VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS LÊ THỊ HOÀI THU
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Lê Thị Hoài Thu
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Quyên
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ...........................31
2.2. Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội .........................................34
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ..47
Chƣơng 3. ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI
CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..57
3.1. Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc giảm nghèo bền vững
đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ ..........................................................57
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội nhóm đối với
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà
Nội.........................................................................................................................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ...................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
BTXH
Bảo trợ xã hội
CLB
NXB
Nhà xuất bản
PNNĐT
Phụ nữ đơn thân
TP
Thành phố
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
XHH
Xã hội học
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1. Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ của Huyện Quốc Oai- Hà Nội. .....32
Bảng 2.2. Kết quả thống kê mức độ tham gia của phụ nữ nghèo đơn thân vào các tổ
chức, Đoàn – Hội tại Huyện Quốc Oai, Hà Nội........................................................34
Bảng 2.3. Nội dung sinh hoạt nhóm đối với phụ nữ .................................................38
Bảng 2.4. Nhu cầu phụ nữ đơn thân và ưu tiên thực hiện .........................................39
Bảng 2.5. Hình thức tham vấn được phụ nữ đơn thân lựa chọn ...............................40
Bảng 2.6. Nội dung tham vấn nhóm mà phụ nữ nghèo đơn thân đã được tiếp cận ..41
của người Việt. Đảng và nhà nước ta đang nỗ lực đổi mới, hướng tới mục tiêu bình
đẳng giới bằng cách đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện và
cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động; hướng tới
giải phóng người phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nước công bằng, văn minh.
Có thể thấy, trong những năm qua, phong trào phụ nữ và bình đẳng giới của nước ta
đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Phụ nữ Việt Nam đã có những bước trưởng
thành và phát triển mạnh mẽ, có những đóng góp to lớn trên các lĩnh vực kinh tế,
văn hoá- xã hội, khoa học – công nghệ, xây dựng Đảng, Chính quyền và hợp tác
quốc tế. Nhận thức xã hội về bình đẳng giới được nâng lên. Phụ nữ được tôn trọng
và bình đẳng hơn, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và gia đình ngày càng được
cải thiện. Bình đẳng giới của Việt Nam được Liên hiệp quốc đánh giá là điểm sáng
trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình phụ
nữ và công tác phụ nữ còn nhiều mặt hạn chế, đồng thời lại có những vấn đề mới
đặt ra với nhiều thách thức. Phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới về cơ hội có việc làm
và thu nhập do trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp còn thấp, phụ nữ thiếu
việc làm, di cư tự phát ra thành phố ngày càng tăng. Ở miền núi, vùng sâu, xa, tỷ lệ
phụ nữ mù chữ và phụ nữ nghèo còn cao.
1
“Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng” là quy luật bao đời nay vẫn vậy, là
người phụ nữ, ai cũng mong muốn có một mái ấm gia đình hạnh phúc, có một
người chồng để sẻ chia, để được nương tựa, được sống đúng nghĩa một người vợ,
người mẹ. Nhưng đâu phải ai cũng được hưởng sự viên mãn, tròn trịa ấy, có những
người đã có chồng nhưng lại ly hôn hoặc chồng mất sớm phải nuôi con một mình,
hay có những chị mang trên mình một khiếm khuyết nào đó, hoặc do “duyên phận
lỡ làng”, “quá lứa nhỡ thì”, họ chấp nhận không xây dựng gia đình nhưng lại khao
khát được thực hiện thiên chức của một người mẹ, vì vậy họ quyết định lựa chọn có
mình đang quản lý, sử dụng những kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù ngành
CTXH để hỗ trợ nhóm PNNĐT nuôi con nhỏ vượt qua khó khăn, vươn lên trong
cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội
nhóm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Công tác xã hội.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu đề tài
Trong các nhóm phụ nữ yếu thế ở Việt Nam hiện nay thì nhóm PNNĐT là
nhóm ít nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ phía cộng đồng, xã hội. Trong các nghiên
cứu khoa học xã hội thì vấn đề phụ nữ đơn thân nói chung và phụ nữ đơn thân nuôi
con cũng ít được bàn tới. Vấn đề này chỉ được đề cập đan xen trong các công trình
nghiên cứu về phụ nữ nông thôn, các nghiên cứu về ly hôn và các công trình nghiên
cứu về nhóm phụ nữ nghèo. Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, tác giả nhận thấy
rằng tính đến thời điểm hiện nay những nghiên cứu riêng về phụ nữ đơn thân ở Việt
Nam chỉ có một vài nghiên cứu, ngoài ra chủ yếu là các bài viết trên các tạp chí và
các bài báo
2.1. Những nghiên cứu về quyền của phụ nữ
Phát biểu tại diễn đàn “Bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững”, Chủ nhiệm
Ủy ban các vấn đề xã hội Trương Thị Mai nhấn mạnh: “Phụ nữ phải gánh chịu ảnh
hưởng của nghèo đói nhiều hơn nam giới và họ chính là những người nghèo nhất
trong số những người nghèo” (Ngày 02/6/2008, Diễn đàn Bình đẳng giới và giảm
nghèo bền vững tại Hà Nội, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội), chính vì vậy,
những nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình, xóa đói giảm
nghèo bền vững trong những năm gần đây đã được thực hiện rất nhiều. [1]
“Quyền của phụ nữ” – khía cạnh được đề cập đến ở nhiều lĩnh vực khác nhau
như pháp luật, góc nhìn xã hôi, vấn đề an sinh và quyền con người. Về vấn đề này
3
4
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.
Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ
nữ. Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ
có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công
ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo
quy định của pháp luật. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình
độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển
các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ
gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh,
nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ”. [27]
2.2. Nghiên cứu về chính sách đối với phụ nữ
Chính sách xã hội được coi như hành lang pháp lý trong việc trợ giúp cho
phụ nữ đơn thân. Cuốn sách “Chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn – Quá
trình xây dựng và thực hiện” của tác giả Lê Thi, NXB khoa học xã hội, năm 1998
đã phân tích, lý giải và chỉ ra yêu cầu cần phải có những chính sách xã hội dành cho
đối tượng là phụ nữ nông thôn. Trong đó, tác giả chỉ ra những điều kiện thiệt thòi
của phụ nữ đơn thân và khuyến nghị với các nhà hoạch định chính sách cần phải lưu
ý đến các vấn đề như: Chế độ ưu đãi đối với những nữ thanh niên xung phong đang
sống cô đơn; chính sách ưu tiên, hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho phụ nữ góa (chồng
đã từng tham gia phục vụ kháng chiến); kiểm tra, thực thi các điều luật về Hôn nhân
gia đình để đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ sau ly hôn, ly thân. [12]
2.3. Những nghiên cứu về phụ nữ đơn thân
Phụ nữ đơn thân có rất nhiều loại hình: Đơn thân do chồng mất, đơn thân do
ly hôn, ly thân, đơn thân do bị chồng ruồng bỏ…. Đối với mỗi một loại hình. người
phụ nữ đơn thân lại có những hoàn cảnh và vấp phải những khó khăn khác nhau.
Trong cuốn sách “Ly hôn – nghiên cứu trường hợp Hà Nội” của Trung tâm nghiên
cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ, NXB Khoa học xã hội, năm 2002 đã chỉ ra
thân
Một nghiên cứu khác thuộc nhóm này là “Vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng” do trung tâm nghiên cứu khoa học
về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006. Đề tài tập trung nghiên cứu cứu
cụ thể: Đặc điểm của khu vực nghiên cứu (đồng bằng sông Hồng) và vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh vấn đề vai trò của phụ nữ nông thôn trong đổi mới kinh tế.
Các nội dung nghiên tế nông thôn và cụ thể trong phát triển kinh tế hộ gia đình ;
6
Những khó khăn và thuận lợi đối với phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế gia
đình; Đánh giá tiềm năng của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn và một số
khuyến nghị cho hoạch định chính sách đối với phụ nữ khu vực nông thôn. [21]
Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt động
giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu trường hợp
hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm 2008, đã đi sâu tìm
hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã Cổ Nhuế và Xuân
Phương. Luận văn đã làm rõ được hoạt động của các đoàn thể với công tác xóa đói
giảm nghèo đặc biết là Hội Liên hiệp phụ nữ của hai xã. Đồng thời, luận văn đã đưa
ra được một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức quần chúng
trính chị - xã hội trong hoạt động xóa đói giảm nghèo tại địa bàn xã Xuân Phương
và xã Cổ Nhuế. [4]
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm Ly với đề tài: “Phụ nữ
nghèo ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An: thực trạng, nguyên nhân và chiến lược thoát
nghèo” (năm 2010) đã phân tích thực trạng đời sống của phụ nữ nghèo ở thành phố
Vinh, thu thập các nguồn dữ liệu định tính và định lượng cần thiết liên quan và tìm hiểu
các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng nghèo của phụ nứ nghèo.
Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra được các chiến lược mà họ đã và đang sử dụng để nỗ
lực đưa bản thân và gia đình thoát nghèo. Luận văn đã dự báo được các xu hướng hành
có mặc cảm, tự ti với cuộc sống hiện tại. Các nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp
giúp phụ nữ đơn thân phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo, khẳng định quyền làm
chủ cuộc sống của họ. Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu đi sâu vào khai thác nhóm
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những lý luận và thực trạng về CTXH nhóm đối với phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ các yếu tố ảnh hưởng; từ đó ứng dụng phương pháp CTXH nhóm
và đề xuất biện pháp CTXH góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với nhóm
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài hướng vào giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu
sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ,
CTXH, CTXH nhóm, CTXH nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, lý thuyết
ứng dụng CTXH nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ: xác định các yếu tố
ảnh hưởng đến việc can thiệp với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn
nghiên cứu.
- Khảo sát, phân tích thực trạng công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ.
8
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong can thiệp, trợ giúp phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
- Đề xuất biện pháp góp phần thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trong địa bàn nghiên cứu.
- Các báo cáo: Báo cáo tổng kết hàng năm của Hội phụ nữ về công tác xã hội,
về chính sách giảm nghèo cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nhằm bổ sung cho
thực trạng vấn đề nghiên cứu.
- Các chương trình hỗ trợ giảm nghèo cho cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi
con nhỏ.
5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Tác giả xây dựng bảng hỏi với câu hỏi đóng và câu hỏi mở soạn sẵn, người điều
tra bảng hỏi, hướng dẫn cách trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu
bản. Mục đích nhằm thu thập thông tin khảo sát từ phía người được hỏi bằng bộ câu
hỏi đã được thiết kế sẵn.
+ Cỡ mẫu: 121
+ Cách thức chọn mẫu: chọn toàn bộ 121 phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ thuộc
hộ nghèo trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
+ Địa bàn khảo sát: 21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với nhóm, là những cuộc đối thoại được lặp
đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin cá nhân của những phụ nữ
nghèo đơn thân khác nhau để so sánh kết quả bổ trợ thêm cho các kết quả nghiên cứu
từ điều tra viết.
Thực hiện phỏng vấn sâu với 30 đối tượng gồm: 21 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi
con nhỏ, 03 thành viên Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp huyện, 03 trưởng Ban chỉ đạo
giảm nghèo cấp xã, 03 Chủ tịch Hội Phụ nữ cấp xã.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Dưới góc độ tiếp cận của lý thuyết xã hội học, lý thuyết công tác xã hội đặc biệt
là CTXHN cùng với việc sử dụng các kỹ năng và các phương pháp thu thập, phân tích
10
1.1.1. Lý luận về nghèo
Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái
niệm khác nhau.
Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á -Thái Bình Dương do ESCAP tổ
chức tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau:
"Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ
bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình
độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”.
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là nghèo
khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ
rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong
cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực".
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa
định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới
một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản
phẩm cần thiết để tồn tại."
Nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá
đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng
thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào
lĩnh vực kinh tế".
Xác định giàu nghèo là một việc khó vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc
gia, và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau.
Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và mức độ thiếu
hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. [17]
12
Tiêu chí về thu nhập, chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/
13
Khi nói đến khái niệm phụ nữ đơn thân ai cũng nghĩ rằng đó là một khái niệm
dễ hiểu, bởi bản thân cụm từ “đơn thân” dường như đã phản ánh bản chất của khái
niệm này. Tuy nhiên, khi đi vào phân tích để đưa ra được một khái niệm cụ thể, chi
tiết thì đó lại là điều không dễ.
Cũng trong một cuốn sách khác của GS. Lê Thi, cuốn sách mang tên “Single
women in Viet Nam” (Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam),
bà đã đưa ra một định nghĩa khá cụ thể về khái niệm phụ nữ đơn thân: “Họ là
những phụ nữ chưa kết hôn hoặc đã từng kết hôn nhưng vợ chồng họ sống xa cách
với nhiều lý do khác nhau”. [13]
Tác giả Lê Thi chia phụ nữ đơn thân thành hai nhóm chính:
- Phụ nữ đã kết hôn: Bao gồm những người phụ nữ rơi vào tình trạng góa bụa,
ly hôn, ly thân hoặc thiếu vắng chồng trong một thời gian dài.
- Phụ nữ chưa kết hôn: Những người phụ nữ không lấy chồng hay không bao
giờ lấy chồng. Những người phụ nữ này lại được chia thành hai nhóm, đó là: Những
người phụ nữ không lấy chồng nhưng lại có con ngoài giá thú hoặc nhận con nuôi
và những người phụ nữ sống độc thân, không xây dựng gia đình.
Nếu theo cách hiểu này thì chúng ta lại đặt ra một câu hỏi: Tại sao một số
người phụ nữ chưa có chồng lại xếp vào nhóm phụ nữ đơn thân? Điều này được lý
giải như sau: Ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, những người phụ nữ
ngoài 30 tuổi sẽ rất khó khăn trong việc kết hôn, xây dựng gia đình bởi ở độ tuổi
này người phụ nữ bị coi là già, bị gọi là những người phụ nữ “quá lứa nhỡ thì” hay
còn cách gọi khác là “gái già”. Những người phụ nữ này họ cô đơn về mặt tình
cảm, họ phải tự trang trải cho cuộc sống của bản thân. Vì vậy, họ cũng được xếp
vào nhóm phụ nữ đơn thân.
Dựa vào hai khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu phụ nữ đơn thân: Là những
người phụ nữ chưa lấy chồng hoặc không muốn lấy chồng, những người phụ nữ góa
bụa, ly hôn, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ. Họ có thể có con (hay con nuôi) hoặc
cả trong đời sống vật chất cũng như tinh thần. Họ phải gánh lấy trách nhiệm và vai trò
của cả người cha lẫn người mẹ, phải chu toàn cùng lúc công việc ngoài xã hội cũng
như trong gia đình và phải gánh chịu những luồng dư luận hà khắc trong xã hội. [13]
Khó khăn về kinh tế
Phụ nữ đơn thân phải làm việc nhiều hơn, điều đó khiếnhộ gặp nhiều sức ép
tâm lý, cũng như ảnh hưởng đến sức khoẻ. Đồng thời cũng lấy của họ nhiều thời
15
gian mà đáng lẽ ra đó là thời gian họ dành cho con cái và bản thân mình. Nỗi lo
“cơm áo gạo tiền” gây cho phụ nữ đơn thân rất nhiều áp lực và đôi khi khiến họ có
cư xử hay tác động tiêu cực đến con cái. Đối với những người phụ nữ đơn thân
nghèo nuôi con nhỏ, họ dựa chủ yếu vào nguồn trợ cấp Bảo trợ xã hội ít ỏi của nhà
nước, họ không tự quyết định được cuộc sống của mình và rất khó để thay đổi được
cuộc đời.
Quá bận rộn với công việc
Là phụ nữ đơn thân, họ phải một mình lo mọi việc và không tránh khỏi bị
quá tải công việc. Họ phải tìm cách để xoay sở cho cuộc sống của mình, không chỉ
làm việc cật lực, họ còn lo nhiều việc khác, đặc biệt là chăm con, một mình họ
ghồng gánh, chèo lái gia đình. Đây là những áp lực không nhỏ khiến cho những phụ
nữ đơn thân có nhiều suy nghĩ tiêu cực.
Thiếu thốn tình cảm
Đây là điều có lẽ những người phụ nữ đơn thân luôn gặp phải, không tránh
khỏi những lúc họ có cảm giác cô đơn chỉ có một mình, nhất là vào mỗi đêm hoặc
khi chứng kiến những gia đình hạnh phúc, có vợ có chồng. Dù họ có muốn hay
không muốn đến với mối quan hệ mới và luôn có con ở bên cảm giác cô đơn vẫn
không mất đi trong họ. Hơn bao giờ hết họ vẫn muốn được chia sẻ nỗi niềm của
mình và tâm sự giấu kín trong lòng, khi một mình phải lo toan tất cả mọi thứ, họ
gần như không có thời gian tụ tập với bạn bè, không có sự chia sẻ đây là điều càng
Nhu cầu nâng cao đời sống vật chất
Hơn ai hết, những người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ mong muốn
một cuộc sống đủ đầy về vật chất, đáp ứng những nhu cầu tối thiểu hàng ngày.
Trong đó có thể kể đến những nhu cầu cơ bản như: hỗ trợ vay vốn, học nghề, giới
thiệu việc làm, hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở, ….
Nhu cầu tham vấn, tư vấn
Là một nhóm yếu thế trong xã hội và vô cùng nhạy cảm, tự ti, PNNĐT nuôi
con nhỏ có những nhu cầu tinh thần rất lớn, mạnh mẽ. Họ luôn khát khao một cuộc
sống hạnh phúc, trọn vẹn, luôn mong muốn có một mái ấm, một chỗ dựa vững chắc
cho họ và con của họ. Những người PNNĐT rất cần được sẻ chia, được tư vấn tâm
lý, sức khỏe, cũng như cách thức nuôi dạy con cái. Họ mong muốn xã hội nhìn nhận
họ với con mắt cảm thông chứ không phải dò xét, dèm pha. Hơn ai hết, họ luôn
muốn hòa nhập cộng đồng, muốn được tham gia các hoạt động xã hội như những
người phụ nữ khác.
17
Nhu cầu hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái
Đối với PNNĐT nuôi con nhỏ, con cái là tất cả những gì họ có được, là điều
quý giá nhất của cuộc đời họ, họ có thể hy sinh tất cả để dành cho con những điều
tốt đẹp nhất. Họ luôn muốn bù đắp những thiệt thòi, thiếu thốn tình cảm của người
cha cho con họ. Tuy nhiên, chính vì sự chiều chuộng một cách thái quá đôi khi đã
làm cho những người PNNĐT ấy làm lệch lạc đi những chuẩn mực trong nuôi dạy
con cái. Với hai vai phải gánh vác, họ rất cần có được những kiến thức, kỹ năng,
phương pháp nuôi dạy con cái một cách hợp lý và hiệu quả nhất, để con cái của họ
trở thành một công dân tốt, và là chỗ dựa cho họ khi về già.
1.2. Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
1.2.1. Một số khái niệm
Khái niệm Công tác xã hội
Theo tác giả Nguyễn Thị Thái Lan: CTXH nhóm là một phương pháp
CTXH nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ nguồn lực, kinh
nghiệm giữa các thành viên, giúp củng cố tăng cường các chức năng xã hội và
khả năng giải quyết các vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh
hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành
vi và khả năng đương đầu với vấn đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải
quyết vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực. [6]
CTXH nhóm là một phương pháp trợ giúp các cá nhân thông qua hoạt động
nhóm. Khi tham gia vào nhóm đó, các thành viên đều là những người có cùng vấn
đề, nhu cầu, mục đích và đặc biệt họ có sự phân chia vai trò và có sự tương tác qua
lại với nhau cùng với sự hỗ trợ của các CTXH, từ đó các thành viên trong nhóm có
thể vượt qua khó khăn và tự vươn lên phát triển, tạo nên sự phát triển bền vững cho
con người. [6]
Từ những khái niệm trên, tác giả đã rút ra khái niệm về CTXH nhóm đối với
PNNĐT nuôi con nhỏ là là một phương pháp trợ giúp những PNNĐT nuôi con nhỏ
thông qua hoạt động nhóm. Khi tham gia vào nhóm đó, các chị em có cùng vấn đề,
nhu cầu, mục đích và đặc biệt họ có sự phân chia vai trò và có sự tương tác qua lại
với nhau cùng với sự hỗ trợ của các CTXH, từ đó các chị em phụ nữ trong nhóm có
thể vượt qua khó khăn và tự vươn lên phát triển, tạo nên sự phát triển bền vững cho
chính họ.
19