có một số chế độ, quyền lợi theo quy định của
pháp luật như nghỉ lễ tết, nghỉ phép, chế độ hưu trí... mà những quyền lợi
này của NLĐ chỉ được hiện thực hóa trên cơ sở sự cống hiến cho xã hội của
9
NLĐ (chủ yếu thể hiện thông qua thời gian làm việc mức tiền lương). Vì
vậy, để được hưởng những quyền lợi nói trên NLĐ phải trực tiếp thực hiện
HĐLĐ [16, tr. 239].
Đối với HĐLĐ của thuyền viên tàu biển, thuyền viên là đối tượng lao
động đặc biệt, phải tuân thủ các điều kiện nghiêm ngặt về chức danh,
chuyên môn, độ tuổi, sức khỏe theo tiêu chuẩn quốc tế phù hợp khác với
một số đối tượng lao động thông thường khác.
Không một ai dưới độ tuổi quy định được phép thuê để làm việc trên
Mỗi thuyền viên được cung cấp bản ghi về quá trình lao động của
mình trên tàu được gọi là Sổ thuyền viên (Seaman Book), mà trong đó ghi
rõ chức danh, vị trí làm việc tại từng giai đoạn trên tàu.
Thứ tư, sự thỏa thuận của các bên trong HĐLĐ của thuyền viên phải
trong khuôn khổ các quy định của pháp luật. Bất cứ sự thỏa thuận nào của
các bên trong quan hệ lao động cũng thường bị khống chế bởi những giới
hạn pháp lý nhất định. Giới hạn sự thỏa thuận đó được xây dựng trên
nguyên tắc là đối với quyền lợi của NLĐ thì các bên được thỏa thuận tối
đa, còn về nghĩa vụ của NSDLĐ thì các bên không được thỏa thuận thấp
hơn mức tối thiểu chứ không giới hạn mức tối đa. Sự giới hạn cũng được
xác định cụ thể đối với từng nội dung quyền và nghĩa vụ tương ứng với
các chế định có liên quan đến việc thực hiện HĐLĐ: độ tuổi làm việc trên
tàu, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, giờ đi ca,…
Trong tất cả các quan hệ hợp đồng, thỏa thuận của các bên bao giờ
cũng phải đảm bảo các quy định bình đẳng, tự do, tự nguyện, không trái pháp
luật. Với HĐLĐ của thuyền viên, sự thỏa thuận ngoài việc bị khống chế bởi
quy định của pháp luật thì còn là các quy định khác như thỏa ước lao động
tập thể, nội quy lao động … Ở đó, quy định ngưỡng quyền tối thiểu của NLĐ
mà sự thỏa thuận chỉ được cao hơn, không được thấp hơn, còn ngưỡng nghĩa
vụ lại là tối đa, thỏa thuận chỉ được thấp hơn, không được cao hơn. Sự khác
biệt là trong các quan hệ hợp đồng khác, khung pháp lý cho sự thỏa thuận rất
11
rộng, đảm bảo tối đa quyền định đoạt của các bên còn trong quan hệ HĐLĐ,
quyền tự do định đoạt này bị chi phối bởi những giới hạn tương đối chặt chẽ.
Thứ năm, HĐLĐ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất
định hay vô hạn định.
Điểm đặc biệt của HĐLĐ của thuyền viên với HĐLĐ của các đối tượng
lao động thông thường khác là thời gian làm việc của thuyền viên không có tính
để các bên tìm hiểu, đánh giá về nhau một cách trực tiếp, từ đó lựa chọn và ra
quyết định chính thức.
Theo Khoản 2, Quy định 2.1 MLC 2006: “HĐLĐ của thuyền viên phải
được thuyền viên đồng ý theo các điều kiện đảm bảo thuyền viên có một cơ
hội xem xét và tìm kiếm sự tham vấn về các điều kiện và các điều khoản trong
thỏa thuận và tự nguyện chấp nhận trước khi ký kết” [19, tr. 25].
Và điểm b, khoản 1, Tiêu chuẩn A2.1 MLC 2006 “Các thuyền viên
trước khi ký kết hợp đồng phải có điều kiện kiểm tra nội dung hợp đồng, tự
nguyện ký kết hợp đồng đó sau khi đã hiểu rõ về quyền lợi và trách nhiệm của
mình” [19, tr. 25]
Như vậy, HĐLĐ của thuyền viên được giao kết dựa trên các nguyên tắc
cơ bản sau:
- Nguyên tắc tự nguyện:
Nguyên tắc này biểu hiện về mặt chủ quan của người giao kết HĐLĐ ở
chỗ: các chủ thể hoàn toàn tự do, tự nguyện về mặt ý chí và lý trí, cấm các
hành vi dùng thủ đoạn để lừa dối, ép buộc, đe dọa nhằm buộc các bên phải
giao kết hợp đồng trái với ý chí của họ. Khi tham gia quan hệ HĐLĐ, kết quả
của quan hệ trước hết là sự truyền tải tuyệt đối, trọn vẹn, đầy đủ yếu tố ý thức
tinh thần, sự mong muốn đích thực của chính các bên trong quan hệ.
- Nguyên tắc không trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể.
Theo Quy định 2.1 và tiêu chuẩn A2.1 MLC2006, “Hợp đồng lao động
của thuyền viên có thể được phép bao gồm các thỏa ước tập thể đang áp dụng
với điều kiện là luật quốc gia của nước thành viên cho phép. Trường hợp hợp
13
đồng lao động của thuyền viên bao gồm một thỏa ước tập thể thì trên tàu cũng
phải có bản sao của thỏa ước đó” [19, tr. 25].
Ngoài nội dung của hợp đồng mà thuyền viên được tìm hiểu thì khi giao
kết HĐLĐ, thuyền viên được thông báo về tất cả các quy định liên quan nhằm
sang giao kết HĐLĐ. Đối với HĐLĐ bằng lời nói, khi giao kết nếu cần thiết
thì có thể yêu cầu người làm chứng. Đối với hợp đồng bằng văn bản, các bên
thể hiện những thỏa thuận vào các điều khoản và sau đó ký kết HĐLĐ. Thực
tế, dường như tất yếu này lại đặc biệt quan trọng về mặt pháp lý vì hành vi đó
được coi là căn cứ pháp lý phát sinh quan hệ lao động.
Điểm đặc thù trong quá trình giao kết HĐLĐ của thuyền viên là HĐLĐ thuyền
viên tàu biển bắt buộc hình thức phải bằng văn bản nên quá trình giao kết
HĐLĐ kết thúc bằng một Hợp đồng lao động.
1.2.2. Chủ thể giao kết hợp đồng lao động của thuyền viên tàu biển
Chủ thể của HĐLĐ của thuyền viên là thuyền viên và chủ tàu. Khái
niệm chủ tàu và thuyền viên được quy định tại khoản 1, Điều 2 MLC 2006:
- Chủ tàu là người sở hữu tàu hoặc tổ chức hay cá nhân khác, như nhà
quản lý, đại lý hoặc người thuê tàu trần, chịu trách nhiệm về hoạt động
của tàu trước chủ sở hữu và, chấp nhận đảm nhận các nhiệm vụ và nghĩa
vụ của chủ tàu phù hợp với Công ước, bất kể có hay không các cá nhân
hoặc tổ chức nào khác thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ hoặc trách nhiệm
thay mặt chủ tàu [19, tr. 25].
Như vậy, chủ thể ký kết HĐLĐ với thuyền viên khá đa dạng, bao gồm:
+ Chủ sở hữu con tàu
+ Người quản lý, đại lý, người khai thác tàu.
+ Các tổ chức, cá nhân được thực hiện nhiệm vụ thay mặt chủ tàu.
- Thuyền viên là bất kỳ người nào được tuyển dụng hoặc thuê hoặc làm
việc theo bất kỳ khả năng nào trên một tàu [19, tr. 25].
Theo như chủ thể ký kết HĐLĐ trên thì ngoài HĐLĐ được ký trực
tiếp giữa thuyền viên và Chủ tàu thì còn có HĐLĐ thông qua đơn vị trung
15
gian (là người quản lý, đại lý, khai thác tàu hoặc các tổ chức, cá nhân khác).
Thuyền viên sẽ ký HĐLĐ với các đơn vị này nhưng làm việc trên tàu của
không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Thực
chất, đây là loại Hợp đồng không xác định thời hạn. Loại hợp đồng này
thường không phổ biến và nhiều thuyền viên cũng không muốn ký hợp đồng
với thời hạn dài này bởi lý do đặc điểm thứ năm của hợp đồng lao động
thuyền viên đã phân tích ở trên.
Nếu hợp đồng không có thời hạn nhất định thì phải có điều kiện cho phép một
trong hai bên được phép kết thúc hợp đồng, khoảng thời gian thông báo,
khoảng thời gian đó phải cân bằng cho cả chủ tàu và thuyền viên” (Khoản 4,
Tiêu chuẩn A 2.1 MLC 2006) [19, tr. 26].
- Hợp đồng có thời hạn nhất định: là hợp đồng mà trong đó hai bên xác
định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
Hợp đồng này phải quy định rõ ngày hết hạn.
Đây là loại hợp đồng được áp dụng phổ biến nhất đối với lao động
thuyền viên, đặc biệt với thời hạn 12 tháng. Bởi vì, theo quy định tại điểm b,
khoản 2, Tiêu chuẩn A2.5 thì “thời gian làm việc tối đa trên tàu, mà sau đó
thuyền viên được quyền hồi hương - khoảng thời gian đó phải dưới 12 tháng”
[19, tr. 35], tức là sau thời gian làm việc trên tàu tối đa 12 tháng, thuyền viên
được hồi hương lên bờ. Quy định về thời hạn làm việc này theo thông lệ quốc
tế nhằm đảm bảo về thể trạng sức khỏe, tâm sinh lý của thuyền viên do đặc thù
làm việc trên phạm vi hẹp trên tàu, luôn trong hành trình trên biển trong thời
gian dài không có quan hệ liên lạc với gia đình, vợ con. Bởi vậy, khi ký
HĐLĐ, các chủ tàu thường ký luôn HĐLĐ có thời hạn hợp đồng với thời gian
tối đa được phép làm việc trên tàu (HĐLĐ xác định thời hạn 12 tháng hoặc 10
tháng +- 2 tháng). Việc ký kết hợp đồng với thời hạn này tạo điều kiện linh
hoạt thuận lợi cho cả thuyền viên và chủ tàu sau khi kết thúc thời hạn hợp
đồng đã ký, thuyền viên có thể lựa chọn ký Hợp đồng mới với đơn vị khác
hoặc sau thời gian thuyền viên nghỉ phép lên bờ, Chủ tàu chưa bố trí lại công
17
Khoản 4, Tiêu chuẩn A2.1 MLC 2006 quy định về nội dung của HĐLĐ
thuyền viên như sau:
“Mỗi quốc gia phải thông qua các văn bản pháp luật và các quy định chỉ rõ
các vấn đề được bao gồm trong tất cả các hợp đồng lao động của thuyền viên
được điều chỉnh bởi luật quốc gia. Hợp đồng lao động của thuyền viên trong
mọi trường hợp phải bao gồm các nội dung sau đây [19, tr. 26].:
(a) tên đầy đủ, ngày sinh hoặc tuổi, và nơi sinh của thuyền viên;
b) tên và địa chỉ chủ tàu;
(c) địa điểm và ngày thỏa thuận tuyển dụng của thuyền viên có hiệu lực;
(d) năng lực mà theo đó thuyền viên được tuyển dụng;
(e) mức lương của thuyền viên, nếu phù hợp, cách tính lương;
(f) tiền thanh toán nghỉ phép hàng năm hoặc, nếu phù hợp, cách tính tiền
thanh toán này;
(g) kết thúc thỏa thuận và các điều kiện kèm theo, bao gồm:
(i) nếu thỏa thuận không có thời hạn xác định, các điều kiện cho phép một
trong hai bên kết thúc hợp đồng, cùng với thời hạn thông báo được yêu
cầu; thời hạn thông báo được yêu cầu của chủ tàu không được ngắn hơn
của thuyền viên;
(ii) nếu thỏa thuận có một thời hạn xác định, lấy hạn đó; và
(iii) nếu là thỏa thuận cho một chuyến đi biển, ghi rõ cảng đến và thời gian
hết hạn sau khi tàu đến cảng, trước khi thuyền viên kết thúc sự ràng buộc
của thỏa thuận;
(h) chủ tàu phải cung cấp cho thuyền viên trợ cấp bảo vệ sức khoẻ và an
sinh xã hội;
(i) quyền hồi hương của thuyền viên;
(j) tham chiếu đến thoả ước tập thể, nếu phù hợp; và
(k) mọi chi tiết khác mà luật quốc gia có thể yêu cầu.
19
20
Thứ hai, về quyền hồi hương của thuyền viên. Ý nghĩa và mục đích của
Quy định 2.5 MLC 2006 là “Đảm bảo thuyền viên được trở về nhà” [19, tr. 35].
Đây vừa là quyền luật định mang tính bắt buộc nhưng cũng là quyền
mang tính nhân văn cho lao động đặc thù. Do thuyền viên có điều kiện làm
việc riêng biệt trên một tàu, trên vùng biển trong suốt một thời gian dài, thiếu
thông tin xã hội, không có quan hệ gia đình nên thuyền viên cần được nghỉ
ngơi, ổn định sức khỏe tâm sinh lý. Vì vậy, Công ước MLC 2006 ngoại trừ
các trường hợp hồi hương thì còn có riêng một quy định về thời gian làm việc
tối đa trên tàu để thuyền viên được quyền hồi hương và phải được thực hiện
quyền hồi hương một cách chính đáng.
1.2.5. Thực hiện, thay đổi, tạm hoãn hợp đồng lao động của thuyền viên
tàu biển
Quá trình thực hiện HĐLĐ là sự hiện thực hóa quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên trong quan hệ pháp luật lao động, hay thực hiện hành vi
HĐLĐ là hành vi pháp lý của hai bên nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ
đã cam kết trong HĐLĐ.
Sau khi giao kết HĐLĐ, các bên phải bằng hành vi của mình thực hiện
nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Hợp đồng sau khi có hiệu lực trở thành “luật”
với các bên. Về nguyên tắc mỗi bên phải thực hiện đúng, đầy đủ và thiện chí,
tạo điều kiện để bên kia thực hiện HĐLĐ. Vì dù ở phương diện nào đó, lợi ích
các bên có thể đối lập nhưng xét toàn bộ quá trình lao động, quyền lợi các bên
chỉ có được khi quan hệ lao động diễn ra ổn định, hài hòa trên cơ sở hiểu biết,
tôn trọng lẫn nhau.
Do thỏa thuận của các bên xác lập tại một thời điểm cụ thể với điều kiện
khả năng nhất định trong khi quá trình lao động diễn ra trong thời gian dài, có
thể xảy ra nhiều sự kiện khách quan, chủ quan khiến các bên không muốn hay
không thể thực hiện đúng thỏa thuận. Vì vậy, việc ghi nhận quyền và khả năng