VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS LÊ THỊ HOÀI THU
Phản biện 1: TS. NGUYỄN THÁI LAN
Phản biện 2: TS. NGUYỄN THỊ VÂN
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: 13h30p giờ, ngày 1
tháng 11 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thƣ viên Học viện Khoa học Xã hội
tình hình phụ nữ và công tác phụ nữ còn nhiều mặt hạn chế, đồng
thời lại có những vấn đề mới đặt ra với nhiều thách thức. Phụ nữ bị
hạn chế hơn nam giới về cơ hội có việc làm và thu nhập do trình độ
1
học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp còn thấp, phụ nữ thiếu việc làm,
di cư tự phát ra thành phố ngày càng tăng. Ở miền núi, vùng sâu, xa,
tỷ lệ phụ nữ mù chữ và phụ nữ nghèo còn cao.
“Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng” là quy luật bao đời
nay vẫn vậy, là người phụ nữ, ai cũng mong muốn có một mái ấm gia
đình hạnh phúc, có một người chồng để sẻ chia, để được nương tựa,
được sống đúng nghĩa một người vợ, người mẹ. Nhưng đâu phải ai
cũng được hưởng sự viên mãn, tròn trịa ấy, có những người đã có
chồng nhưng lại ly hôn hoặc chồng mất sớm phải nuôi con một mình,
hay có những chị mang trên mình một khiếm khuyết nào đó, hoặc do
“duyên phận lỡ làng”, “quá lứa nhỡ thì”, họ chấp nhận không xây
dựng gia đình nhưng lại khao khát được thực hiện thiên chức của một
người mẹ, vì vậy họ quyết định lựa chọn có con với một người đàn
ông “dấu mặt”.
Huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội là một huyện ngoại
thành, nông nghiệp vẫn là nguồn nhập chủ yếu và còn mang nặng tư
tưởng “trọng nam khinh nữ”. Theo thống kê của Hội Liên hiệp phụ
nữ huyện và phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện, tính
đến năm 2016, toàn huyện có hơn 400 phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ,
trong số đó có tới 121 phụ nữ thuộc diện hộ nghèo và đang hưởng trợ
cấp Bảo trợ xã hội (đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ),
họ đang gặp vô vàn những khó khăn và đây là một nhóm yếu thế
trong xã hội rất cần được nhìn nhận và quan tâm đúng mực, cần được
nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học và bài bản để từ đó có
với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn nghiên cứu.
- Khảo sát, phân tích thực trạng công tác xã hội nhóm đối với
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối
với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong can thiệp,
trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
- Đề xuất biện pháp góp phần thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội
nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trong địa bàn nghiên
cứu.
3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
CTXH nhóm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn
huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên các
hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con
nhỏ là chủ đạo, bao gồm: hoạt động tham gia vào các tổ chức Đoàn –
Hội, hoạt động tham vấn tâm lý, hoạt động trợ giúp nuôi dạy con cái.
Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu phụ nữ đơn thân
nuôi con nhỏ thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
(gọi tắt là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ. Số lượng PNNĐT được
nghiên cứu là 121 người. Đây là nhóm đối tượng chính mà đề tài hướng
tới. Ngoài ra, khách thể nghiên cứu còn có lãnh đạo Hội Phụ nữ cấp xã,
cấp huyện, các lãnh đạo xã, thị trấn tại huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu 21 xã, thị trấn
hội đặc biệt là nhóm phụ nữ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về công tác xã hội với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
Chương 2. Thực trạng Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố
Hà Nội.
Chương 3: Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm và
đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả Công tác xã hội nhóm đối
với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiện huyện Quốc Oai,
thành phố Hà Nội
5
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI
VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ
1.1. Lý luận về nghèo và phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
1.1.1. Lý luận về nghèo
Xác định giàu nghèo là một việc khó vì nó gắn với từng thời
điểm, từng quốc gia, và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau.
Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo
tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là
thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
1.1.2. Lý luận về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
1.1.2.1. Một số khái niệm
Khái niệm Phụ nữ
Từ việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của
CTXH trên cả phương diện lý thuyết và thực hành, khoa học và nghề
nghiệp chuyên môn, tiếp thu các giá trị, phân tích các định nghĩa, các
quan niệm của các học giả, các tổ chức, các hiệp hội chuyên ngành ở
trong và ngoài nước, có thể đưa ra một định nghĩa chung, khái quát
về CTXH như sau: “CTXH là một nghề nghiệp chuyên môn, một
ngành khoa học nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá nhân,
nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh,
vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững”.
Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Nhân viên xã hội là những người có trình độ chuyên môn,
được trang bị kiến thức, kỹ năng về CTXH chuyên nghiệp và sử dụng
kiến thức, kỹ năng đó trong quá trình tác nghiệp trợ giúp đối tượng
(cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng) có vấn đề xã hội giải quyết vấn
đề gặp phải, vươn lên trong cuộc sống.
Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Từ những khái niệm trên, tác giả đã rút ra khái niệm về
CTXH nhóm đối với PNNĐT nuôi con nhỏ là là một phương pháp
trợ giúp những PNNĐT nuôi con nhỏ thông qua hoạt động nhóm.
Khi tham gia vào nhóm đó, các chị em có cùng vấn đề, nhu cầu, mục
đích và đặc biệt họ có sự phân chia vai trò và có sự tương tác qua lại
với nhau cùng với sự hỗ trợ của các nhân viên xã hội, từ đó các chị
7
em phụ nữ trong nhóm có thể vượt qua khó khăn và tự vươn lên phát
triển, tạo nên sự phát triển bền vững cho chính họ.
1.2.2. Tiến trình thực hiện CTXH nhóm
Vào giai đoạn kết thúc này có nhiều trường hợp xảy ra, có
thể nhóm tiếp tục duy trì, cũng có thể nhóm đã hoàn thành mục tiêu
hay những cảm xúc tiêu cực. Đồng thời lý thuyết này nhấn mạnh
đến sự tự chủ của cá nhân, làm chủ cuộc sống. NVXH chỉ đóng
vai trò là chất xúc tác, trợ giúp cho thân chủ trong quá trình giải
quyết vấn đề, quyền quết định thuộc về thân chủ.
1.4. Cơ sở pháp lý về hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ
nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
1.4.1. Cơ sở pháp lý về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong
lịch sử dựng nước và giữ nước. Giải phóng và phát triển toàn diện
phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có
ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước.
Trong đường lối của Đảng về công tác phụ nữ, vấn đề đào
tạo nghề nghiệp, tạo việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện
đời sống, bảo vệ sức khoẻ phụ nữ được chú trọng.
1.4.2. Cơ sở pháp lý về công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ
9
Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước đã và đang có sự tác động mạnh mẽ đến đời sống của phụ nữ
nói chung và phụ nữ đơn thân nói riêng. Công tác hỗ trợ cho phụ
nữ đơn thân và các nhóm phụ nữ yếu thế khác trong xã hội được
thực hiện dựa trên các chủ trương, đường lối và quan điểm đúng
đắn của Đảng và Nhà nước.
Mỗi phụ nữ đơn thân lại có hoàn cảnh, số phận riêng dẫn
họ đến tình trạng không có người chồng bên cạnh. Tuy hoàn cảnh
số phận riêng của họ đa dạng, phức tạp, nhưng giữa họ lại có
những nét chung bộc lộ khá rõ, từ điều kiện sinh sống đến tâm
trạng nguyện vọng... Nhà nước cần sớm có những chính sách hỗ
NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
2.1.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Diện tích: 147,01 km2. Tổng dân số của huyện tại thời điểm
tháng 3/2016 là 180 nghìn người, chủ yếu là dân tộc Kinh.
Với vị trí địa lý đặc biệt của Huyện Quốc Oai bao gồm hai
con sông là sông Tích Giang và sông Đáy cùng với diện tích đất nông
nghiệp trên 10.000 ha, diện tích đất núi là 2.847 ha. Đất nông nghiệp
nông hóa thổ nhưỡng phù hợp với việc sản xuất lương thực - thực
phẩm, trồng cây lương thực, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm và
phát triển kinh tế nông nghiêp.
2.1.2. Khái quát về khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu trên khách thể chính là 121 phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ trên địa bàn 21 xã, thị trấn huyện Quốc Oai, TP Hà
Nội theo danh sách hộ nghèo dự kiến của huyện Quốc Oai được lập
cuối năm 2016.
Tỷ lệ cao nhất là xã Đông Yên chiếm 14%; Thứ hai là xã
Đồng Quang chiếm 9,9%; Thứ ba là xã Hòa Thạch chiếm 9,1%; xã
Cộng Hòa là 8,3%. Xã Tuyết Nghĩa có tỷ lệ 6,6%;
Có 4 xã có tỷ lệ PNĐTN bằng nhau là xã Phú Mãn, Liệp
Tuyết, Đại Thành, Đông Sơn chiếm tỷ lệ 5%.
Xã Yên Sơn có tỷ lệ là 4,1%.
Các xã còn lại có tỷ lệ thấp từ 3.3% đến 1.7%.
11
Các xã có tỷ lệ PNNĐT nuôi con nhỏ có tỷ lệ cao là các xã
chưa nằm trong kế hoạch giảm nghèo của huyện.
Có 6 xã nằm trong kế hoạch về đích nông thôn mới của
Về hoạt động hỗ trợ vay vốn:
12
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động vay vốn từ các hình
thức nhóm
Hoạt động tổ chức sinh hoạt định kỳ nhóm
Bảng 2.3. Nội dung sinh hoạt nhóm đối với phụ nữ
Nội dung sinh hoạt
Số lượng
Tỷ lệ
Triển khai công tác, tổng kết hoạt động trong
6
40%
năm
Phổ biến pháp luật, tuyên truyền quyền và
2
13.3%
nghĩa vụ phụ nữ
Kiến thức nuôi dạy con cái
1
6.6%
Kỷ niệm các ngày lễ lớn (20/10 hoặc 8/3)
3
20%
Phổ biến kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi
1
6.6%
79/121 65.28%
có thu nhập
2.2.2. Hoạt động tham vấn tâm lý
2.2.2.1. Hình thức tham vấn
Bảng 2.5. Hình thức tham vấn đƣợc phụ nữ đơn thân lựa chọn
Hình thức tham vấn
Số lượng
Tỷ lệ
Tham vấn trực tiếp 1-1
10
8.26%
Tham vấn nhóm
96
79.33%
Tham vấn gián tiếp: điện thoại, hộp thư,
12
9.91%
email, đường dây nóng…
Khác
3
2.5%
2.2.2.2. Nội dung tham vấn cho nhóm phụ nữ nghèo đơn thân
Bảng 2.6. Nội dung tham vấn nhóm mà phụ nữ nghèo đơn thân
đã đƣợc tiếp cận
Nội dung
Số lượng
Tỷ lệ
Chăm sóc con cái
121/121
100%
6.61%
Nội dung tham vấn
19
15.72%
2.2.3. Hoạt động truyền thông, nâng cao năng lực nhóm
2.2.3.1. Số lượng của các hoạt động truyền thông
Biểu đồ 2.3. Số buổi truyền thông, nâng cao nhận thức cho phụ
nữ đơn thân nghèo nuôi con nhỏ qua các năm
2.2.3.2. Nội dung truyền thông, nâng cao nhận thức trong nhóm cho
phụ nữ nghèo đơn thân
Từ bảng 2.9 ta thấy rằng trong năm 2017, đã có 9 buổi tổ
chức truyền thông, nâng cao nhận thức cho phụ nữ tại địa phương,
với nôi dung đa dạng và phong phú như: kiến thức về chăm sóc sức
khỏe, nuôi dạy con cái; Kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt; kết hợp với
15
các doanh nghiệp tại địa phương nhằm hội thảo, giới thiệu sản phẩm
của doanh nghiệp đó; Hoặc phổ biến pháp luật, chính sách vay vốn,
đào tạo nghề cho phụ nữ nghèo. Với nội dung đa dạng sẽ phù hợp với
nhiều nhu cầu đa dạng của các thành viên trong nhóm.
2.3.2.3. Mức độ hài lòng của hoạt động truyền thông
Hoạt động truyền thông với nhiều hình thức đa dạng, nội dung phong
phú, sinh động, bám sát vào nhu cầu và tình hình thực tế tại địa phương.
Tương đối hài lòng
21
17,4
4
Không hài lòng
9
7,4
Tổng
121
100
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác xã hội nhóm
đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện
Quốc Oai, thành phố Hà Nội
2.3.1. Thực trạng yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ nghèo đơn thân
nuôi con nhỏ
Chỉ có 1,7% có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc
trên đại học; Học hết lớp 12 với 19,8% và 23,1 % học hết lớp 5,
chiếm tỷ lệ cao nhất là học hết lớp 9 với 48,8% và có tới 6,7%
PNNĐT nuôi con nhỏ bị mù chữ
phụ nữ nghèo có địa chỉ. Hàng năm, Hội LHPN Huyện đã xây dựng
kế hoạch hướng dẫn các Hội phụ nữ cấp cơ sở tổ chức triển khai các
hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu
17
nhập, từng bước cải thiện đời sống; phát động phong trào “Phụ nữ
giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, phong trào “Phụ nữ làm kinh
tế giỏi” và phong trào “giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ”. Đồng thời
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội LHPN thành phố Hà Nội phối hợp
với Ngân hàng Chính sách xã hội, Hội LHPN thị xã tiến hành thành
lập các tổ vay vốn để chị em hội viên tham gia vay vốn nhằm mục
đích phát triển kinh tế gia đình.
Nguyên nhân của những mặt tồn tại:
Trong những năm qua, cùng với việc triển khai thực hiện các
chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về công tác phụ nữ,
cấp ủy Đảng và chính quyền huyện đã có sự quan tâm, chỉ đạo việc
hỗ trợ cho phụ nữ nghèo (trong đó có nhóm phụ nữ nghèo đơn thân),
tạo cơ hội và điều kiện phát triển cho phụ nữ, đặc biệt là hỗ trợ họ
trong lĩnh vực phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chính quyền địa phương
và các ban ngành đoàn thể mới chỉ tập trung quan tâm, trợ giúp đến
nhóm phụ nữ nghèo mà chưa có sự quan tâm, hỗ trợ đúng mức cho
nhóm phụ nữ đơn thân nói chung và PNNĐT nuôi con nhỏ nói riêng
trên địa bàn huyện.
- Năng lực của cán bộ cơ sở còn yếu kém: Do trình độ một
số cán bộ cơ sở còn yếu, phương pháp làm việc thiếu tính sáng tạo,
chưa khoa học; một số cán bộ nguồn có tâm lý ngại đi học nâng cao
trình độ chính trị, chuyên môn; cơ chế chính sách về công tác cán
bộ hội cơ sở chưa phù hợp khiến chị em chưa chuyên tâm công
tác…
TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Ứng dụng phƣơng pháp công tác xã hội nhóm trong việc giảm
nghèo bền vững đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
3.1.1. Lý do ứng dụng
Nhìn chung, hoạt động của NVCTXH trên địa bàn huyện Quốc
Oai hiện nay hoàn toàn đúng với nhiệm vụ chuyên môn của họ theo lý
thuyết và định hướng phát triển trong công tác xã hội. Nhân viên CTXH
19
và các ban, ngành có liên quan cũng đã tích cực phối hợp, đẩy mạnh công
tác tuyên truyền phổ biến pháp luật có hiệu quả.
3.1.2. Kết quả ứng dụng tiến trình công tác xã hội nhóm
3.1.2.1. Thành lập nhóm
* Xác định mục đích hỗ trợ nhóm
*. Đánh giá khả năng thành lập nhóm
*Thành lập nhóm
-Tuyển chọn thành viên nhóm
+ Thứ nhất: tính đồng nhất của nhóm, ví dụ: Là phụ nữ thuộc
hộ nghèo, hiện đơn thân và nuôi con nhỏ, có nhu cầu phát triển kinh tế,
có khả năng tiếp thu kiến thức,...
+ Thứ hai: những thành viên của nhóm cần có sự tương đồng
về hoàn cảnh, những khó khăn gặp phải, những vấn đề họ đã trải qua để
các hoạt động nhóm phong phú, sáng tạo, ví dụ: thiếu vốn sản xuất, chưa
lựa chọn được hướng phát triển kinh tế, thiếu phương tiện sản xuất,….
+ Thứ ba: Các thành viên trong nhóm có khả năng đáp ứng nhu
cầu của các thành viên khác và có thể cùng phấn đấu đạt được mục đích
của nhóm.
Như vậy, thành phần của nhóm gồm 07 PNNĐT nuôi con nhỏ
và 02 phụ nữ đơn thân đã thoát nghèo năm 2015 trên địa bàn 04 xã thuộc
truyền thông, hỗ trợ vay vốn…
3.2.2. Thiết lập mối quan hệ giữa nhóm PNNĐT nuôi con nhỏ với
các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
Do tâm lý mặc cảm, tự ti nên bản thân PNNĐT nuôi con nhỏ
thường không chủ động trong việc tiếp cận các mô hình làm kinh tế
giỏi vì nghĩ bản thân không đủ khả năng, họ cũng khó khăn trong
việc tiếp cận vốn vay, tiến bộ KHKT để áp dụng vào sản xuất, chăn
nuôi, trồng trọt. Vì vậy rất cần vai trò trung gian của nhân viên
CTXH nhóm trong việc hỗ trợ PNNĐT nuôi con nhỏ thiết lập mối
quan hệ này.
3.2.3. Đưa hoạt động trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân vào trở
thành một hoạt động chủ đạo của Hội phụ nữ tại địa phương
Trong những năm qua, Hội phụ nữ huyện Quốc Oai đã có rất
nhiều hoạt động trợ giúp các hội viên của mình, tuy nhiên, đối với
nhóm PNNĐT nuôi con nhỏ thì mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ chứ
21
chưa chuyên sâu. Đễ hỗ trợ nhóm đối tượng này đòi hỏi Hội phụ nữ
phải có những biện pháp cụ thể và đưa ra những chính sách riêng và
sâu hơn nữa. Việc đưa hoạt động trợ giúp PNNĐT nuôi con nhỏ vào
trở thành một hoạt động chủ đạo của Hội sẽ giúp cho nhóm đối tượng
trên có một sân chơi riêng, một mảng riêng biệt và chuyên nghiệp, từ
đó các chị em sẽ cảm thấy tự tin hơn trong việc thể hiện bản thân, và
có những sự trợ giúp đắc lực mỗi khi cần.
3.2.4. Nâng cao năng lực của nhân viên công tác xã hội tại địa
phương
Nhân viên CTXH là một yếu tố quan trọng trong việc triển
khai các hoạt động CTXH đến cộng đồng, thực tế ở huyện Quốc Oai,
đội ngũ cán bộ NVCTXH còn thiếu và yếu, chưa được đào tạo bài
nâng cao thu nhập, phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó sẽ đề xuất các
biện pháp tác động đến cộng đồng, gia đình, cá nhân đối tượng, góp
phần quan trọng cải thiện nhận thức, năng lực, và vị thế của PNNĐT
nuôi con nhỏ, cũng như tăng năng lực đối với NVCTXH tại huyện
Quốc Oai, TP Hà Nội
KẾT LUẬN
Phụ nữ và trẻ em là những người được xem là yếu thế trong
xã hội, cả về thể chất và cả khả năng dễ dàng bị tổn thương trong bất
kỳ hoàn cảnh nào. Nhưng đối với những người phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ thì khó khăn mà họ gặp phải lại càng gấp hơn
nhiều lần: đã là phụ nữ nghèo, không có thu nhập, lại đơn thân không
chỗ dựa, đồng thời nuôi con nhỏ, rất nhiều khó khăn mà họ sẽ gặp
phải và họ phải rất cố gắng để đối diện với cuộc sống của họ. Có rất
nhiều nguy cơ có thể đến với những người phụ nữ này nếu như
không có một sự hỗ trợ phù hợp như: tụt hậu, bị bỏ rơi trong cộng
đồng, tự tin, mặc cảm, con của họ bị bỏ học, sống cuộc sống bấp
bênh và có thể bị đói nghèo nghiêm trọng…
Tuy nhiên, địa bàn rộng, lực lượng cán bộ phụ trách còn
mỏng nên dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu lớn trong thực tế địa
23