VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ THỦY LAN
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO
ĐƠN THÂN NUÔI CON TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình đƣợc hoàn thành tại Học viện Khoa
học Xã hội Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS. TS. LÊ THỊ QUÝ
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Đức Sơn
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình
Luận văn đã đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thƣ viện Học viện Khoa học xã hội
diện và có hệ thống về lĩnh vực trợ giúp cho đối tƣợng là phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con dƣới góc nhìn và phƣơng pháp tiếp cận của
ngành Công tác xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực trạng về công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi
con. Các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con tại đây. Vận dụng phƣơng pháp công tác xã hội cá
nhân với một trƣờng hợp cụ thể để từ đó đƣa ra các khuyến nghị về
công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con từ thực tiễn
tỉnh Điện Biên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về phụ nữ đơn thân qua các tài liệu
thứ cấp.
- Phân tích thực trạng và những khó khăn gặp phải của phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con trên trên địa bàn tỉnh Điện Biên thông qua điều
tra xã hội học 37 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con tại xã Thanh Chăn, huyện
Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đƣa ra các khuyến nghị, giải pháp CTXH thông qua mô hình
cá nhân trong hỗ trợ giải quyết những vấn đề và khó khăn của phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con. Hỗ trợ, tham vấn tâm lý và kết nối với nguồn
lực cộng đồng để thân chủ lấy lại sự tự tin, có nghị lực sống và hòa nhập
cộng đồng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con từ
động công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con và có những
đóng góp mới sau đây:
3
- Vận dụng cơ sở lý luận và những đặc điểm của hoạt động
công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng hoạt động công
tác xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
- Đƣa ra các khuyến nghị góp phần hoàn thiện công tác xã hội
cá nhân và từ đó nâng cao nhận thức của xã hội đối với phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con. Góp phần giúp chính quyền địa phƣơng, cán bộ,
đoàn thể và bản thân PNNĐTNC nhận ra đƣợc vấn đề của mình và
các giải pháp, trong đó có công tác xã hội để giúp cải thiện tình hình.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung nhận
thức lý luận về thực hiện pháp luật cho tác giả và đề xuất những giải
pháp phù hợp trong quá trình hoạch định chính sách, triển khai chính
sách, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực
phụ nữ nói chung, phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nói riêng.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, biểu; danh
mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Phƣơng pháp luận và lý thuyết áp dụng
Chƣơng 2: Thực trạng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con tại tỉnh
Điện Biên
Chƣơng 3: Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con.
4
5
tƣợng yếu thế nói riêng và đặc biệt nhấn mạnh đến nhóm phụ nữ yếu
thế trong cộng đồng.
3. Các lý thuyết vận dụng trong luận văn
3.1. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
* Nhu cầu cơ bản
* Nhu cầu về an toàn, an ninh
* Nhu cầu về xã hội
* Nhu cầu đƣợc quý trọng
* Nhu cầu đƣợc thể hiện mình
Vận dụng lý thuyết: Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa
quan trọng trong việc hỗ trợ đối tƣợng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi
con:
Thứ nhất: Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con có đủ 5 thang bậc
nhu cầu giống nhƣ ngƣời bình thƣờng, nhƣng do hoàn cảnh đặc biệt
của họ nên các nhu cầu đó không đƣợc thực hiện đầy đủ.
Thứ hai: Việc đáp ứng các nhu cầu của con ngƣời chính là
động cơ thúc đẩy họ tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội.
Nếu không đáp ứng các nhu cầu của con ngƣời thì họ cũng mất dần
động cơ tham gia đóng góp cho xã hội.
Thứ ba: Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp cho các hỗ trợ giảm chi
phí và tăng hiệu quả khi tránh đƣợc các dƣ thừa hay không đầy đủ khi trợ
giúp cho thân chủ.
3.2. Lý thuyết hệ thống - sinh thái
Vận dụng lý thuyết: Trong việc tìm hiểu các vấn đề của phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con thì lý thuyết này đƣợc ứng dụng vào việc rà
soát, đánh giá các chính sách, các mối quan hệ xã hội, các nguồn lực
hỗ trợ bên trong và bên ngoài cho thân chủ nhằm lý giải và đánh giá
tuổi 13 thƣờng bị bố mẹ cho thôi học và lấy chồng để giảm chi phí
học tập, tăng sức sản xuất lao động, thu nhập cho gia đình. Không chỉ
những gia đình có con gái mà ngay cả những gia đình có con trai khi
thấy con trai ở độ tuổi 15, 16 tuổi có kết quả học tập không tốt, một
phần vì điều kiện kinh tế gia đình không đảm bảo cho việc học tập,
họ cũng buộc cho con thôi học và lấy vợ.
8
2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nghiên cứu tại xã Thanh Chăn, huyện
Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con tại xã Thanh Chăn là 37
ngƣời đều thuộc hộ nghèo và cận nghèo và là phụ nữ dân tộc thiểu
số. Công việc chính mang lại thu nhập đều là sản xuất nông nghiệp,
làm thêm theo thời vụ, dệt thổ cẩm và thêu thuê.
* Các chương trình hỗ trợ về mặt chính sách
- Nghị định 136/2013/NĐ – CP ngày 21/10/2013 quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tƣợng bảo trợ xã hội
- Hỗ trợ tiền điện là 49.000 đồng/tháng
- Hỗ trợ sản xuất, hƣởng BHYT 100% khi đi khám chữa bệnh,
hỗ trợ dạy nghề theo Quyết định số 1956/QĐ – TTg của Thủ tƣớng
Chính phủ, miễn giảm học phí cho con gia đình nghèo.
* Các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình cho phụ
nữ nghèo đơn thân nuôi con
- Chƣơng trình hỗ trợ hộ nghèo vay vốn làm nhà ở theo Quyết
định số 33/2015/QĐ – TTg của Thủ tƣớng chính phủ.
- Chƣơng trình vay vốn “nƣớc sạch”, mỗi chị em đƣợc hỗ trợ
vay từ 8 – 10 triệu đồng.
18
48,6 %
THPT
6
16,2 %
Trung cấp CN, CĐ
0
nghề
Cao đẳng/đại học
0
Trên đại học
0
2.2.3. Đời sống tinh thần và đặc điểm tâm lý của phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con
* Đời sống văn hóa tinh thần
*Đặc điểm tâm lý
2.2.4. Tình trạng sức khỏe của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi
con tại xã Thanh Chăn
2.2.6. Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con và những trở ngại
trong việc nuôi dạy con
Thời gian làm việc
STT
Tỷ lệ
1
Từ 3 – 6 tiếng /ngày
0
2
Từ 6 – 8 tiếng/ngày
10.5
3
Từ 8 – 10 tiếng/ngày
60.2
4
Trên 10 tiếng/ngày
CHƢƠNG 3
VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ
NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON
3.1. Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong việc trợ giúp
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con tại xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên
Để có sự kết nối của cộng đồng trong việc trợ giúp đối tƣợng
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con và để phát huy nội lực của những
ngƣời phụ nữ đơn thân nuôi con, giúp họ vƣợt lên chính mình, xóa bỏ
mặc cảm, tự ti thì rất cần vai trò của nhân viên công tác xã hội. Họ
chính là ngƣời tạo ra sự kết nối cộng đồng, trợ giúp nhóm phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con, vƣợt qua khó khăn, vƣơn lên trong cuộc
sống. Chính vì vậy nhu cầu hoạt động của nhân viên công tác xã hội
trong việc trợ giúp nhóm phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con tại xã
Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
3.2. Công tác xã hội cá nhân với một trƣờng hợp cụ thể
3.2.1. Tiếp cận đối tƣợng và xác định vấn đề ban đầu
Từ hồ sơ hộ nghèo tác giả thu thập đƣợc một số thông tin về
thân chủ nhƣ tên tuổi, địa chỉ, hoàn cảnh, mức thu nhập...nhƣ sau:
Họ và tên thân chủ: Lò Thị M. Sinh ngày:18/8/1970
Nghề nghiệp: Nông nghiệp
Con gái: Quàng Thị T. Sinh ngày: 15/5/2005
Thu nhập: 540.000/tháng.
Bằng kỹ năng thấu cảm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giúp thân
chủ trực diện với vấn đề, kỹ năng cung cấp thông tin...đồng thời qua
quan sát và trò chuyện ban đầu NVCTXH nhận thấy đối tƣợng đang gặp
phải một số vấn đề nhƣ sau:
- Vấn đề 1: Thân chủ là ngƣời gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế.
13
Thứ hai: Sự xa lánh, kỳ thị và ánh mắt thiếu cảm thông, chia sẻ
của cộng đồng sẽ khiến cho thân chủ bị cô lập, mặc cảm tự ti mà
chính điều này sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề của thân chủ.
- Tìm hiểu về các nguồn lực:
NVCTXH cùng với thân chủ bàn bạc, thảo luận về các nguồn lực
có thể huy động để giải quyết vấn đề, bao gồm: nội lực (nguồn lực bên
trong từ chính bản thân thân chủ và gia đình), các yếu tố khách quan
(nguồn lực bên ngoài từ sự hỗ trợ của anh em, bạn bè, các tổ chức đoàn
thể và cộng đồng xã hội). Cụ thể nhƣ sau:
Về nội lực:
Nguồn lực để giải quyết vấn đề của thân chủ hầu nhƣ là không
có nhất là về vật chất, về tinh thần thân chủ hầu nhƣ cam chịu và
chấp nhận hoàn cảnh, không có ý chí phấn đấu vƣơn lên trong cuộc
sống.
Về các yếu tố khách quan:
Anh em, họ hàng: chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình
nghèo bố mất sớm mẹ ở vậy nuôi chị rồi bà cũng mất nên chị chẳng
có anh chị em ruột thịt mà nhờ cậy, anh em xa thì xa lánh, không
thông cảm...Vì vậy, chị không nhận đƣợc sự hỗ trợ cả về tinh thần và
vật chất của anh em, họ hàng.
Hàng xóm Đội 1 láng giềng: hàng xóm Đội 1 kỳ thị, xa lánh
nên chị thiếu các mối quan hệ và giao tiếp hàng ngày, hai mẹ con
sống đơn độc thiếu sự sẻ chia, giúp đỡ của láng giềng.
Các tổ chức đoàn thể: đã có những chính sách hỗ trợ cả về
vật chất và tinh thần cho thân chủ. Tuy nhiên, sự trợ giúp đỡ đó chỉ
mang tính tức thời bởi nó gần nhƣ là một hoạt động từ thiện do vậy
nó chƣa khơi dậy tiềm năng và khả năng vƣơn lên giải quyết vấn đề
- Chịu nhiều định kiến xã hội: có con ngoài giá thú, con bị
khuyết tật nên thân chủ luôn trong tâm lý mặc cảm, tự ti...
15
- Chi phí trong chăm sóc con bị khuyết tật bẩm sinh: chi phí
vật chất: (tiền ăn uống, thuốc thang...), chi phí phi vật chất (thời gian
chăm sóc)
Sau khi chẩn đoán xác định đƣợc vấn đề ƣu tiên, tính chất
và những nguyên nhân dẫn đến vấn đề, NVCTXH đã hƣớng dẫn
và cùng thân chủ vẽ sơ đồ phả hệ (biểu đồ thế hệ).
Từ biểu đồ thế hệ và biểu đồ sinh thái của gia đình thân chủ
NVCTXH cùng bàn bạc và thống nhất với thân chủ về một số những
điểm mạnh và điểm yếu của thân chủ.
Sau một tiến trình làm việc cùng với thân chủ, NVCTXH đã
tạo đƣợc mối quan hệ tƣơng đối thân thiết với đối tƣợng. Do vậy,
trong giai đoạn này ngoài việc thu thập thông tin NVCTXH đã
hƣớng dẫn và cùng với thân chủ xác định rõ hơn vấn đề và những
khúc mắc thực sự. Với việc sử dụng các kỹ năng nhƣ: kỹ năng lắng
nghe, quan sát, khuyến khích làm rõ ý, kỹ năng hỏi, thấu cảm, tóm
lƣợc... NVCTXH đã cùng với thân chủ hoàn thành giai đoạn chẩn
đoán vấn đề để bƣớc sang một giai đoạn mới bằng việc hoàn thành
sơ đồ cây vấn đề. Cây vấn đề cho ta thấy:
- Vấn đề mà thân chủ gặp phải đó là đang gặp khó khăn về
kinh tế và khó khăn về tâm lý: mặc cảm tự ti về bản thân và gia đình.
- Những nguyên nhân của vấn đề, trong đó có một số nguyên
nhân chính là: Thiếu điều kiện sản xuất (đất, vốn…); không có công
ăn việc làm; con gái khuyết tật, chi phí chăm sóc cao (vật chất, phi
vật chất); định kiến xã hội; trình độ học vấn thấp: khó áp dụng
KHKT vào sản xuất.
NVCTXH xác định có 2 mục đích trị liệu nhƣ sau:
Thứ nhất: Giúp thân chủ giảm bớt gánh nặng kinh tế, cải thiện
hoàn cảnh sống hiện tại.
17
Thứ hai: Giúp thân chủ vƣợt qua mặc cảm, tự ti và cải thiện
đƣợc các mối quan hệ xã hội đồng thời thay đổi thái độ, hành vi tự
tin, sống có ý chí quyết tâm vƣơn lên trong cuộc sống.
3.2.5. Triển khai kế hoạch
Sau khi hoàn thành kế hoạch cụ thể, NVCTXH cùng với
thân chủ bắt tay vào thực hiện các hoạt động nhƣ kế hoạch đã
định.
-
Giai đoạn thực hiện kế hoạch là giai đoạn tập trung vào
các hoạt động hỗ trợ, trị liệu và triển khai thực hiện hƣớng tới hoàn
thành các mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ đã đƣợc đặt ra ở giai đoạn
trƣớc. Sau khi thống nhất và lập ra kế hoạch hoạt động NVXH cùng
thân chủ với sự giúp đỡ từ các cán bộ địa phƣơng, đội 1 tiến hành
thực hiện kế hoạch.
Các buổi phúc trình làm việc cùng với thân chủ, NVCTXH đều
tập trung vào việc thực hiện các mục tiêu tổng quát trên cơ sở hoàn
thành các mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu thứ nhất: giúp thân chủ giảm bớt gánh nặng kinh
tế, cải thiện hoàn cảnh sống hiện tại.
Hoạt động 1: Ổn định công ăn việc làm cho thân chủ.
Hoạt động 2: Nâng cao trình độ, kinh nghiệm sản xuất cho thân
chủ
- Thân chủ đã mua đƣợc 2 con lợn con trị giá 640.000 để chăn
nuôi.
3.2.7. Kết thúc vấn đề
Đến giai đoạn này, NVCTXH cần nới lỏng mối quan hệ để
thân chủ có thể độc lập, chủ động giải quyết vấn đề để thân chủ
không lệ thuộc vào NVCTXH mà khơi dậy các tiềm năng sẵn có của
thân chủ để thân chủ có thể đứng vững và giải quyết mọi vấn đề. Sau
19
đó, NVCTXH chia tay thân chủ và gia đình. Tuy nhiên, đây là sự
chấm dứt một tiến trình giúp đỡ chứ hoàn toàn không phải là chấm
dứt một mối quan hệ.
3.3. Những bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện tiến trình
CTXHCN với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con tại xã Thanh Chăn huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên
- Với bất kỳ một tiến trình can thiệp nào muốn thực hiện đƣợc
thì cần phải có đƣợc sự hợp tác của thân chủ đặc biệt là với những
ngƣời nghèo. Để làm đƣợc điều này, NVCTXH cần phải biết tạo lập
đƣợc mối quan hệ thoải mái, tin tƣởng và hợp tác. Hoạt động hợp tác
sẽ không diễn ra khi mối quan hệ thân thiết chƣa đƣợc thiết lập. Chỉ
khi NVXH tạo đƣợc lòng tin ở thân chủ, họ mới sẵn sàng chia sẻ
thông tin và cũng chỉ khi NVXH có đƣợc lòng tin ở thân chủ
NVCTXH mới trở nên tự tin ra quyết định và thực hiện các quyết
định của mình.
- NVCTXH không đƣợc phán xét, bình luận hay lên án đạo
đức đối với thân chủ mà cần phải tôn trọng các giá trị và sự khác biệt
của thân chủ. Đồng thời phải thể hiện sự bình đẳng với thân chủ,
tránh mắc sai lầm cho rằng vai trò của NVXH là quan trọng mà tạo ra
quan hệ trên - dƣới. Vì nhƣ thế sẽ khiến cho thân chủ trở nên dè
chừng, ít bộc lộ về bản thân, gia đình và vấn đề của họ.
mình, không lệ thuộc vào NVXH. Nhà Vật lý học nổi tiếng Gallile đã
từng nói rằng: “Ta không thể dạy người khác cái gì. Ta chỉ có thể
giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ”.
21
PHẦN KHUYÊN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
I. Kết luận
Trong thực tế nghiên cứu, tác giả nhận thấy vẫn còn một số tồn
tại cần phải giải quyết.
- Công tác phối hợp giữa các cơ quan đoàn thể chính quyền
chƣa thật sự chặt chẽ và nhịp nhàng trong việc thực hiện các chính
sách hỗ trợ ngƣời nghèo.
- Phần lớn ngƣời nghèo ở xã Thanh Chăn sống chủ yếu bằng
nghề nông, tuy nhiên quỹ đất sản xuất ngày càng hạn hẹp, thời gian
nông nhàn nhiều do vậy, tình trạng thiếu việc làm thƣờng xuyên ở phụ
nữ là khá phổ biến. Tuy vậy, trong hệ thống chính sách hỗ trợ XĐGN
chỉ mới triển khai đƣợc một chƣơng trình đào tạo nghề dệt thổ cẩm với
số lƣợng là 30 thành viên. Nhƣ vậy, công tác dạy nghề, giải quyết việc
làm vẫn chƣa đƣợc chú trọng.
- Đặc trƣng của những hộ gia đình nghèo neo đơn do phụ nữ
làm chủ là họ luôn sống khép mình, ít giao lƣu và họ có rất ít mối
quan hệ xã hội…chính vì thế họ thiếu thông tin, khó tiếp cận làm
quen và tạo dựng mối quan hệ. Do vậy, so với những hộ gia đình
nghèo do đàn ông làm chủ thì họ còn khó khăn hơn trong việc vƣơn
lên XĐGN. Tuy nhiên hệ thống chính sách thì hầu nhƣ cào bằng
chƣa có sự khảo sát thực tế để đƣa ra những hệ thống chính sách phù
hợp.
II. Khuyến nghị nhƣ sau:
lên XĐGN.
Với đối tƣợng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
- Trong xã hội ngày nay, thiếu thông tin cũng là một trong những
nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, chính vì vậy, phụ nữ nghèo đơn thân
nên thƣờng xuyên giao tiếp, trao đổi với mọi ngƣời xung quanh để có
23