TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ DUNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG
THÔN XÃ TẠ XÁ, HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ
THỌ
HÀ NỘI, NĂM 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG
THÔN XÃ TẠ XÁ, HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ
THỌ
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Dung(21/12/1995)
Lớp
: D9CT1
Hệ
: Đại học chính quy
Cán bộ hướng dẫn : TS. Tiêu Thị Minh Hường
thể, nhân dân và thanh niên xã Tạ Xá, huyện Cẩm Khê, Tỉnh Phú Thọ đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, khảo sát, điều tra để làm
khóa luận.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến bố mẹ và anh-chị những người đã luôn theo sát, giúp đỡ, hỗ trợ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần
trong cuộc sống nhất là trong quá trình tôi làm nghiên cứu khóa luận này.
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, do những hạn chế về
kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để bài khóa luận được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày
tháng
năm
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Dung
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
UBND
Xin đọc là
Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Công tác xã hội
Chuyên môn kỹ thuật
Đại học Quốc gia Hà nội
Tổ chức lao động quốc tế
Lao động Thương binh Và Xã hội
Nghị quyết/Trung ương
Nhân viên công tác xã hội
Phỏng vấn sâu
Quyết định – Thủ tướng
Quyết định- Ngân hàng Nhà nước
Thông tư- Bộ Nông nghiệp phát
triển nông thôn
Thành phố
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
6
DANH MỤC BẢNG
7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
có nhiều chủ trương, chính sách trong lĩnh vực dạy nghề, giải quyết việc làm
cho thanh niên nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng.Số liệu thống kê
của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh từ năm 2008 đến
2015, đã có gần 6,4 triệu lượt thanh niên được tư vấn, truyền thông về nghề
nghiệp, việc làm. Với sự quan tâm đầu tư đúng mức đối với các hoạt động tư
vấn, định hướng nghề nghiệp việc làm đối với thanh niên. Đoàn thanh niên
các địa phương đã phối hợp chặt chẽ với ngành lao động tổ chức tốt các hoạt
động truyền thông tuyên truyền về chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm,
xuất khẩu lao động tới thanh niên và xã hội thông qua việc tổ chức nhiều nội
dung, hoạt động cụ thể, như: Ngày hội việc làm, Ngày hội tư vấn vay vốn từ
Ngân hàng chính sách xã hội, các sàn giao dịch việc làm… Các tỉnh đoàn,
thành đoàn, như: Vĩnh Phúc, Phú Thọ ,Hải Dương, TP.Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Phú Yên, Cần Thơ, Quảng Nam... đã triển khai tốt việc phát triển và
duy trì hoạt động của các điểm tư vấn và giới thiệu việc làm cho thanh niên
tại các cơ sở Đoàn. Mô hình câu lạc bộ “Thanh niên giúp nhau lập nghiệp”,
10
“Hợp tác xã thanh niên”, “Trang trại trẻ”… đã được tổ chức Đoàn đẩy mạnh
thực hiện tại các địa phương…
Để hoạt động hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn đạt được kết quả
tốt nhất, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để thanh niên phát huy giá trị
bản thân, đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội, thì điều cần thiết là cần
phải có sự tham gia, góp sức của rất nhiều các ban ngành, đoàn thể và toàn xã
hội trong đó có sự tham gia quan trọng của công tác xã hội, một ngành khoa
học ứng dụng luôn hướng tới những con người yếu thế, gặp khó khăn trong
cuộc sống, trong đó có nhóm thanh niên nông thôn gặp khó khăn trong vấn đề
việc làm.
Xã Tạ xá, Huyện Cẩm khê, Tỉnh Phú Thọ là một xã trung du miền núi,
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Việc làm là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm
lớn của nhiều quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho người đọc
những cái nhìn đa chiều về lao động việc làm nói chung. Đáng chú ý có:
ILO (Tổ chức lao động quốc tế) đã tiến hành nghiên cứu vấn đề an sinh
xã hội của 10 nước công nghiệp. Họ chỉ ra rằng, một bộ phận dân cư nhất là
vùng nông thôn lâm vào tình trạng thất nghiệp nên bị ngừng hoặc giảm đáng
kể về thu nhập. ILO cũng đưa ra những tiêu chuẩn của an sinh xã hội trong đó
có trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp tai nạn nghề nghiệp.
Ở Trung Quốc, những nhà nghiên cứu như Hồ Hiếu Nghĩa, Lý Bồi Lâm,
Lý Cường, Mã Nhung đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu để thực hiện
sự ổn định xã hội hài hòa. Vấn đề việc làm và việc nông dân Trung Quốc phải
đi làm thuê ở Trung Quốc đang nổi lên, có thể thấy được tình cảnh này trong
cuốn sách “Đảm bảo xã hội với người nông dân làm thuê ở thành phố” (NXB.
Quản trị kinh tế - 2004), “Việc làm và an sinh xã hội: Bài toán khó trong thế
kỷ mới” (NXB. Nhân dân Vân Nam - 2000).
Trong cộng đồng châu Âu, người ta thường đề cập tới sự “tách biệt xã
hội”. Nhiều nhà nghiên cứu đã đi vào ba vấn đề cơ bản của “tách biệt xã hội”:
kinh tế, chính trị, văn hóa. Xét về kinh tế, người bị coi là “tách biệt xã hội” là
những ai gặp khó khăn về việc làm, thu nhập, giảm sút, lâm vào cảnh nghèo
túng. Việc làm là một khía cạnh của sự tách biệt kinh tế, thiếu việc làm sẽ có
ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ gia đình, làm hạn chế khả năng tiếp
cận hàng hóa và dịch vụ tối thiểu của từng gia đình.
2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ngày 9/3/2011, Nguyễn Thanh viết “Vấn đề giải quyết việc làm cho
thanh niên hiện nay” trên báo “Nhân đạo và đời sống” đã đề cập đến tình hình
lao động, nghề nghiệp của thanh niên giai đoạn 2000 – 2006 sau đó đã đưa ra
các giải pháp nhằm giải quyết vến đề việc làm cho thanh niên. Trong các giải
pháp đã đưa ra, bài báo nhấn mạnh đến phát huy vai trò xung kích của tổ chức
niên tại xã Tạ xá, huyện Cẩm khê, tỉnh Phú thọ.
Đánh giá chung về mức độ tiếp cận với hoạt động công tác xã hội trong
hỗ trợ việc làm của thanh niên xã Tạ xá, huyện Cẩm khê, tỉnh Phú thọ.
Tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong
hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Tạ xá, huyện Cẩm khê, tỉnh
Phú thọ.
Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp, mô hình nhằm nâng cao chất lượng
của hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm cho thanh niên tại xã
Tạ xá, huyện Cẩm khê, tỉnh Phú thọ.
4.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm nhiệm vụ nghiên cứu các hoạt động công tác xã hội trong hỗ
trợ việc làm cho thanh niên nông thôn đang được triển khai tại xã Tạ xá,
huyện Cẩm khê, tỉnh Phú thọ. Đồng thời đánh giá được chất lượng cũng như
hiệu quả của các hoạt động này để từ đó đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp
13
cho hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho thanh niên tại xã Tạ
xá, huyện Cẩm khê, tỉnh Phú thọ
5.
Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn
6.
Khách thể nghiên cứu
Các văn bản quy phạm pháp luật vềlaođộng việc làm cho đối tượng
thanh niên, quyền và nghĩa vụ của thanh niên, giáo dục đào tạo nghề.
Các báo cáo về tình hình thực hiện công tác hỗ trợ việc làm cho lao động
hằng năm trên địa bàn xã, huyện.
14
8.1.1.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với 50 thanh niên (không còn đi học)
tại xã Tạ xá, huyện Cẩm khê, tỉnh Phú thọ. Với phương pháp này, nhằm mục
đích tìm hiểu, thuthập thông tin chung về về thực trạng việc làm của thanh
niên trong xã, thực trạng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm
cho thanh niên.
8.1.2.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại giữa nhà nghiên cứu và người
cung cấp thông tin nhằm mục đích thu thập thông tin cho quá trình nghiên
cứu.
Phỏng vấn sâu với lãnh đạo xã, cán bộ chính sách xã hội, cán bộ Đoàn
Thanh Niên nhằm mục đích tìm hiểu thêm về những chính sách , những biện
pháp, mô hình của Nhà nước và địa phương trong việc hỗtrợ việc làm cho
thanh niên.
Phỏng vấn sâu vớithanh niên nhằm mục đích tìm hiểu sâu về những
mong muốn, nguyện vọng cũng như nhu cầu của họ về việc làm cũng như hỗ
trợ việc làm.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho thanh
niên nông thôn tại Xã Tạ xá, Huyện Cẩm khê, Tỉnh Phú thọ
Chương 3: Kết luận, Kiến nghị và Giải pháp
16
PHẦN NỘI DUNG CỤ THỂ
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho
Thanh niên nông thôn
1.1.
1.1.1.
Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm Công tác xã hội
Có nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở các góc độ khác nhau: Theo
từ điển nghành Công tác xã hội(1995) có ghi “Công tác xã hội là một khoa
học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tao ra
những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”.
Tại Đại hội Liên đoàn Công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế ở Canada
năm 2004, Công tác xã hội được khẳng định là một hoạt động chuyên nghiệp
nhằm tạo ra sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình
giải quyết các vấn đề xã hội(vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào
quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình
và cộng đồng. Công tác xã hội giúp cho con người phát triển hài hòa và đem
lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân.
Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH ) có tên
viết tắt là NASW: Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá
nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ
để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp
nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp
ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường
xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm cá nhân, gia đình, cộng
đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh
xã hội [3,tr 19].
1.1.2.
Khái niệm việc làm
Việc làm là một trong những hoạt động không thể thiếu trong đời sống
của con người, đảm bảo cuộc sống của con người, bên cạnh đó giúp con
người phát triển toàn diện về mọi mặt.
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất
nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì?”. Và ở các quốc gia khác
nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật
pháp…) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không
có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Ở Việt Nam, theo bộ luật Lao động, Điều 13: “Mọi hoạt động tạo ra thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [12]. Khái
niệm này đã khắc phục được quan điểm cũ cho rằng, chỉ những việc việc làm
được nhận lương, những việc làm trong khu vực Nhà nước mới được coi là
việc làm. Lao động tạo ra nguồn thu nhập không chỉ trong khu vực kinh tế
quốc doanh mà cả khu vực ngoài quốc doanh và trong gia đình cũng đều được
coi là việc làm.
18
Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:
+ Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho
công việc đó.
làm ổn định).
19
Khái niệm thất nghiệp (không có việc làm):Người thất nghiệp là người
trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm, có khả năng lao động, hay
nói cách khác là sẵn sàng làm việc và đang đi tìm việc làm.[6]
Một người lao động được coi là thất nghiệp nếu trong tuần lễ trước điều
tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm kiếm việc làm.
Thất nghiệp được chia thành nhiều loại:
Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao
động giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc
sống.
Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao
động, việc làm .Sự không ăn khớp giữa số lượng và chất lượng đào tạo và cơ
cấu về yêu cầu của việc làm, mất cân đối giữa cung và cầu lao động.
Thất nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và
không ổn định. Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động
cao sẽ xảy ra thất nghiệp chu kỳ.
Khái niệm thiếu việc làm:Thiếu việc làm là những việc làm không tạo
điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quĩ thời gian lao động,
mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành
việc làm không đầy đủ là người thiếu việc làm.[6]
Theo tổ chức lao động thế giới (Viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu việc
làm được biểu hiện dưới hai dạng sau:
Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời
gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ
năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng
suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu
1.1.4.1.
Khái niệm Thanh niên,Thanh niên nông thôn
Khái niệm Thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều
cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá
mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Từ góc độ pháp luật: Theo điều 1, Luật Thanh niên năm 2005 thì Thanh
niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi.[12]
Từ góc độ xã hội học: Tiếp cận từ góc độ xã hội học - dân cư có thể định
nghĩa thanh niên là một bộ phận phức hợp của dân cư của một quốc gia - dân
tộc bao gồm tất cả các cá thể ở trong độ tuổi từ 15 đến 29. Như vậy, bộ phận
dân cư được gọi là “thanh niên” này chỉ phân biệt một cách tương đối với các
bộ phận dân cư khác của quốc gia - dân tộc ấy trên một tiêu chílà giới hạn độ
tuổi. Tuy nhiên, ngoài tiêu chí độ tuổi, nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” còn
có thể được chia thành các tiểu nhóm khác nhau, như thanh niên thành thị,
thanh niên nông thôn (nếu lấy địa bàn cư trú làm tiêu chí phân biệt), hay
thanh niên công nhân, thanh niên nông dân hoặc thanh niên trí thức (nếu lấy
nghề nghiệp làm tiêu chí phân biệt) v.v... Ngoài ra, các yếu tố khác như tộc
21
người, tôn giáo, giới tính, giàu - nghèo v.v... cũng có thể được coi là tiêu chí
để phân biệt các tiểu nhóm trong nhóm lớn “thanh niên”.
Trong bài viết: Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: một số vấn đề về khái niệm và cách
tiếp cận của PGS.TS Phạm Hồng Tung trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,
Khoa học Xã hội và Nhân văn số 24 (2008) đã viết: Thanh niên là một nhóm
xã hội dân cư có tính phức hợp (hetrogenousness) rất cao, hàm chứa trong đó
nhiều sự đa dạng (diversities) về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa bàn cư
nhau, giữa các thành phần của thế giới. Nhờ đó thanh niên bắt đầu biết liên
kết các tri thức riêng lẻ lại với nhau để tạo nên một biểu tượng chungvề thế
giới cho riêng mình.
Để chuẩn bị bước vào đời, thanh niên thường trăn trở với các câu hỏi về
ý nghĩa và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu
quả, về lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và ý nghĩa…Để giải đáp các câu
hỏi này, khả năng nhận thức, đánh giá, cũng như khả năng thực tiễn của mỗi
cá nhân rất khác nhau, thể hiện rõ khoảng cách giữa sự phát triển tự phát và
sự phát triển có hướng dẫn . Ở nước ta hiện nay, khi mà các giá trị xã hội có
nhiều biến chuyển, không ít thanh niên chưa xác định được được giá trị, ý
nghĩa cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ nét. Hiện tượng này
tồn tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thanh
niên chưa chín muồi mà quan trọng hơn là do những khiếm khuyết trong giáo
dục ở nhà trường, gia đình và xã hội. Thanh niên nông thôn, với những hạn
chế, khó khăn trong tiếp cận giáo dục, thông tin nên vấn đề định hướng nghề
nghiệp, xác định mục tiêu, lên kế hoạch cho tương lai của họ còn nhiều hạn
chế. Xã hội nông thôn còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, nhiều
vùng kinh tế lại dựa quá nhiều vào điều kiện tự nhiên. Nên một bộ phận thanh
24
niên nông thôn còn tồn tại cách suy nghĩ lạc hậu, có tư tưởng ỉ lại, thụ động,
không dám đột phá, không đầu tư thời gian cho việc học văn hóa, học nghề,
tin học, ngoại ngữ, không dám thoát ly gia đình đi làm xa, thanh niên nông
thôn thường xây dựng gia đình sớm, thời gian lao động ở nông thôn thường
theo mùa vụ có nhiều thời gian rảnh rỗi thường tụ tập chơi bời, la cà nhậu
nhẹt, tính kỷ luật trong lao động không cao.
Đặc điểm về trình độ học vấn: Kết quả điều tra vềlao động và việc
làm,cho thấy trình độ học vấn của thanh niên trong những năm gần đây tăng
nhanh. Số thanh niên nông thôn được theo học và tốt nghiệp trung học phổ