Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện tân yên, tỉnh bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = = =  = = = =

GIÁP ĐÌNH GIANG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 29 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Giáp Đình Giang Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của
bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình của các thầy, cô giáo trong bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, khoa Kinh tế & Phát
triển nông thôn, Ban Quản lý đào tạo – Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là
sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan đã trực tiếp

1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Đối tượng nghiên cứu 3
1.4. Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1. Phạm vi về nội dung 3
1.4.2. Phạm vi về không gian 3
1.4.3. Phạm vi về thời gian 3
1.4.4. Câu hỏi nghiên cứu 4
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1. Cơ sở lý luận 5
2.1.1. Các khái niệm liên quan 5
2.1.2. Đặc điểm của thanh niên nông thôn, cung - cầu lao động thanh niên tác
động đến giải quyết việc làm 16
2.1.3. Chủ thể và nội dung, phương thức giải quyết việc làm 18
2.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động thanh
niên nông thôn 24
2.2. Cơ sở thực tiễn 28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

2.2.1. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho thanh niên trên thế giới 28
2.2.2. Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước 30
2.2.3 Bài học kinh nghiệm giải quyết việc làm vận dụng đối với huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang 33
2.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được công bố 34
PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 39
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 45
3.2. Phương pháp nghiên cứu 46

4.4.1. Nâng cao chất lượng lao động TNTN 102
4.4.2. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, tư vấn, hướng nghiệp, giới
thiệu việc làm cho lao động TNNT 105
4.4.3. Tăng cường việc thực thi có hiệu quả các chính sách hỗ trợ cho lao động
TNNT giải quyết việc làm 107
4.4.4. Quản lý chặt chẽ việc thực hiện các chế độ đối với người lao động của
các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động
TNNT 110
4.4.5. Khôi phục phát triển nghề truyền thống và dạy nghề mới cho thanh niên
nông thôn 110
4.4.6. Phát triển kinh tế hộ gia đình, mô hình kinh tế tập thể 111
4.4.7. Tạo việc làm cho thanh niên thông qua quỹ quốc gia, tín dụng giải quyết
việc làm 111
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 113
5.1. Kết luận 113
5.2. Khuyến nghị 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 116
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

BQ Bình quân
CN – TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CSXH Ngân hàng Chính sách xã hội
DN Doanh nghiệp
DVVL Dịch vụ việc làm
GQVL Giải quyết việc làm

3.4 Mô tả mẫu điều tra các đối tượng 48
4.1 Cơ cấu lao động phân theo độ tuổi và giới tính huyện Tân Yên giai đoạn
2012 – 2014 50
4.2 Lực lượng lao động của huyện Tân Yên phân theo độ tuổi, nhóm ngành
giai đoạn 2012 - 2014 53
4.3 Lực lượng lao động của huyện Tân Yên chia theo nhóm hộ và tình trạng
việc làm giai đoạn 2012 – 2014 55
4.4 Quy mô, cơ cấu lao động thanh niên nông thôn huyện Tân Yên giai đoạn
2012 – 2014 56
4.5 Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thanh niên
nông thôn huyện Tân Yên giai đoạn 2012 – 2014 57
4.6 Tình hình thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên nông thôn huyện
Tân Yên giai đoạn 2012 - 2014 59
4.7 Giải quyết việc làm từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, nguồn vốn vay ủy
thác, tín dụng cho TNNT huyện Tân Yên giai đoạn 2012 - 2014 62
4.8 Kết quả tư vấn, đào tạo và tập huấn nghề nghiệp, kỹ thuật cho TNNT
huyện Tân Yên giai đoạn 2012 - 2014 65
4.9 TNNT tham gia XKLĐ huyện Tân Yên giai đoạn 2012 – 2014 68
4.10 Một số thông tin cơ bản về các đối tượng được điều tra 69
4.11 Thông tin biến động việc làm của các đối tượng được điều tra 71
4.12 Tình hình giải quyết việc làm của các đối tượng được điều tra 73
4.13 Đặc điểm công việc của lao động TNNT huyện Tân Yên 74
4.14 Các kênh tiếp cận việc làm của lao động TNNT huyện Tân Yên. 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix

4.15 Các hình thức giao dịch của lao động TNNT huyện Tân Yên 77
4.16 Các hướng tiếp cận việc làm chủ yếu của lao động TNNT huyện Tân Yên 80
4.17 Nhu cầu tiếp cận ngành nghề của lao động TNNT huyện Tân Yên 82
4.18 Một số khó khăn chính khi giải quyết việc làm của lao động TNNT

4.4 Tỷ lệ lao động TNNT tự tạo việc làm vay được các nguồn vốn ưu đãi tại
huyện Tân Yên 101

DANH MỤC HỘP

STT Tên hộp Trang

4.1 Muốn tuyển nhưng lao động không có trình độ, doanh nghiệp không có đủ
kinh phí để đào tạo 90
4.2 Kinh phí đào tạo ít, không thể tính đến nhu cầu thị trường 100
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi
quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn
như Việt Nam; giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị
trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận
dụng lợi thế để phát triển, theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ
trương, đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm

trường Đại học, sau khi tốt nghiệp Đại học, Cao Đẳng họ cũng không muốn về
nông thôn làm việc mà tìm kiếm việc làm tại thành thị, họ chưa tha thiết với sản
xuất, công tác tại nông thôn và tham gia học nghề, dẫn đến thiếu hụt một lực lượng
lớn thanh niên tại các vùng nông thôn để tham gia các hoạt động sản xuất kinh
doanh, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hoá làng
quê nông thôn Việt Nam; làm mất cân bằng cơ cấu giữa Đại học và học nghề. Như
vậy vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn đang là vấn
đề nhức nhối của nước ta hiện nay.
Huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang là một huyện thuần nông, đời sống của nông
dân phụ thuộc vào nông nghiệp là chính, nhu cầu tìm việc làm luôn là vấn đề cấp
bách được các cấp các ngành và các tổ chức trong huyện quan tâm hàng đầu. Theo
số liệu thống kê của Chi cục Thống kê huyện (2013), hiện nay toàn huyện có 78.251
người trong độ tuổi lao động, lao động thanh niên chiếm 39,7% trên tổng số lao
động trong độ tuổi, số thanh niên có việc làm ổn định chỉ chiếm 9,68%. Mặt khác,
diện tích đất nông nghiệp ngày một hạn hẹp do quá trình đô thị hóa và xây dựng các
khu, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện làm một bộ phận thanh niên mất việc làm,
dẫn đến việc làm của thanh niên trong huyện ngày càng gặp nhiều khó khăn. Để
thấy rõ được thực trạng tìm việc làm cho thanh niên nông thôn, những nguyên nhân
dẫn đến thực trạng đó và cần phải làm gì để giải quyết tốt việc làm cho thanh niên
nông thôn trên địa bàn huyện, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải quyết việc làm
cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

1.2. Mục tiêu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa
bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng
cao hiệu quả giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trong điều kiện cụ thể
của địa phương đến năm 2020.

1.4.4. Câu hỏi nghiên cứu
- Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn bao gồm những vấn đề gì?
Các nhân tố ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn?
- Vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tại huyện Tân Yên
đã thực hiện như thế nào?
- Những nhân tố gì ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho thanh niên nông
thôn huyện Tân Yên?
- Cần thực hiện những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả giải quyết việc
làm cho thanh niên nông thôn phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương trong
thời gian tiếp theo?

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về thanh niên, thanh niên nông thôn và vai trò của thanh niên
trong phát triển kinh tế - xã hội.
* Thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo các cách
khác nhau, tùy thuộc vào nội dung và góc độ nhìn nhận, hoặc cấp độ đánh giá mà
người ta đưa ra định nghĩa khác nhau về thanh niên. (Luật Thanh Niên, 2005)
Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm
lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác.
Từ góc độ xã hội học, thanh niên lại được nhìn nhận là một giai đoạn xã
hội hóa – thời kỳ kết thúc giai đoạn tuổi thơ phụ thuộc, chuyển sang xác lập vai
trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tư cách đầy đủ của một công dân, là

nông thôn cũng trực tiếp gắn với nông nghiệp và sản phẩm là nông nghiệp. Trong
khi đó, đặc trưng của sản xuất nông nghiệp, nhất là ở các nước có nền kinh tế
chậm phát triển và trình độ khoa học thấp, còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Vì vậy, so với các nhóm thanh niên lao động trong các lĩnh vực công nghiệp và
dịch vụ khác, thanh niên nông thôn thường có trình độ học vấn phổ thông và vốn
hiểu biết khoa học kỹ thuật thấp hơn, các kỹ năng lao động cơ bắp nhiều hơn lao
động trí óc. (Ngụy Văn Tuyên, 2013)
Thứ hai: Thanh niên nông thôn là những người sinh sống ở vùng nông
thôn, hầu hết trong số đó là những người sinh ra và lớn lên trong các làng quê,
phạm vi tiếp xúc xã hội thường giới hạn trong các quan hệ làng xóm, ít mở ra xã
hội rộng lớn. Vì vậy họ chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường sống văn hoá
– xã hội nông thôn, đặc biệt là các phong tục, tập quán, lối sống cộng đồng nông
thôn. Do vậy, các đặc trưng tâm lý nông dân sớm được hình thành và ổn định
trong tầng lớp thanh niên nông thôn.
Trước đây và hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp – nông
thôn. Vì vậy, lực lượng chủ yếu trong thanh niên là thanh niên nông thôn, đồng
thời họ cũng là lao động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất ở nông thôn. Do sự phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

triển của khoa học hiện nay, do thành quả của sự nghiệp xây dựng và phát triển
nông thôn mới, trình độ học vấn phổ thông và nghề nghiệp của tầng lớp thanh
niên nông thôn được nâng cao hơn so với trước đây. Tuy nhiên, do yêu cầu của
sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nên đa số thanh niên nông thôn có
nhu cầu được học tập, đào tạo, bồi dưỡng về nghề nghiệp, kiến thức, xã hội để
nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống của mình và góp phần xây dựng
quê hương giàu đẹp. Đây là những nhu cầu chính đáng của tầng lớp thanh niên
nông thôn mới, cần phải được đáp ứng (Ngụy Văn Tuyên, 2013).
* Vai trò của thanh niên trong phát triển kinh tế - xã hội
Thanh niên là "rường cột của nước nhà", "chủ nhân tương lai của đất nước"

nghĩa Việt Nam chỉ rõ: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Như vậy, theo Bộ luật này, những
hoạt động được gọi là việc làm phải thoả mãn hai tiêu chí cơ bản:
Thứ nhất, hoạt động đó phải là hoạt động có ích và phải tạo ra thu nhập
một cách trực tiếp cho cá nhân người lao động hoặc tạo ra thu nhập gián tiếp cho
gia đình và xã hội.
Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính
pháp lý của việc làm, được pháp luật bảo hộ.
Như vậy, quan niệm về việc làm của pháp luật Việt Nam rõ ràng hơn so
với quan niệm của tổ chức ILO. Hoạt động có ích, hợp pháp tạo ra thu nhập
không giới hạn về phạm vi, ngành nghề, được coi là việc làm. Điều này hoàn
toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam trong quá trình
đổi mới và hội nhập. Với tính chất pháp lý của “việc làm”, người lao động được
đặt vào vị trí chủ thể, họ có quyền tự do tìm việc làm, thuê lao động, tự do kinh
doanh trong khuôn khổ pháp luật.
Hai điều kiện trên có quan hệ mật thiết với nhau, là điều kiện cần và đủ để
một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Theo đó, nếu một hoạt động tạo ra thu
nhập nhưng bị pháp luật cấm như: buôn bán trái phép chất ma tuý, buôn bán phụ
nữ và trẻ em qua biên giới, hành nghề mại dâm … thì không được thừa nhận là
việc làm. Ngược lại, một hoạt động có ích, tuân thủ đúng pháp luật nhưng không
tạo ra thu nhập như: hoạt động cứu trợ nhân đạo, từ thiện cũng không được gọi là
việc làm có gắn với thu nhập.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

Quan niệm về việc làm cho thanh niên cũng không tách khỏi quan niệm
chung về việc làm. Tuy nhiên, với tư cách là một lực lượng lao động đặc thù về
thể chất và tâm lý, việc làm cho thanh niên nhấn mạnh đến sự phù hợp của công
việc với thể chất và tâm lý của lao động thanh niên, trong đó có tính đến xu

sức lao động và những người không có nhu cầu tìm việc làm.
Khái niệm “lực lượng lao động” được sử dụng ở Việt Nam có khác so với
khái niệm lực lượng lao động trên đây. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, “lực
lượng lao động” (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) là những người từ 15 tuổi
trở lên đang làm việc và có thu nhập từ việc làm đó”. Như vậy lực lượng lao
động bao gồm cả những người trên 60 tuổi (đối với nam) và trên 55 tuổi (đối với
nữ) hiện đang làm việc và có thu nhập từ việc làm đó. Những người thất nghiệp
không thuộc lực lượng lao động. Trong khi đó, khái niệm “lực lượng lao động xã
hội” bao gồm cả những người có việc làm và những người thất nghiệp.
Khái niệm “lực lượng lao động xã hội” trùng với khái niệm “lực lượng lao
động trong độ tuổi” được sử dụng trong các cuộc tổng điều tra dân số và việc làm
của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2013). Theo Tổng cục này, “lực lượng lao
động trong độ tuổi lao động” là những người từ 15 đến 60 tuổi (đối với nam) và
từ 15 đến 55 tuổi (đối với nữ) đang làm việc hoặc không có việc làm nhưng có
nhu cầu tìm việc làm.
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam qui định về những người ngoài lực
lượng lao động cũng giống như các nước khác. Theo đó, dân số trong độ tuổi lao
động nhưng không làm việc do không có nhu cầu tìm việc làm không thuộc
những người thất nghiệp. Đó là: học sinh, sinh viên đang học tại các trường,
những người làm nội trợ trong gia đình, những người tàn tật, người mắc bệnh
không có khả năng lao động, người nghỉ hưu đang hưởng lương của bảo hiểm xã
hội, người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu tìm việc làm.
Thất nghiệp là một trong những vấn đề trọng tâm của kinh tế học hiện đại.
Thất nghiệp gia tăng sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực, làm chậm tốc độ tăng
trưởng kinh tế, đe doạ sự tăng trưởng bền vững và ảnh hưởng tiêu cực về mặt xã
hội. Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (2013) đã xây dựng một định nghĩa chung
cho tất cả các nước, tạo tiền đề vững chắc cho sự so sánh. Theo đó, thất nghiệp
được tính bằng số người đang tìm việc tích cực trong vòng 4 tuần qua và có thể
nhận một việc làm ngay lập tức (trong vòng 2 tuần). Nhóm này cũng bao gồm
các sinh viên chính quy đang tìm việc làm một cách tích cực và có thể tiếp nhận

cầu và quy luật cạnh tranh trên thị trường lao động. Các quy luật này có khả năng
điều tiết việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực lao động của xã hội. Kinh tế thị
trường có mặt tích cực là bảo đảm quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

động và chọn người làm việc của người sử dụng lao động, kích thích tính tích
cực, năng động, sáng tạo của cả hai chủ thể này, điều chỉnh một cách linh hoạt
nhu cầu lao động xã hội. Tuy nhiên, mặt tiêu cực của cơ chế này là tạo ra sự cạnh
tranh khốc liệt trên thị trường lao động, dễ dàng loại bỏ những đối tượng yếu thế
như: người khuyết tật, người dân tộc thiểu số thiếu kiến thức, kỹ năng, chủ sản
xuất kinh doanh nhỏ tiềm lực yếu… càng khoét sâu khoảng cách phân hoá giàu
nghèo trong xã hội.
Giải quyết việc làm cho người lao động là việc tạo cho người lao động từ
chỗ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, việc làm không đầy đủ trở thành người có
việc làm và có thu nhập từ việc làm đó. Có thể phân tích một số khía cạnh liên
quan đến giải quyết việc làm như sau:
Giải quyết việc làm là tạo ra chỗ làm việc mới cho người lao động có nhu
cầu về việc làm và có khả năng đáp ứng yêu cầu của việc làm đó. Khi người lao
động hội tụ đủ những điều kiện này, họ tham gia làm việc và có thu nhập từ việc
làm đó. (Nguyễn Thị Kim Ngân, 2009)
Giải quyết việc làm là hỗ trợ người lao động tìm được việc làm phù hợp
với nhu cầu và khả năng của họ như: cung cấp thông tin về cơ hội việc làm, hỗ
trợ đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho người lao động, tổ chức ngày hội hoặc
các sàn giao dịch việc làm để người lao động gặp gỡ người sử dụng lao động
(Chu Tiến Quang,2001)
Giải quyết việc làm còn là khuyến khích, tạo điều kiện cho người lao động
tự tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm phù hợp với điều kiện, với khả năng và trình
độ của bản thân.
Giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, những người

Thứ nhất, giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn là tổng thể các mô
hình, phương thức, biện pháp tạo ra chỗ làm việc trong các lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ ở cả nông thôn và đô thị gắn với đào tạo nghề phù hợp với lứa tuổi,
trình độ học vấn, sức khỏe của thanh niên và thu hút họ vào làm việc nhằm đem lại
thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Ở độ tuổi từ 16 đến 30, thanh niên đang
trong giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhân cách.
Thanh niên có thể được đào tạo nghề hoặc chưa qua đào tạo, do đó trình độ và tay
nghề cũng chưa ổn định. Giải quyết việc làm cho lao động thanh niên phải quan
tâm đến sự phù hợp này, phải tính đến khả năng phát triển của thanh niên trong
tương lai cả về thể chất, trí tuệ và tâm lý.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

Bộ Luật Lao động đã dành riêng Chương XI, mục I để quy định về “lao
động chưa thành niên”. Điều 119 của Bộ luật này chỉ rõ: “Người lao động chưa
thành niên là người dưới 18 tuổi”. Như vậy, một bộ phận thanh niên từ 16 đến
dưới 18 tuổi được xếp vào đối tượng lao động chưa thành niên. Điều 121 của Bộ
luật này nhấn mạnh:
Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động chưa thành niên vào
những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực,
nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên
về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động. Cấm
sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm
hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động, Thương binh
& Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
Thứ hai, giải quyết việc làm cho thanh niên phải tính đến yếu tố gia nhập
thị trường lao động thường xuyên, liên tục của lực lượng này hàng năm. Vấn đề
này nếu không được tính toán đầy đủ, cộng với một tỷ lệ lao động thất nghiệp do
mất việc làm và một lượng lao động chưa tìm được việc làm hàng năm sẽ tạo áp
lực lớn về giải quyết việc làm cho người lao động của Nhà nước và xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status