Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện quốc oai, thành phố hà nội - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8760101

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI, 2019


NỘI TRONG NHỮNG NĂM TỚI ...................................................................... 63
3.1 Định hƣớng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ
nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ........... 63
3.2. Các giải pháp phát triển công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ................. 67
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 74
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTXH

Công tác xã hội

LHPN

Liên hiệp phụ nữ

PNNĐT

Phụ nữ nghèo đơn thân


DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Phân loại các loại hình đơn thân ........................................................... 41
Bảng 2.2. Thống kê độ tuổi và số con đang nuôi của PNNĐT ............................ 42
Bảng 2.3. Cơ cấu ngành nghề và bình quân thu nhập của PNNĐT .................... 45
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát trình độ chuyên môn của phụ nữ nghèo đơn thân

cộng đồng cũng nhƣ của công tác xã hội.
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một trong những đối tƣợng yếu
thế dễ bị tổn thƣơng và cần sự trợ giúp của công tác xã hội. Công tác xã hội có
sứ mệnh vận dụng linh hoạt những kiến thức và kỹ năng để tiếp cận đối tƣợng,
lập kế hoạch trợ giúp và giúp những phụ nữ nghèo đơn thân tiếp cận với các cơ
sở dịch vụ hỗ trợ một cách bền vững.
Giá trị nhân văn và kinh tế khi PNNĐT có việc làm dƣờng nhƣ không thể
phủ nhận bởi nó góp phần đảm bảo cuộc sống cải thiện vị thế, và tăng cƣờng
tính trách nhiệm xã hội cho PNNĐT.
Bình đẳng giới luôn là một trong những mục tiêu chiến lƣợc đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Tình trạng bất bình đẳng giới hiện
nay vẫn còn tồn tại ở hầu khắp các quốc gia điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ
đến sự phát triển chung của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung. Vấn
nạn bất bình đẳng giới chủ yếu diễn ra đối với phụ nữ, họ là những ngƣời phải

1


gánh chịu nhiều thiệt thòi, tổn thƣơng từ những quan niệm, định kiến bất công từ
xã hội xƣa và nay
Đối với Việt Nam, trong những năm qua Đảng và Nhà nƣớc thực hiện
nhiều bƣớc đột phá về hành động và nhận thức, từ khía cạnh chính sách, pháp
luật đến thực tiễn và đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới. Việt
Nam đƣợc đánh giá là một trong số những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới
nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Điểm nổi bật trong việc bảo đảm
quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về
bình đẳng giới.Thành quả đem lại nhằm tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho
phụ nữ có thể tự tin phát triển trên tất cả các lĩnh vực, hƣớng tới giải phóng
ngƣời phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nƣớc công bằng, văn minh.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận lại một cách thẳng thắn về những

Công tác dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội còn
nhiều khó khăn: Phần lớn họ chƣa có công ăn việc làm, đời sống khó khăn và
đa phần thuộc hộ nghèo. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đơn thân không có việc làm, trình
độ học vấn còn hạn hẹp, nhiều ngƣời còn tự ti, mặc cảm chƣa hòa nhập với cộng
đồng.
Luận văn "Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với Phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằmđềra các
giải pháp thúc đẩy hoạt động công tác xã hội đối với vấn đề việc làm của phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội; hƣớng
đến giúp họ có đủ sức mạnh, chủ động, tự tin, hội nhập- hòa nhập, tự giúp bản
thân, tự lập cuộc sống, tự khẳng định bản thân, định hƣớng nghề nghiệp và tự
tìm đƣợc việc làm.

3


Tại địa bàn huyện Quốc Oai đã nổi lên các nhu cầu, mô hình việc làm cho
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và đang rất quan tâm cũng nhƣ cần có một
nghiên cứu về vấn đề việc làm của Phụ nữ để thúc đẩy, phát triển hoạt động hỗ
trợ Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn tốt hơn.
Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Công tác xã
hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực
tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”để làm đề tài nghiên cứu luận văn của
mình là hoàn toàn thiết thực và cần thiết, phù hợp với bối cảnh chiến lƣợc và
chính sách phát triển của địa phƣơng
2. Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề tài
2.1. Một số tài liệu trên thế giới
* Nghiên cứu về phụ nữ đơn thân
Thứ nhất, các nghiên cứu về xu hƣớng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ

văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đã ghi nhận một cách cụ thể về quyền trong
lĩnh vực chính trị của phụ nữ.
Về lĩnh vực lao động, việc làm: Tƣơng ứng với điều 11 CEDAW, điều 14
của công ƣớc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 điều
109 Bộ luật Lao động quy định : “nhà nƣớc bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ
bình đẳng một mặt với nam giới…”
Về lĩnh vực giáo dục: Trên cơ sở nội dung của điều 10 công ƣớc CEDAW
điều 63 Hiến pháp 92 quy định: phụ nữ và nam giới bình đẳng với nam giới về
phƣơng diện văn hóa, xã hội. Cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp điều 14
luật bình đẳng giới năm 2006 quy định nam nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào
tạo, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo tiếp
cận và hƣởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo.

5


2.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện tƣợng bà mẹ đơn thân là một hiện tƣợng không mới trong xã hội
nhƣng phát triển mạnh và thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu thì chỉ
mới khoảng gần chục năm gần đây. Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tƣợng
này chủ yếu là của những nhà nghiên cứu xã hội học chuyên nghiên cứu về phụ
nữ. Nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến vấn đề bà mẹ đơn thân chính là GS
Lê Thi Trong hai nghiên cứu của mình là Cuộc sống của phụ nữ đơn thân Việt
Nam và Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng, Lê Thi đã miêu tả khá chi tiết về
cuộc sống của những bà mẹ đơn thân. Tuy nhiên, hai cuốn sách này chủ yếu
thiên về nghiên cứu xã hội học, chỉ miêu tả về cuộc sống của những bà mẹ đơn
thân ở một khu vực nhất định. Đối tƣợng của Lê Thi hƣớng đến khá là đa dạng,
cả những trƣờng hợp góa phụ, li hôn và không kết hôn, địa bàn khảo sát là một
vùng nông thôn với những phụ nữ là công nhân. Những nghiên cứu của Lê Thi
vừa mở ra những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân, vừa là cơ sở để

đã hệ thống các cơ sở lý thuyết về phụ nữ đơn thân, nêu lên những nhu cầu cơ
bản của phụ nữ nghèo đơn thân, từ đó tác giả chọn 1 trƣờng hợp để sử dụng
phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân để hỗ trợ thân chủ. Tác giả đề tài đã trú
trọng đến các giải pháp tăng năng lực của bản thân thân chủ, tìm kiếm và phát
huy điểm mạnh của thân chủ cùng với những nguồn lực hõ trợ từ bên ngoài để
giúp thân chủ có việc làm và tạo thu nhập ổn định.
Võ Thị Cẩm Ly (2017), Luận án tiến sĩ “Phụ nữ đơn thân làm mẹ ở nông
thôn Bắc trung bộ: chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” (nghiên cứu trƣờng
hợp tại Yên Thành, Nghệ An). Mục đích nghiên cứu của luận án là mang lại một
sự hiểu biết có hệ thống về chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế của nhóm phụ
nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ mà cụ thể là ở huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đó luận án hƣớng tới bổ sung một số quan

7


điểm lý thuyết về chân dung xã hội của nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân và sinh
kế của họ. Một mục đích khác của luận án là qua kết quả nghiên cứu nêu lên một
số hàm ý về mặt chính sách để cải thiện sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân.
Ngoài ra, còn một số đề tài nổi bật nhƣ:
“Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo
và giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trƣờng và Phát triển. “Vai trò của
phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng” do trung tâm
nghiên cứu khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006.
Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt động
giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu trƣờng
hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phƣơng, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm 2008, đã đi
sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã Cổ Nhuế và
Xuân Phƣơng.
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm Ly với đề tài: “Phụ

- Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ
việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội.
4. Đối tƣợngvà phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
nhỏ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

9


Phạm vi về thời gian thực hiện nghiên cứu: đềtài triển khai nghiên cứu từ
tháng 02/2019 đến tháng 09 năm 2019
Phạm vi về không gian: Các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ Phụ nữ đơn
thân nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà
Nội.
Phạm vi về khách thể: 60 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ 25 đến
55 tuổi; 02 cán bộ Phòng lao động thƣơng binh xã hội huyện; 02 cán bộ Hội phụ
nữ huyện.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài áp dụng cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng: từ những đánh
giá thực trạng về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, thực trạng
của hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội để rút ra đƣợc
những lý luận và đƣa ra đƣợc những đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả
dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn
huyện.
Nghiên cứu vấn đề về lý luận trong hệ thống tiếp cận chỉnh thể: nghiên

Điều tra bảng tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách thể nghiên cứu
nhằm thu thập thông tin để làm rõ thực trạng việc làm tại địa phƣơng và nhu cầu
hỗ trợ từ các chính sách, các hoạt động đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
nhỏ.Từ đó đánh giá về khả năng đáp ứng nhu cầu, hoạt động hỗ trợ phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
Mẫu nghiên cứu: điều tra và lấy thông tin từ ngƣời đƣợc hỏi, tác giả tiến
hành chọn 60 phụ nữ đơn thân từ 25 đến 55 tuổi của 03 xã :xã Sài Sơn, xã Yên
Sơn, xã Cộng Hòa để thu thập thông tin, số liệu về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi

11


con nhỏ có đƣợc hƣởng và hỗ trợ của những dịch vụ công tác xã hội tại địa
phƣơng không, các dịch vụ công tác xã hội có phù hợp với nhu cầu mong muốn
của họ hay không; Những thông tin thu thập đƣợc từ bảng hỏi sẽ làm cơ sở cho
tác giả đề xuất những giải pháp thiết thực để các hoạt động công tác xã hội đối
với việc làm cho nhóm đối tƣợng phụ nữ nghèo đơn thân phù hợp và đạt hiệu
quả hơn.
Cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo cách lấy mẫu thuận tiện.
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phƣơng pháp mà việc trao đổi trực tiếp giữa ngƣời
phỏng vấn và đƣợc trả lời phỏng vấn dựa trên các mục tiêu của đề tài nghiên
cứu.
Sử dụng phƣơng pháp này nhằm thu thập các thông tin về thực trạng hỗ
trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, các yếu tố tác động
đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội ở cộng đồng để có nhận định,hiểu rõ
hơnvề các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân
nuôi con nhỏ đồng thời đánh giá hiệu quả dịch vụ công tác xã hội tại địa phƣơng
đã đáp ứng nhu cầu của nhóm đói tƣợng này hay chƣa.
Phỏng vấn sâu đƣợc tiến hành với: 06 phụ nữ nghèo đơn thân của các xã

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm việc đối
với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Chƣơng 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức các hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ
trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện
Quốc Oai, thành phố Hà Nội trong những năm tới

13


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀCÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ
VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về công tác xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội. Sau đây là một số
khái niệm về CTXH và nghề CTXH đƣợc rất nhiều các nhà nghiên cứu và
những ngƣời thực hành CTXH trên thế giới sử dụng và tham khảo:
Đối với Hiệp hội các quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ
(NASW) đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Công tác xã hội là hoạt động mang
tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm, hoặc cộng đồng
tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ
và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.” [14 ,40]
Tại hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội (IFSW)
diễn ra vào tháng 7/2000, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về CTXH
nhƣ sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và
giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải
mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã

an sinh xã hội” [13, 19]
1.1.2. Khái niệm về nghèo
Nghèo là một hiện tƣợng kinh tế mang tính chất xã hội toàn cầu. Nó
không những tồn tại ở các nƣớc có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn
tồn tại ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên mỗi quốc gia đều
sử dụng một khái niệm để xác định múc độ nghèo đồng thời đƣa ra các

15


tiêu chí xác định nghèo khổ. Giới hạn nghèo đói của các nƣớc đƣợc xác
định bằng mức thu nhập tối thiểu để ngƣời dân có thể tồn tại đƣợc, đó là
mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm đƣợc những vật dụng
cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo
mức giá cả hiện hành.
Theo Ngân hàng thế gới(WB): “ Đói nghèo không chỉ bao hàm sự
khốn cùng về vật chất ( được đo lường theo một khái niệm về thu nhập
hoặc tiêu dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế ( Theo
báo cáo phát triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói).
Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng
Cốc- Thái Lan 9/1993, đã đƣa ra khái niệm về nghèo đói nhƣ sau: “
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ
theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa
phương”. Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nƣớc khác
nhau là khác nhau.
Xác định giàu nghèo đói là một việc khó khăn vì nó gắn với từng
thời điểm, từng quốc gia và đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Ở Việt Nam, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và

giúp họ một cách hiệu quả để họ vƣợt qua những rào cản và đảm bảo sự
tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng của sự công bằng
nhƣ mọi ngƣời trong xã hội.
Mục đích của CTXH với PNNĐT là: Đánh giá, tìm hiểu mong
muốn và nhu cầu về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân, Tƣ vấn và giới

17


thiệu việc làm , Kết nối các nguồn lực, Hỗ trợ tiếp cận các chính sách xã
hội, Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc
làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ. Trợ giúp, khuyến khích,
thúc đẩy và tăng cƣờng việc thực hiện các chức năng xã hội của cá nhân,
nhóm, các tổ chức và các cộng đồng của nhóm PNNĐT; Tham gia vào
việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội, các dịch vụ
xã hội, các nguồn tài nguyên và các chƣơng trình để đáp ứng những nhu
cầu của nhóm PNNĐT và hỗ trợ cho sự phát triển của họ; Theo đuổi
những chính sách, dịch vụ, tài nguyên và chƣơng trìnhthông qua công tác
biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành
động chính trị để tăng quyền lực cho họ nhằm đảm bảo sự công bằng và
sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội.
Do vậy NVCTXH có vai trò trực tiếp là ngƣời thu thập thông tin, lập
kế hoạch, thực hiện kế hoạch, giám sát, đánh giá, lƣợng giá,…và vai trò
gián tiếp là ngƣời tham vấn, tƣ vấn, ngƣời hoạch định chính sách, ngƣời
nghiên cứu, quản lý, điều phối các hoạt động…thì NVCTXH cần hỗ trợ,
phối hợp vận động các nguồn lực tài nguyên hỗ trợ họ, xây dựng các
chƣơng trình, kế hoạch hành động giúp đỡ họ và cung cấp cho PNNĐT và
ngƣời nhà họ các loại dịch vụ hỗ trợ để phát triển.
1.1.5. Khái niệm việc làm
Việc làm là một nhu cầu cơ bản của con ngƣời để đảm bảo đáp ứng

tuần. Thời gian làm việc có thể dao động từ 1 đến 5 tiếng / ngày và không
liên tục.
- Việc làm thêm: Là một công việc không chính thức và không
thƣờng xuyên bên cạnh một công việc chính thức, ổn định.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status