VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ĐỨC NGỌC
\
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ĐỨC NGỌC
\
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
Nguyễn Thị Đức Ngọc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Chính sách công về: “Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là hoàn toàn trung
thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Đức Ngọc
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM ........................................................................... 7
1.1. Các khái niệm ............................................................................................. 7
1.2. Vai trò của việc thực hiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn ......................................................................................... 12
1.3. Các bước tổ chức và những yêu cầu của việc thực hiện chính sách công
tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn............................................ 14
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách công tác xã hội đối với
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ......................................................................... 21
1.5. Các hình thức và phương pháp triển khai thực hiện chính sách Công tác
xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ................................................. 22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC
Từ đầy đủ
Từ viết tắt
CTXH
: Công tác xã hội
CSXH
: Chính sách xã hội
DV
: Dịch vụ
DVCTXH
: Dịch vụ công tác xã hội
LĐ-TBXH
: Lao động - Thương binh và Xã hội
TE
: Trẻ em
TECHCKK
: Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Tên hình
Trang
2.1.
Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ngãi
28
2.2.
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và Cơ cấu tổng sản
phẩm trên địa bàn (giá hiện hành) %
29
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua thực hiện đường lối của Đảng, Chúng ta đã thu
được những kết quả bước đầu rất quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội. Bộ mặt xã hội đang từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
của đại bộ phận dân cư được nâng cao. Do vậy trẻ em có điều kiện chăm sóc
ngày một tốt hơn.
Tuy nhiên trong quá trình vận động phát triển xã hội, mặt trái của nền
kinh tế thị trường đã nãy sinh những vấn đề xã hội tiêu cực như sự phân hóa
giàu nghèo ngày càng gia tăng, sự phân tầng xã hội, kinh tế thị trường cạnh
tranh gay gắt đã khiến nhiều ông bố, bà mẹ lao vào thương trường kiếm sống
nên không có thời gian quan tâm đến con cái kể cả nhóm giàu và nhóm
nhằm có những chính sách công tác xã hội hoàn thiện hơn trong lĩnh vực này
em đã tìm hiểu, nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách công
tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ngãi”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về các phía cạnh xung quanh vấn đề trẻ em, như: “ Bảo vệ quyền trẻ em trong
pháp luật Việt Nam” (1996) của GS Nguyễn Đình Lộc, “Bảo vệ quyền trẻ em
trong pháp luật Việt Nam (2005) của UNICEF, “Quyền trẻ em đối với tài sản
và kế thừa tài sản”: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (1998) của PGS Hà Thị
Mai Hiên “ Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam” của Thạc sĩ Chu
Mạnh Hùng (2005)…Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu đã
đề cập đến những vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn. Tuy nhiên phần
lớn những công trình này mới chỉ đề cập đến quyền trẻ em nói chung mà chưa
có công trình nghiên cứu quan tâm riêng đến phía cạnh lý luận và thực tiễn
2
pháp lý dành cho đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra một số
bài viết trên các tạp chí đề cập đến vấn đề trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
nhằm làm rõ một số quy định của pháp luật cũng đã được tham khảo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách CTXH đối với
TECHCKK ở Việt Nam, trên cơ sở đó khảo sát thực hiện chính sách CTXH
đối với TECHCKK từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó, đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách CTXH đối với
TECHCKK ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy
định pháp luật, tìm ra những điểm bất cập, chưa phù hợp về chính sách CTXH
đối với TECHCKK; điểm chưa phù hợp giữa quy định pháp luật với thực tiễn thi
hành.
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu,
số liệu thông qua sách, báo và tiếp cận với các tổ chức thực hiện như UBND
tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội,.. Phòng Bảo trợ xã hội, Phòng
Bảo vệ chăm sóc trẻ em, Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh, ...và bao gồm các Nghị
quyết của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài
liệu, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến vấn đề thực hiện chính sách CTXH đối với TECHCKK ở
nước ta nói chung và thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp: Phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu: Trên cơ sở số liệu thu thập
được phân tích đánh giá tồn tại và hạn chế trong công tác thực hiện chính
sách.
Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu sẵn có tại địa phương như báo
cáo, Kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội....
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn đưa ra các kết quả, kết luận, kiến nghị, đề
xuất góp phần bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách công nói chung và chính sách CTXH đối với TECHCKK nói riêng. Đề
xuất các phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách CTXH đối với TECHCKK.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn không chỉ nghiên cứu quá trình thực
em có hoàn cảnh khó khăn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Tăng cường các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở nước ta hiện nay.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG
TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN
Ở VIỆT NAM
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm trẻ em
Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau.
Tùy theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hay cấp độ đánh giá mà đưa ra
những định nghĩa hay khái niệm về trẻ em.Có thể tiếp cận về mặt sinh học,
tiếp cận về mặt tâm lý học, y học, xã hội học…Từ những khái niệm tiếp cận
đi đến những khái niệm hoặc định nghĩa khác nhau về các nhóm trẻ em. Tuy
vậy, trong các định nghĩa hoặc khái niệm đó đều có những điểm chung và
thống nhất là căn cứ vào tuổi đời để xác định số lượng trẻ em. Quốc tế đã đưa
ra khái niệm chung là: “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi
luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”. Khái niệm này đã lấy
tuổi đời để định nghĩa trẻ em và lấy mốc là dưới 18 tuổi. Khái niệm này cũng
được mở rộng cho các quốc gia có thể qui định mốc dưới 18 tuổi. [15, tr.10]
Trẻ em trước hết phải hiểu đó là con người phải được hưởng mọi quyền
lợi đối với trẻ em “Không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc,
màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm, nguồn gốc
dân tộc và xã hội, tài sản dòng dõi hoặc mối tương quan khác”. Nhưng trẻ em
lại là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, tồn tại, phát
triển, được bảo vệ và được bày tỏ ý kiến, thể hiện: quyền được sống với cha
nước, cộng đồng xã hội, gia đình và người thân, như quyền được sống cùng
cha mẹ, gia đình, quyền được học tập, quyền được chăm sóc về thể chất, sức
khỏe, quyền được vui chơi giải trí… Nếu khi xã hội không còn sự cản trở nào
đối với cuộc sống trẻ em, đối với sự thực hiện quyền trẻ em thì có lẽ cũng
không còn trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. [26, tr.10]
8
Những thực tế trong quá trình vận động và phát triển xã hội luôn tồn tại
một bộ phận TECHCKK như mồ côi, trẻ tàn tật, bên cạnh đó cũng có nhóm
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn chỉ tồn tại và phát triển trong thời kỳ nhất định.
Ở nước ta, trong số tám loại đối tượng thì có loại tồn tại từ rất lâu như trẻ mồ
côi, trẻ khuyết tật, song cũng có loại đối tượng mới xuất hiện vào những năm
cuối thập kỷ 80 cho đến nay như trẻ lang thang, trẻ mại dâm, trẻ em nghiện
ma túy…Nếu phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta thì quá trình phát
sinh đó là do mặt trái của quá trình phát triển kinh tế thị trường, là hậu quả tất
yếu của một quá trình phát triển một hình thái kinh tế xã hội.
Đối tượng thuộc nhóm TECHCKK phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã
hội từng địa phương,vùng và từng giai đoạn phát triển cuả đất nước, phụ
thuộc vào đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc, từng cộng đồng…Chính vì vậy,
ở các quốc gia khác nhau, hoặc trong một đất nước nhưng ở từng giai đoạn
khác nhau sẽ không có sự giống nhau về số nhóm, quy mô của từng nhóm
TECHCKK.
Có thể khái niệm về TECHCKK như sau: TECHCKK là trẻ em có hoàn
cảnh không bình thường về thể chất và tinh thần, không đủ điều kiện để thực
hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình và cộng đồng (khoản 1, Điều 3
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004)[14].
Như vậy có thể chia thành các nhóm như sau:
- Trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật
dịch vụ tạo thu nhập, các chính sách liên hệ trực tiếp đến chương trình xã hội
có tính chất trợ giúp và bảo hiểm với những nhóm đối tượng đặc biệt trong
hoàn cảnh khó khăn.
Xét về nội hàm: CSCTXH thường hướng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị
của Đảng cầm quyền và Nhà nước trong từng thời kỳ, các CSCTXH thể hiện
tính trách nhiệm, mang hàm nghĩa văn hóa – văn minh, phản ánh tính chất
tiến bộ, đảm bảo công bằng của xã hội. CSCTXH lấy con người làm trung
10
tâm, làm đối tượng tác động trực tiếp. Vì vậy, tất cả nội dung, mục tiêu của
chính sách đều hướng tới con người. Xét theo chức năng: CSCTXH định
hướng cho sự vận động của xã hội, nó xuất phát từ thực tiễn các vấn đề xã hội
của đất nước, đồng thời CSCTXH cũng là công cụ quản lý xã hội, thể hiện ý
chí của Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy nó là một phương tiện quan trọng định
hướng mọi hoạt động và hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động trong
lĩnh vực xã hội theo những mục tiêu, phương hướng đã định trước của Nhà
nước.
Từ cách tiếp cận trên, khái niệm CSCTXH có thể hiểu là sự thể chế hóa,
cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xã hội liên
quan đến từng nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợp với quan
điểm, đường lối của Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát
triển toàn diện con người.[10]
1.1.4. Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn
Thực hiện chính sách CTXH cũng là một CSXH. Như phân tích nêu
trên, CTXH là một nghề và nghề CTXH cũng là một lĩnh vực hoạt động lao
động mà trong đó, nhờ được đào tạo mà nhân viên CTXH mới có được những
tri thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp để cung cấp các DVCTXH, đáp ứng
Mỗi quốc gia có một đường lối và thể chế chính trị riêng nó định hướng
cho sự vận động và phát triển của kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của
quốc gia đó. Việc định hướng về giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có
TECHCKK, công bằng xã hội có liên quan trực tiếp đến chính sách CTXH
đối với TECHCKK. Chính sách CTXH đối với TECHCKK không thể nằm
ngoài và phải bị chi phối bởi đường lối đó.
Có thể nói rằng: CTXH nói chung và CTXH đối với TECHCKK nói
riêng chỉ được phát triển trong môi trường hành chính thuận lợi, mà môi
trường hành chính được định hình từ thể chế chính trị. Sự ổn định chính trị là
cơ sở để ổn định xã hội và là điều kiện giải quyết tốt các vấn đề xã hội nói
12
chung cũng như để hoạch định và thực hiện chính sách CTXH đối với
TECHCKK nói riêng.
1.2.2. Về phương diện kinh tế - xã hội
Để hội nhập với phát triển chung của đất nước, đòi hỏi phải phát triển
toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xóa đói giảm
nghèo và bảo vệ môi trường. Thực hiện chính sách công tác xã hội còn thể
hiện mục tiêu công bằng xã hội, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, thể
hiện tình cảm, trách nhiệm của cả nước đối với trẻ em nói chung và TECHCK
nói riêng.
Hoạch định, xây dựng được chính sách công tác xã hội đúng có chất
lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách công tác xã hội còn
quan trọng hơn. Có chính sách CTXH đúng, nếu nó không được tổ chức thực
hiện trên thực tế nó cũng trở thành vô nghĩa, trở thành khẩu hiệu suông. Qua
thực hiện chính sách CTXH mới biết được chính sách CTXH đó đúng hay
không đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách đó có đi vào cuộc sống
hay không đi vào cuộc sống. Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định và
1.3.1.1 Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách CTXH đối với
TECHCKK
Để đưa chính sách công nói chung, chính sách CTXH nói riêng vào cuộc
sống cần phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách. Đây là
nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách
CTXH: Hiệu quả thực hiện chính sách CTXH phụ thuộc vào chất lượng, tính
chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch thực hiện chính sách. Cần phải đầu
tư thời gian công sức để xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách CTXH. Kế
hoạch triển khai thực hiện chính sách CTXH cần được xây dựng trước khi
đưa chính sách vào cuộc sống. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
CTXH bao gồm các nội dung sau:
- Kế hoạch tổ chức điều hành
14
- Kế hoạch cung cấp các nguyên liệu (nhiên liệu, vật liệu, tài liệu)
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc, thực thi đưa chính sách CTXH vào cuộc
sống…
Ngoài ra, trong bản kế hoạch thực hiện chính sách CTXH cần phải dự
kiến các nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nhiệm vụ và
quyền hạn của các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức tham gia tổ chức
điều hành chính sách; về các biện pháp, giải pháp, khen thưởng, kỷ luật đối
với cá nhân tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách …
Dự kiến kế hoạch thực hiện chính sách ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó
xem xét thông qua, chẳng hạn ở Trung ương có thể do Thủ tướng Chính phủ,
Ủy ban Dân tộc, ở các địa phương do UBND cấp tỉnh, hoặc cấp huyện xem
xét thông qua…Sau khi được cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch thực
hiện chính sách mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành, thực hiện.
khác nhau như có thể xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính
sách, có thể tổ chức các hội nghị phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách,
có thể phổ biến tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
như báo, đài, tạp chí…lựa chọn hình thức phương pháp nào tùy thuộc vào đặc
điểm, đặc thù của đối tượng được thụ hưởng, hoàn cảnh điều kiện của từng
địa phương.
1.3.1.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công tác xã hội đối với
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Trong tổ chức thực hiện chính sách công tác xã hội đối với TECHCKK,
việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng, tác
động đến hiệu quả thực hiện chính sách. Muốn tổ chức thực hiện chính sách
có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý
giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương.
Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ
16