Công tác xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn tại bệnh viện nhi trung ương - Pdf 29

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG THỊ ĐÀO
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI BỆNH NHI CÓ HOÀN CẢNH
KHÓ KHĂN TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, năm 2015
Công trình được hoàn thành tại: thành phố Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Chí
Phản biện 1: :

Phản biện 2:

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ họp tại :
Học viện Khoa học xã hội giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện khoa học xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT Danh mục bảng biểu Trang
Bảng 2.1 Qui mô, số lượng bệnh nhi khám chữa bệnh tại Bệnh
viện Nhi Trung ương năm 2014
Trang 42
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ bệnh nhi và thời gian điều trị Trang 47
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thể hiện hoàn cảnh gia đình bệnh nhi Trang 50
Bảng 2.2 Các chương trình truyền thông Phòng Công tác xã hội
thực hiện năm 2014
Trang 58
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

vụ hữu ích cho con người. Đến nay, Công tác xã hội có mặt ở hơn 80 quốc gia trên thế giới đã
và đang hỗ trợ cho những người yếu thế góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, mang lại sự
bình đẳng và công bằng xã hội.
Xuất phát từ nhu cầu và tình hình thực tiễn của đất nước, ngày 23/5/2010 Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt “Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn
2010-2020” với mục tiêu phát triển Công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam. Theo đó,
15/7/2011 Bộ Y tế cũng xây dựng “Đề án phát triển nghề Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế
giai đoạn 2011-2020 và hiện nay Bộ Y tế đang lấy ý kiến về dự thảo “Thông tư quy định chức
năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Phòng Công tác xã hội trong bệnh viện”. Đây chính là
những căn cứ pháp lý đầu tiên vô cùng quan trọng công nhận Công tác xã hội là một nghề trong
lĩnh vực y tế ở nước ta mà bệnh viện chính là cơ sở hoạt động của nhân viên Công tác xã hội
còn bệnh nhân, bác sĩ và nhân viên y tế là khách hàng, thân chủ của mình.
Việt Nam là một quốc gia có số trẻ em chiếm tới 1/4 dân số đây là một trong nhóm đối
tượng đặc thù của Công tác xã hội, được coi như những “công dân đặc biệt” của xã hội, được
chăm sóc và dành cho những ưu tiên, cũng như tạo môi trường lành mạnh để phát triển toàn
diện về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Các chương trình chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ngày càng
được quan tâm, đa số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ 6 loại vacxin cơ bản; 100% trẻ em
dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tê (BHYT) và khám chữa bệnh miễn phí; tỷ lệ suy dinh
dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 25% (2005) xuống 15,4% (2013).[2.7]
Bên cạnh các thành tựu đó thì hiện nay trên cả nước vẫn còn một số lượng lớn trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn lại không may mắn khi trong mình lại mắc các căn bệnh hiểm nghèo hằng
ngày đang đối mặt với tử thần, mà gia đình lại không có đủ các điều kiện kinh tế để các em có
cơ hội được chữa bệnh.
Theo thống kê của Bộ Y tế tại Bệnh viện Nhi Trung ương, một ngày có từ 1.000 - 1.200
bệnh nhi đến khám, điều trị. Trong một khoa có từ 50 - 70 bệnh nhi mắc bệnh thì trong đó có
đến 10 - 20 bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn cần được tư vấn tâm lý và giúp đỡ nguồn tài chính
để chữa trị. [3.12]
Công tác xã hội trong bệnh viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chăm sóc sức
khỏe người dân nói chung và bệnh nhân là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng. Bởi lẽ bất
kì đứa trẻ nào, khi phải nằm viện đều có nỗi đau thể xác và tâm lý vì vậy việc chữa trị chỉ có

quản như Bộ LĐTB – XH quản lý.
Vào năm 1977, Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Quốc gia Mỹ (NASW) xuất bản
bộ “Tiêu chuẩn cho các dịch vụ xã hội bệnh viện”. Năm 1980, bộ “Tiêu chuẩn cho ngành Công
tác xã hội trong các cơ sở chăm sóc Y tế” được xây dựng và thay thế bộ tiêu chuẩn bệnh viện.
Giữa năm 1981 và 1982, Hội đồng Quản trị của NASW đã phê duyệt những tiêu chuẩn mới, và
ba tiểu mục đã được xây dựng, phê duyệt và bổ sung vào bộ tiêu chuẩn chăm sóc y tế. Ba tiểu
mục bao gồm “Tiêu chuẩn về Công tác xã hội với bệnh khuyết tật phát triển; Tiêu chuẩn về
Công tác xã hội tại các cơ sở điều trị bệnh Thận giai đoạn cuối và Tiêu chuẩn về Công tác xã
hội tại các cơ sở Y tế công cộng”.[6,7-16]
Đây là những công trình nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về cơ sở lý luận, lịch sử hình
thành khoa học ứng dụng Công tác xã hội bệnh viện để tăng cường kiến thức, kỹ năng, giá trị,
phương pháp và các chuẩn mực của Nhân viên Công tác xã hội cần thiết để làm việc hiệu quả
với các cá nhân, gia đình…những nhà cung cấp chăm sóc y tế và cộng đồng khi hoạt động tại
các cơ sở chăm sóc y tế.
Tình hình nghiên cứu trong nước về đề tài
Ngày 25/3/3010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 32/2010/QĐ-TTg phê
duyệt Đề án “Phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020”. Mục tiêu chung của đề
án phát triển Công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam. Nâng cao nhận thức của toàn xã
hội về nghề Công tác xã hội. Theo đó, 15/7/2011 Bộ Y tế cũng xây dựng “Đề án phát triển
nghề Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2011-2020”. Đề án tập trung nâng cao nhận
thức cho các cấp lãnh đạo và cán bộ ngành y tế về vai trò quan trọng của nghề Công tác xã hội;
từng bước hình thành mạng lưới hoạt động công tác xã hôi để hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt
động chăm sóc sức khỏe ban đầu, đem dịch vụ y tế đến gần với bệnh nhân hơn.
Ngày 6/7/2010 tại Hà Nội, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ Dân số - Y tế, Bộ Y tế
đã tổ chức hội thảo “Phát triển Công tác xã hội trong lĩnh vực Y tế”. Tại hội thảo có nhiều bài
viết, tham luận và ý kiến của các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn, các nhà quản lý,
các chuyên gia trong và ngoài nước đã nêu rõ vai trò và tác động của Công tác xã hội trong lĩnh
vực y tế, kết quả bước đầu, khó khăn thuận lợi và định hướng cho sự phát triển của Công tác xã
hội trong bệnh viện thời gian tới.
Một số tham luận tại hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển nghề Công tác xã hội” tại Đà

Nghiên cứu thực địa: thu thập những thông tin sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn sâu,
để tìm hiểu thực trạng hỗ trợ xã hội đối với các bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn tại Bệnh viện
Nhi Trung ương.
Tổng hợp thông tin định tính để tổng hợp kết quả nghiên cứu
Phân tích, đánh giá những thực trạng nói trên nhằm đưa ra một số giải pháp trợ giúp của
Công tác xã hội đối với những trường hợp bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn đang điều trị ở
Bệnh viện Nhi Trung ương.
4. Phạm vi, đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 9/2014 đến tháng 01/2015
Không gian: Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Phòng Công tác xã hội Bệnh viện Nhi
Trung ương (18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội)
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các dịch vụ hỗ trợ của Công tác xã hội đối với các bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn tại
Bệnh viện Nhi Trung ương
4.3. Khách thể nghiên cứu
Nhân viên Phòng Công tác xã hội tại bệnh viện
Bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn và gia đình bao gồm cha, mẹ hoặc người đại diện hợp
pháp của bệnh nhi tại bệnh viện: Nghiên cứu gồm 350 trường hợp bệnh nhi đang điều trị nội trú
(phỏng vấn sâu và sử dụng bảng hỏi đối với người nhà bệnh nhi) có hoàn cảnh khó khăn.
4.4. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Công tác xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn
5. Các phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu: Các tài liệu hiện có tại cơ sở nghiên cứu,
chính sách, đề án phát triển nghề Công tác xã hội trong ngành Y tế, các tài liệu có liên quan đến
Công tác xã hội trong bệnh viện, Công tác xã hội đối với trẻ em, tâm lý trẻ em khi nằm viện.
Phân tích các văn bản báo cáo, tạp chí các thông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn
khác nhau, từ đó tổng hợp và đưa ra các nhận xét, đánh giá. Sử dụng phương pháp này để tác
giả xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu. Qua đó, tác giả xác định được một số khái

hơn thực trạng Công tác xã hội đối với đối tượng này tại bệnh viện.
6. Ý nghĩa của nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết, phương pháp CCông tác xã
hội vào việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể. Cụ thể là việc sử dụng hệ thống khái niệm,
phạm trù, lý thuyết, phương pháp Công tác xã hội vào việc mô tả, phân tích và đưa ra các giải
pháp, dịch vụ hỗ trợ giải quyết vấn đề cụ thể.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những chính sách trợ giúp của Nhà nước, Bộ Y tế các
ban ngành liên quan trong Công tác xã hội đối với các bệnh nhân là trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn.
Kết quả nghiên cứu cũng góp phần giúp những người quản lý và cộng đồng có thêm cái
nhìn toàn diện, sâu sắc tích cực trong công tác tuyên truyền, tổ chức giúp đỡ trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn đang điều trị các căn bệnh hiểm nghèo tại bệnh viện về vật chất, tinh thần và
tâm lý.
` Giúp cho nhân viên Công tác xã hội nói riêng và các ngành khác nói chung hiểu biết
thêm về các dịch vụ hỗ trợ của Công tác xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn và
những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên xã hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực y tế.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn có 2 chương
sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Công tác xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp thực hiện Công tác xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh
khó khăn tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Công tác xã hội đối với
bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn.
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Công tác xã hội
Công tác xã hội được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia
từ gần thế kỷ nay. Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng các ngành khoa học xã hội

Công tác xã hội có chức năng cung cấp các dịch vụ về Công tác xã hội cho người bệnh,
người nhà người bệnh và nhân viên y tế trong quá trình khám, chữa bệnh. Nguyên tắc hoạt động
của Công tác xã hội trong bệnh viện:
Là cầu nối giữa người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế.
Nhân viên Công tác xã hội phải kết hợp chặt chẽ với nhân viên y tế trong công tác.
Nhiệm vụ của Công tác xã hội trong bệnh viện:
Giải quyết các vấn đề về tâm lý, xã hội cho người bệnh và người nhà bệnh nhân:
Chủ động thăm hỏi người bệnh và người nhà người bệnh để tìm hiểu mức độ cần hỗ trợ của
người bệnh về tâm lý, xã hội; Giới thiệu, cung cấp thông tin, tư vấn về dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh của bệnh viện cho người bệnh và người nhà người bệnh, tư vấn cho đối tượng về các
chương trình chính sách xã hội như bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội, hỗ trợ khẩn cấp; Phối hợp với
bác sỹ điều trị trực tiếp hoặc nhân viên y tế tại khoa mà người bệnh đang khám, chữa bệnh để
biết rõ thông tin về tình hình sức khỏe của người bệnh; Hỗ trợ khẩn cấp và cung cấp các dịch vụ
Công tác xã hội cho các nhóm đối tượng là nạn nhân của bạo hành, xâm hại tình dục, bao gồm
bảo đảm an toàn cho đối tượng, hỗ trợ tâm lý, xã hội; trị liệu tâm lý; hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ thực
hiện pháp y và các dịch vụ phù hợp khác; báo cáo cho các cơ quan chức năng liên quan.
Hoạt động hỗ trợ người bệnh có khó khăn tìm nguồn lực giúp đỡ: Làm đầu mối
trong bệnh viện thực hiện tuyên truyền, vận động sự tham gia, ủng hộ từ các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thể hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo; Vận động
tài trợ gây quỹ cho bệnh viện, bao gồm cả vận động tài trợ trang thiết bị, tài trợ cho việc nghiên
cứu khoa học và đào tạo tại bệnh viện.
Truyền thông và quan hệ công chúng: Làm đầu mối của bệnh viện về công tác truyền
thông và quan hệ công chúng; tuyên truyền, giới thiệu các hoạt động của bệnh viện với xã hội
và cộng đồng; Hướng dẫn các tổ chức, nhóm tình nguyện viên tới phối hợp về Công tác xã hội
trong bệnh viện; Tổ chức các hoạt động văn hóa,văn nghệ để giúp cải thiện đời sống tinh thần
của nhân viên y tế và người bệnh; tổ chức các sự kiện, hội nghị, hội thảo, chương trình gây quỹ
của bệnh viện.
Đào tạo: Phối hợp với các trường đại học, cao đẳng và cơ sở dạy nghề để đào tạo về
nghề Công tác xã hội và về Công tác xã hội trong bệnh viện thông qua chương trình thực tập
của sinh viên Công tác xã hội; Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về Công tác xã hội cho

Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết rất quan trọng được vận dụng trong Công
tác xã hội. Khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ, nhân viên xã hội cần chỉ ra rằng thân chủ của
mình đang thiếu và cần đến những hệ thống trợ giúp nào để tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp
cận và tham gia các hệ thống đó. Có làm được như vậy thì nhân viên xã hội mới thực sự hoàn
thành tiến trình giúp đỡ của mình. Chỉ khi nào thân chủ được sự giúp đỡ và có thể tham gia các
hệ thống thì họ mới trở lại là chính họ. Đó là cái đích cuối cùng mà Công tác xã hội hướng đến.
[25.9]
Các quan điểm về hệ thống trong Công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng
quát của Bertalenffy - một nhà sinh học nổi tiếng. Bertalanffy sinh ngày 19/09/1901 tại Vienna
và mất 12/06/1972 tại Newyork. Ông đã tốt nghiệp các trường đại học: Vienna (1948), London
(1949), Montreal (1949). Ông cho rằng “Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo
nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn”. Do đó con
người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, mà được tạo dựng từ các
nguyên tử nhỏ hơn. Lý thuyết này được áp dụng đối với các hệ thống xã hội cũng như những
hệ thống sinh học. Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu:
Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980)…. Và cũng có trường phái các nhà xã hội
học sinh thái Chicago vào những năm 1930 cũng trở thành những người tiên phong trong
phong trào nghiên cứu và tìm hiểu về thuyết hệ thống. [25.9]
Trong Công tác xã hội, hai hình thức cơ bản của lý thuyết hệ thống được phân biệt rõ
ràng là: Lý thuyết hệ thống tổng quát và lý thuyết hệ thống sinh thái. Lý thuyết hệ thống tổng
quát trọng tâm là hướng đến những cái “tổng thể” và nó mang tính “hoà nhập” trong Công tác
xã hội. Pincus và Minahan áp dụng lý thuyết hệ thống vào thực hành Công tác xã hội. Nguyên
tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội
trung gian của họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng, do đó Công tác xã hội phải nhấn mạnh
đến các hệ thống. Ba hình thức hệ thống tổng quát đó là:
- Hệ thống chính thức: Các nhóm cộng đồng, các tổ chức công đoàn…
- Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè, người thân, cộng sự đồng nghiệp…
- Hệ thống xã hội: Bệnh viện, trường học, cơ quan, tổ chức đoàn thể nhà nước…
Như vậy, bệnh viện là một hệ thống xã hội còn bệnh nhân, nhân viên y tế , dịch vụ y tế
và những người khác trong bệnh viện cùng thuộc một hệ thống và có sự tác động qua lại lẫn

đến cao.[28.9]
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ,
tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia
đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc - muốn được trong một
nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.
Tầng thứ tư: Nhu cầu được tôn trọng, kính mến - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến,
được tin tưởng.
Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể
hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.
Nếu con người được thõa mãn nhu cầu của mình sẽ đem lại những yếu tố tích cực cho sự phát
triển con người, ngược lại nếu nhu cầu không được đáp ứng sẽ gây ra những căng thẳng, hụt
hẫng mất “thăng bằng”. [27.10]
Vận dụng lý thuyết này vào đề tài này ta có thể nhận thấy những nhu cầu cơ bản mà các
bệnh nhi và gia đình bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn rất chính đáng và cần được hỗ trợ như:
nhu cầu trong việc được các bác sỹ tận tình chữa bệnh nhanh chóng ổn định sức khoẻ, được
đảm bảo các điều kiện tối thiểu chữa bệnh như giường nằm, thuốc men, ăn uống, vệ sinh…,
nhu cầu về ổn định tâm lý, được tiếp tục theo học…
Lý thuyết này làm cơ sở lý luận nhằm giúp cho nhân viên xã hội tìm hiểu các thông tin
để xác định các nhu cầu của đối tượng là bệnh nhi, gia đình bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn
đang điều trị tại bệnh viện nhu cầu bức thiết nhất của họ là gì nhằm hỗ trợ kịp thời những nhu
cầu đó. Làm căn cứ để lập các kế hoạch cần thiết huy động các nguồn lực hỗ trợ có thể là họ
cần sự giúp đỡ về tâm lý, tài chính hoặc những nhu cầu khác. Lý thuyết này cũng là kim chỉ
nam hữu ích để nhân viên Công tác xã hội xác định nhu cầu của cá nhân và lập kế hoạch chăm
sóc cho người bệnh
Đồng thời tác giả vận dụng thuyết này nhằm đánh giá các chính sách, dịch vụ Công tác xã
hội tại Bệnh viện Nhi Trung ương hiện tại đã đáp ứng được các nhu cầu của bệnh nhi có hoàn
cảnh khoa khăn hay chưa. Thông qua đó, tác giả xem xét đề xuất phương pháp tác động hiệu quả
hơn bên cạnh các hỗ trợ hiện có và đưa ra các giải pháp nhằm trợ giúp thõa mãn các nhu cầu

Các giải pháp nhằm tăng cường chăm sóc sức khỏe gồm có: nâng cao nhận thức của
người dân về chăm sóc sức khỏe; khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào những hoạt
động chăm sóc sức khỏe; tôn trọng sự tự quyết và tự lực của cộng đồng đối với các hoạt động
chăm sóc sức khỏe; phổ cập các kỹ thuật thích hợp, thích ứng với khả năng chi trả của người
dân để tăng khả năng tiếp cận cho tất cả mọi người.
Cả 4 giải pháp này đều cần có sự ứng dụng của Công tác xã hội. Song Công tác xã hội
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hoà giữa tinh thần và thể
chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, giữa người bệnh với những người xung
quanh, giữa người bệnh với cơ sở y tế… Để làm được điều này, người làm Công tác xã hội
phải tìm hiểu đặc điểm tâm lý, xã hội của bệnh nhân, hoàn cảnh thực tế mà họ đang phải đối
mặt cùng những mong muốn của họ. Từ đó tìm ra sự hỗ trợ thích hợp dành cho thân chủ. Vì lẽ
đó, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe thì bệnh viện là nơi cần có sự xuất hiện của Công tác xã
hội.
Lịch sử của Công tác xã hội bệnh viện trên thế giới ra đời kể từ thời điểm chuyển giao
của thế kỷ 20. Những vấn đề được quan tâm sớm nhất của chuyên ngành này là làm cho những
dịch vụ chăm sóc y tế sẵn sàng đáp ứng cho người nghèo và cải thiện các điều kiện xã hội gây
ra bệnh nhiễm trùng như bệnh lao. Khi vai trò của ngành Công tác xã hội được mở rộng, các
nhân viên Công tác xã hội đã nhập các chuyên môn y tế khác vào lĩnh vựccung cấp các dịch vụ
chất lượng cao.
Ngày nay, các nhân viên Công tác xã hội có mặt trong mọi bộ phận của hệ thống chăm
sóc y tế. Vào năm 1977, NASW xuất bản bộ “Tiêu chuẩn cho các dịch vụ xã hội Bệnh viện”.
Năm 1980, bộ “Tiêu chuẩn cho ngành Công tác xã hội trong các cơ sở chăm sóc y tế” được
xây dựng và thay thế bộ tiêu chuẩn bệnh viện. Giữa năm 1981 và 1982, Hội đồng Quản trị của
NASW đã phê duyệt những tiêu chuẩn mới, và ba tiểu mục đã được xây dựng, phê duyệt và bổ
sung vào bộ tiêu chuẩn chăm sóc y tế.
Mục tiêu của Công tác xã hội trong bệnh viện là giúp bệnh nhân nhận biết và vượt qua
những khó khăn của bản thân và môi trường sống tác động đến sức khỏe hay bệnh tật của họ
hoặc khắc phục những yếu tố làm cho họ không sử dụng được có hiệu quả các dịch vụ y tế trợ
giúp họ. Nhiệm vụ của nhân viên Công tác xã hội trong bệnh viện là trợ giúp những người có
bệnh về tình cảm, tâm thần và thể lực. Thông qua mối quan hệ với bệnh nhân, nhân viên Công

ra được thu nhập cũng như không tự quyết định được chi tiêu mà hoàn toàn phụ thuộc vào môi
trường sống, sự bao cấp của gia đình và sự bảo trợ của xã hội Tại các bệnh viện hiện nay có
rất nhiều bệnh nhi hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh, có nhiều trường hợp bệnh nặng, có khả năng
chữa trị nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn không có tiền thuốc thang nên phải xin về, có
những bệnh nhi quãng thời gian tuổi thơ là không gian gắn với bệnh viện.
Công tác xã hội trong bệnh viện nói chung và đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khă nói
riêng có vai trò vô cùng quan trọng. Công tác xã hội như là cầu nối để các bệnh nhi không may
mắn khi vừa mang trong mình các căn bệnh bẩm sinh, hiểm nghèo lại vừa sống trong gia đình
khó khăn thêm niềm hy vọng chữa bệnh. Chức năng của nhân viên Công tác xã hội tại bệnh
viện là giúp các bệnh nhi và gia đình họ hiểu một căn bệnh cụ thể, chẩn đoán và khuyên nhủ về
các quyết định cần thiết. Đồng thời nhân viên Công tác xã hội cũng là thành viên quan trọng
của nhóm điều trị, làm việc cùng bác sĩ, điều dưỡng và các nhân viên y tế khác; giúp những nhà
cung cấp dịch vụ y tế hiểu hơn về các khía cạnh xã hội và tình cảm của người bệnh.
Trong thực tiễn tại các bệnh viện, người bệnh không chỉ cần có các kỹ thuật y học cao
siêu mà dịch vụ chăm sóc sinh hoạt, dinh dưỡng và đặc biệt chăm sóc tinh thần để yên tâm chữa
bệnh cũng hết sức quan trong, có thể chiếm đến 50% công việc đưa đến sự hài lòng cho người
bệnh.
Vì vậy, Công tác xã hội đối với bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn có những hoạt động
chuyên nghiệp sử sụng các phương pháp của Công tác xã hội kết hợp với các phương pháp liên
ngành khác đó là:
Thứ nhất, Công tác xã hội hỗ trợ các vấn đề về tâm lý cho bệnh nhi, gia đình bệnh nhi và các y
bác sỹ trong bệnh viện
“Sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ
không phải chỉ là không có bệnh hay tật” (WHO, 1946). Như vậy sức khỏe cần có đủ cả ba yếu
tố: sảng khoái về thể chất, sảng khoái về tâm thần và sảng khoái về xã hội. Một người có bệnh
đến bệnh viện thì thể chất của họ đang có vấn đề, nhưng nỗi lo âu và sợ hãi của họ còn lớn hơn,
bởi không biết chuyện gì sẽ xảy ra, bên cạnh đó là những xáo trộn về công ăn việc làm, về các
mối quan hệ, chuyện tiền bạc, đi lại, ăn ở… Cho nên nhìn người bệnh mà chỉ thấy có bệnh,
không thấy có người là một thiếu sót lớn Các nghiên cứu cho thấy, đa số bệnh nhân đến bác sĩ
là có vấn đề stress đằng sau những bệnh chứng. Bác sĩ chỉ quan tâm chữa cái đau trước mắt. Có

Hiện tượng thoái lùi
Tức là tâm lý của trẻ trở về thời kì nhỏ hơn. Ví dụ: trẻ 6 tuổi luôn đòi mẹ bế, quấy khóc,
đòi bón cơm như trẻ 1-2 tuổi. Hiện tượng thoái lùi do trẻ đứng trước một hoàn cảnh mới, một
thử thách mới. Mức độ thoái lùi tuỳ thuộc đặc tính nhân cách từng trẻ
Sang chấn tâm lý
Tuỳ loại bệnh (cấp tính, mãn tính), mức độ nặng nhẹ, đặc điểm nhân cách, thái độ ứng
xử của nhân viên y tế và gia đình trong qúa trình chăm chữa, sang chấn tâm lý sẽ xảy ra theo
những thang bậc khác nhau. Nó có thể đi suốt cuộc đời đứa bé, tạo thành tiền căn cho những
rối nhiễu sau này.
Khó khăn tái thích nghi
Nhất là trẻ bị bệnh mãn tính, nằm viện lâu ngày và nếu khoa phòng thiếu cán bộ chuyên
môn (nhà tâm lý, nhân viên xã hội v.v…) thì khi ra viện, trẻ khó tái thích nghi với cuộc sống
ngoài bệnh viện. Thường có hai khả năng:
-Thụ động, buông trôi, thiếu năng lượng sống, không muốn vươn lên
- Hoặc hung hãn, phá phách, gây rối
Ngoài ra, theo nghiên cứu y học tâm lý những đứa trẻ khi bị bệnh phải nằm viện khoảng
một thời gian dài xa nhà chúng thường có những biểu hiện của một loại bệnh rối loạn tâm thần
được bác sĩ René Spitz mô tả lần đầu tiên năm 1946 với tên là trầm cảm vắng mẹ (anaclitic
depression) xảy ra ở trẻ nhỏ khi vắng mẹ quá 3 tháng trong thời gian từ 6 đến 12 tháng tuổi.
Sau đó nhà phân tâm John Bowlby tiếp tục nghiên cứu và đề cập đến khẳng định rằng nỗi nhớ
nhà dai dẳng là nguồn cơn của tình trạng căng thẳng, buồn bã hoặc rối loạn tâm lý ở trẻ em xảy
ra ở một số nơi như bệnh viện.
Trong đó, trẻ càng ít tuổi thì càng có xu hướng nhớ nhà nhiều hơn. theo thống kê, những trẻ
em điều trị dài ngày trong bệnh viện chịu đựng chứng nhớ nhà nặng nề và phức tạp hơn so với những
trẻ khác ở các môi trường năng động hơn. Điều này đã được các nhà khoa học trong lĩnh vực Y học
nghiên cứu rất chuyên sâu và có các cách điều trị khác nhau như sử dụng các loại thuốc men, phương
pháp tâm lý, giáo dục, can thiệp môi trường…
Như vậy, bệnh nhân là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn vừa là đối tượng của lĩnh vực y tế
vừa là đối tượng của Công tác xã hội. Tâm lý trẻ nằm viện là một vấn đề phức tạp. Việc chữa
trị chỉ có thể đạt hiệu quả tối đa nếu nhân viên y tế hiểu biết về quá trình phát triển tâm lý vận

với hàng trăm sự khó khăn. Tất cả mọi người đều quan tâm đến tình trạng bệnh tật của bệnh
nhân, điều kiện về cơ sở vật chất của bệnh viện, chuyên môn và tay nghề của bác sỹ chưa kể
đến những nhu cầu tối thiểu như ăn uống nghỉ ngơi của người thân đi chăm sóc, các vấn đề tế
nhị như phong bì cảm ơn bác sỹ, giấy tờ thủ tục…đặc biệt đối với những gia đình khó khăn thì
vấn đề lớn nhất là kinh phí chữa trị.
Với tâm lý chung “còn nước còn tát” mạng người mới là quan trọng dù cho con mình
chỉ có chút hy vọng mong manh cũng vẫn có mong muốn bác sỹ tìm cách cứu sống cho dù phải
vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền viện phí. Hiện nay rất nhiều bệnh nhi mắc bệnh hiểm
nghèo phải điều trị và tái điều trị tại bệnh viện có hoàn cảnh khó khăn cần sự trợ giúp của Công
tác xã hội. Công tác xã hội ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở tình cảm tốt đẹp giữa con
người và con người, tình làng nghĩa xóm, truyền thống Á đông
Đồng thời, việc chăm lo bảo vệ sức khỏe của nhân dân nói chung, các cháu thiếu nhi nói
riêng luôn được Đảng, Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt. Do điều kiện kinh tế nước ta còn
nhiều khó khăn nên rất cần sự chung tay, chung sức của toàn xã hội cùng với nhà nước góp sức
vào sự nghiệp này.Vì vậy vai trò của Công tác xã hội trong bệnh viện chính là đầu mối trong
thực hiện tuyên truyền, vận động sự tham gia, ủng hộ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể hỗ
trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.
Hiện nay có rất nhiều các tổ chức thiện nguyện tại các bệnh viện trước khi có quyết định
thành lập Phòng Công tác xã hội trong bệnh viện thì các tổ chức, mô hình này hoạt động mang
tính chất tự phát của một số cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp vì mang tính tự phát nên sự
bền vững của các hoạt động không cao. Tất cả các mô hình hiện đang triển khai tại các bệnh
viện vẫn chưa thực hiện đúng và đầy đủ chức năng Công tác xã hội trong bệnh viện. Đội ngũ
cán bộ tham gia hoạt động chủ yếu xuất phát từ tấm lòng từ thiện và kinh nghiệm của bản thân,
chưa được đào tạo bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng Công tác xã hội nên thiếu tính chuyên
nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa cao.
Công tác xã hội khi được công nhận là một đơn vị trực thuộc bệnh viện có tư cách pháp
lý, có sự quản lý và điều hành của cơ quan Nhà nước, hoạt động chuyên nghiệp về mặt thời
gian, nhân sự, tài chính một cách công khai minh bạch dựa trên nhu cầu thiết thực của bệnh
nhân. Bằng các hoạt động như: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ để giúp cải thiện đời
sống tinh thần của nhân viên y tế và người bệnh; tổ chức các sự kiện, hội nghị, hội thảo,

lý của người nhà bệnh nhân giảm căng thẳng.
Thứ tư, Công tác xã hội bệnh viện có vai trò đào tạo nghiệp vụ và nâng cao nhận thức
về Công tác xã hội cho đội ngũ y bác sỹ.
Công tác xã hội bệnh viện là một lĩnh vực có nhiều đặc thù mà đòi hỏi nhân viên Công
tác xã hội cần có nhiều kỹ năng, kiến thức liên ngành để tiếp cận với từng thân chủ. Đối tượng
làm việc ở đây là những bệnh nhi những người đang gặp khó khăn về thể chất có thể là đau đớn
do bệnh và khủng hoảng tâm lý do môi trường bệnh viện, đối tượng quan trọng khác là người
nhà bệnh nhi. Hàng ngày nhân viên Công tác xã hội còn phải trao đổi, tiếp xúc với bác sỹ, y tá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status