Sự tham gia của người dân trong dự án phát triển cộng đồng từ thực tiễn huyện chương mỹ, thành phố hà nội - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ XUÂN DŨNG

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG DỰ ÁN
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ XUÂN DŨNG

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG DỰ ÁN
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM TIẾN NAM

Hương, cán bộ dự án, cán bộ địa phương và người dân huyện Chương Mỹ,
thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình
hỗ trợ trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót.
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các
nhà khoa học để luận văn của tôi được hoàn chỉnh.
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn

Vũ Xuân Dũng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA
NGƯỜI DÂN TRONG DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ................... 12
1.1. Hệ thống khái niệm nghiên cứu ........................................................... 12
1.2. Lý luận dân chủ cơ sở trong dự án phát triển cộng đồng ..................... 18
1.3. Lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong dự
án phát triển cộng đồng ................................................................................ 23
1.4. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về dân chủ cơ sở trong phát triển cộng
đồng ............................................................................................................. 30
Chương 2: THỰC TRẠNG SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........................................................................................ 38
2.1.Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu....................................... 38
2.2.Thực trạng sự tham gia của người dân trong dự án phát trển cộng đồng tại
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội .......................................................... 43
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong dự án phát

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới công tác xã hội đang là ngành phát triển mạnh đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. CTXH đối với các cộng đồng yếu thế là
một lĩnh vực không còn xa lạ ở các cộng đồng Việt Nam cũng như các nước
trên thế giới. Phát triển cộng đồng hiểu đơn giản là một tiến trình giải quyết
một số vấn đề khó khăn của cộng đồng, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng,
hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của
người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn
kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ
chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng. Phương
pháp phát triển cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng
lực cho người dân tại các cộng đồng ở Việt Nam trong hơn hai thập niên đã
đạt được nhiều thành tựu, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong số ít
các nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Trong vài thập kỷ gần
đây với những chính sách đổi mới của Chính phủ trong đường lối phát triển
kinh tế đó là “Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, với các chính sách hỗ
trợ tích cực của Chính phủ cho các lĩnh vực giảm nghèo, xây dựng nông thôn
mới, cùng sự mở cửa và hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới
đã mang lại những thành tựu nhất định cho Việt Nam trong các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội như thu nhập bình quân đầu người tăng từ mức dưới 100
USD lên khoảng 2.025 USD vào năm 2014, tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58%
năm vào năm 1993 – 1994 xuống 8,4% năm 2014. (Nguồn tổng cục thống kê
năm 2015). Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Nhà nước đã chăm
lo đến đời sống của nhân dân bằng nhiều chính sách an sinh xã hội. Song bên
cạnh đó mặt trái của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước
ta đã bộc lộ nhiều vấn đề xã hội bức xúc như: Sự phân hóa giàu nghèo ngày
càng rõ rệt làm một bộ phận người dân rơi xuống dưới lưới an sinh xã hội, sự
1




viên cộng đồng, lãnh đạo địa phương, nhà tài trợ và về văn hóa – phong tục
tập quán.
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã triển khai hàng loạt các
chương trình, dự án nhằm hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng bền vững
trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố dân chủ. Dân chủ trong phát triển cộng
đồng là nhân tố quan trọng đánh giá thành công của các dự án. Đảm bảo dân
chủ là huy động sự tham gia của người dân trong việc bàn bạc, lập kế hoạch,
triển khai và giám sát công việc của dự án, góp phần phát huy nội lực, tinh
thần sáng tạo của người dân trong giải quyết các vấn đề của cộng đồng.
Quan trọng hơn, đó là việc trao quyền tự quyết và tiến tới cộng đồng tăng
năng lực.
Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu về sự tham gia của người dân
trong dự án phát triển cộng đồng dưới góc độ công tác xã hội. Vì vậy,
nghiên cứu về thực trạng sự tham gia của người dân trong dự án phát triển
cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng là hết sức cần thiết. Qua
đó, góp phần nâng cao hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong các dự án phát
triển cộng đồng tại địa phương. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài:
“Sự tham gia của người dân trong dự án phát triển cộng đồng từ thực tiễn
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, các cách tiếp cận phát triển cộng đồng dựa
trên nội lực của cộng đồng và sự tham gia của người dân nhận được sự quan
tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả
trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa
chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu.
Tác giả Hoàng Anh Dũng (2013), phát triển cộng đồng dựa vào nguồn
lực và tài sản cộng đồng, đã nhấn mạnh về phương pháp tiếp cận dựa vào nhu
cầu và tài sản cộng đồng (Kết nối mạng lưới tổ chức, cá nhân...) để phát triển.
3

4


của cách tiếp cận này áp dụng triển khai tại các cộng đồng, vùng nông thôn tại
Việt Nam, nhằm giúp cho cộng đồng tổ chức các hoạt động kinh tế, mang lại
thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng cường sự nỗ lực, tính tự chủ
của người dân tại các cộng đồng và vùng nông thôn tại Việt Nam. Cách tiếp
cận này nhấn mạnh đến sự trao quyền và sự tham gia của người dân trong
hoạt động phát triển kính tế cộng đồng. Tác giả cũng đã làm rõ một số yếu
tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong hoạt động phát triển
kinh tế cộng đồng như văn hóa cộng đồng, nhận thức của người dân và
chính quyền địa phương, trình độ chuyên môn của cán bộ thực hiện, và cách
thức thực hiện.
Vũ Hồng Hải (2016) với công trình nghiên cứu “Quản lý thảm họa dựa
vào cộng đồng từ thực tiễn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” đã mô tả sự
tham gia của người dân trong chu trình quản lý thảm họa (trước, trong và sau
thảm họa). Sự tham gia của người dân còn mang tính hính thức, chưa thực sự
chủ động, đặc biết nhóm đối tượng yếu thế (người nghèo, người khuyết tật,
người cao tuổi...) còn ít tham gia trong hoạt động quản lý thảm họa tại cộng
đồng. Do đó, khả năng phòng ngừa của nhóm đối tượng này trước những tác
động của thảm họa thiên tai còn hạn chế, dễ rơi vào tình trạng dễ bị tổn
thương. Nghiên cứu cũng đã đề xuất các bên có liên quan trong việc nâng cao
sự tham gia của người dân trong dự án quản lý thảm họa tại cộng đồng.
Theo tài liệu của CFSI (2012), lịch sử phát triển cộng đồng ở Việt Nam
được biết đến PTCĐ từ những thập kỷ 50 thông qua một số dự án “Trường
cộng đồng” của UNESCO với mô hình trường vừa là một trung tâm đóng góp
vào sự phát triển của địa phương, vừa phát triển dựa vào sự hỗ trợ của địa
phương. Ở đây học sinh không những học chữ mà còn học những kỹ năng
trồng trọt, chăn nuôi, vệ sinh...có ích cho phát triển nông thôn. Sau giải
phóng, nhất là từ thập kỷ 90, nhiều tổ chức quốc tế vào Việt Nam sử dụng

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

6


Nghiên cứu những vấn đề lý luận về sự tham gia, sự tham gia của
người dân trong dự án phát triển cộng đồng.
Khảo sát và đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham
gia của người dân trong dự án phát triển cộng đồng tại huyện Chương Mỹ,
thành phố Hà Nội.
Đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường sự tham gia của người
dân trong dự án phát triển cộng đồng từ thực tiễn huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự tham gia của người dân trong dự án phát triển cộng đồng từ thực
tiễn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các hộ dân (100 hộ dân) bao gồm những người dân sống trên địa
bàn 2 thôn Chúc Đồng 1 và Chúc Đồng 2 xã Thụy Hương, huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội. 02 cán bộ xã, 01 cán bộ dự án, 02 cán bộ thôn, 04
người dân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi về nội dung
- Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong dự án phát triển cộng
đồng từ thực tiễn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; sự tham gia của
người dân bao gồm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong dự án phát
triển cộng đồng về cái gì?
4.2.2. Phạm vi về không gian, thời gian:
- Về không gian: Nghiên cứu sự tham gia của người dân tại 02 thôn

phỏng vấn sâu 02 cán bộ xã, 02 cán bộ thôn, 01 cán bộ dự án và 04 người dân
sống. Nội dung phỏng vấn sâu tập trung vào cách tiếp cận thông tin của người
dân về dự án, người cung cấp thông tin về dự án, sự dân chủ trong bàn bạc,
đưa ra các ý kiến trong cuộc họp, người tham gia bàn bạc và nội dung công
8


việc tham gia bàn bạc, nhận thức mức độ cần thiết về sự tham gia của người
dân (dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra) cũng như các yếu tố ảnh
hưởng đến sự tham gia của người dân
- Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Phương pháp điều tra bảng hỏi là phương pháp thu thập thông tin thông
qua việc sử dụng một bảng soạn sẵn, người điều tra phát bảng hỏi, hướng dẫn
cách trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bảng hỏi. Điều
tra viên thu lại và xử lý. Phát bảng hỏi cho 100 hộ dân ở 02 thôn Chúc Đồng 1
và Chúc Đồng 2 thuộc xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà
Nội, đây là những người dân sinh sống trong địa bàn thôn. Nội dung bảng hỏi
liên quan đến sự tham gia của người dân trong dự án PTCĐ, thông qua việc
biết đến nội dung của dự án triển khai ở địa phương, mức độ cần thiết cũng
như cách thức tham gia bàn bạc những nội dung công việc của dự án, các yếu
tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người từ tác viên cộng đồng, người dân,
chính quyền địa phương, nhà tài trợ và các yếu tố văn hóa – phong tục tập
quán. Thông qua đó đề xuất một số khuyến nghị để tăng cường sự vào cuộc
của người dân trong dự án phát triển cộng đồng tại huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội.
Nhằm đánh giá về mức độ tham gia của người dân tại huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội khi triển khai dự án phát triển cộng đồng. Chúng tôi
xây dựng bảng hỏi để đánh giá về người dân biết đến các dự án và thông tin
về dự án, qua các kênh thông tin nào, người dân có nắm rõ thông tin dự án,
tham gia bàn bạc những nội dung công việc của dự án trong dự án. Đo lường

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp cho người dân trong cộng đồng nhìn nhận một
cách đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của mình trong các hoạt động chung
của cộng đồng nơi mình đang sinh sống, nhìn nhận được một cách đầy đủ về
các nguồn lực của cộng đồng, tài sản hiện có và thế mạnh của cộng đồng từ
đó nâng cao nhận thức và phát huy các giá trị truyền thống, phát huy sức
10


mạnh đoàn kết để phát triển cộng đồng bền vững. Qua đó người cán bộ và
chính quyền cơ sở có trách nhiệm trong việc góp phần thúc đẩy việc thực hiện
dân chủ cơ sở tại địa phương, có vậy thì người dân ngày càng có ý thức hơn
về trách nhiệm của họ đối với các công việc chung của cộng đồng.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về sự tham gia của người dân trong
dự án phát triển cộng đồng.
Chương 2: Thực trạng sự tham gia của người dân trong dự án phát
triển cộng đồng tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự tham gia của người
dân trong dự án phát triển cộng đồng từ thực tiễn huyện Chương Mỹ, thành
phố hà Nội

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Sự tham gia của cộng đồng là đảm bảo là đảm bảo cho những người
chịu ảnh hưởng của dự án được tham gia vào việc quyết định dự án.
Sự tham gia của cộng đồng là tìm và huy động các nguồn lực của cộng
đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu
quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước.
1.1.2. Người dân
Theo từ điển Bách khoa toàn thư “ Nhân dân hay còn gọi là người dân,
quần chúng, dân là thuật ngữ chỉ về toàn thể những con người sinh sống trong
một quốc gia”.
Quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về khái niệm nhân dân, việc hiểu
đúng khái niệm “nhân dân”, thường được sử dụng trong các văn kiện của
Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng Đảng,
trong công tác vận động nhân dân...góp phần thực hiện tốt đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Trong cuộc đời hoạt động, Chủ tịch Hồ
Chí Minh không ít lần nêu ra quan niệm về nhân dân ta. Có lúc Người nói
rằng nhân dân ta gồm “gái trai già trẻ” của “năm lớp Sĩ, Nông, Công,
Thương, Binh”. Có lúc người chỉ rõ rằng: “Nhân dân là bốn giai cấp công,
nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước”. Người còn
nhấn mạnh rằng bốn giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tử sản dân tộc
và những phần tử khác yêu nước “Đó là nền tảng của quốc dân”.
Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh thì nhân dân ta là bộ phận
gồm đông đảo những người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau và chủ
yếu là những người lao động trong xã hội. Đó là tầng lớp tri thức (Sỹ); giai
cấp nông dân – người sống bằng nghề làm ruộng (Nông); giai cấp công nhân
13


– người lao dộng chân tay, làm việc cho chủ tư liệu sản xuất công nghiệp
hoặc làm việc cho Nhà nước trong các cơ sở công nghiệp (Công); tầng lớp

đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hay tinh thần nào đấy” [27].
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rộng cộng đồng là một tập hợp dân cư có
cơ cấu tổ chức rõ ràng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau và cùng nhau chia sẻ
trách nhiệm, lợi ích mà cộng đồng mang lại. Trong đời sống xã hội, cộng đồng là
một chung chỉ một tập hợp người nhất định với 2 dấu hiệu quan trọng:
(1) Họ cùng tương tác (tác động qua lại với nhau).
(2) Họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc vài đặc
điểm vật chất hay tinh thần nào đó.
1.1.4. Dự án phát triển cộng đồng
* Dự án
Dự án là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch và sử dụng các
nguồn lực thực hiện để đạt được kết quả hướng tới một mục đích cụ thể với
nguồn ngân sách và thời gian nhất định. [20]
Dự án là một hoạt động đa nhiệm vụ có hiệu năng, chi phí, thời gian
phạm vi và yêu cầu, có thời điểm khởi đầu và điểm kết thúc với nguồn
ngân sách và một phạm vi xác định rõ ràng về việc các công việc cần phải
làm. Tập hợp của các dự án có cùng một mục đích hay chủ đề được gọi là
chương trình. Ví dụ: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo: Trong
đó bao gồm các dự án về giáo dục, Y tế, hạ tầng cơ sở[20]. Một dự án có
thể là do Chính phủ tiến hành, hoặc lớn hơn là liên Chính phủ, ở cấp vi mô
là ở một huyện, hay một tổ chức thực hiện. Mức độ quan trọng của dự án
phụ thuộc vào quy mô, tổng số vốn đầu tư, thời gian tiến hành, nguồn nhân
lực cần thiết. Nếu xét dưới góc độ cá nhân, đơn giản như một kế hoạch nhỏ
được lập lên cũng coi là một dự án như: hội nghề của thanh niên, dự án cải
tạo kênh mương nội đồng....và như vậy dự án được hiểu: “Là một tập hợp
nhiều hoạt động nhằm hoàn thành những mục tiêu cụ thể, rõ ràng trong
một khoảng thời gian xác định với một nguồn ngân sách xác định”[21].
15




đồng. Đáp ứng nhu cầu chung của nhóm đó một mặt làm cho tổng thể cộng
đồng phát triển hơn, mặt khác nó củng cố thiết chế của cộng đồng. Hơn thế
nữa, mỗi nhóm có vô số những kinh nghiệm, những kỹ năng và phương pháp
xác định nhu cầu và vấn đề. Liên kết được những tài nguyên đó lại với nhau
tức là huy động tối đa nguồn lực địa phương cho các chương trình phát triển.
Ông còn nói thêm, “khi ở một nơi nào đó, có một dự án cụ thể nào đó đeo
đuổi mục đích xây dựng mối quan hệ xã hội và mạng lưới giao tiếp ở đó sẽ có
phát triển cộng đồng” [14].
* Dự án phát triển cộng đồng
Dự án PTCĐ là dự án hướng trực tiếp vào cộng đồng nhằm mục đích
giải quyết những vấn đề của cộng đồng, hướng tới sự phát triển một cách toàn
diện cả về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường của cộng đồng thông qua việc
nâng cao năng lực của người dân, tăng cường sự tham gia của người dân và
các tổ chức của người dân. Dự án phát triển cộng đồng có thể coi là một kế
hoạch hành động có sự phối hợp của nhiều nguồn lực xã hội bao gồm bên
trong và bên ngoài cộng đồng vì mục tiêu phát triển [21].
Dự án phát triển cộng đồng không đơn giản chỉ là mang tiền đến cho
người dân để người dân thực hiện dự án hoặc thực hiện dự án để người dân
được hưởng lợi mà còn trang bị cho người dân những kiến thức, kỹ năng và
khơi dậy những tiềm năng để người dân làm chủ quá trình phát triển của
mình. Như vậy bản chất của dự án phát triển cộng đồng là mang lại sự thay
đổi xã hội theo chiều hướng tích cực hiểu theo nghĩa cụ thể đó là: “giúp người
dân cách câu cá chứ không cho họ con cá”.
Một dự án phát triển cộng đồng thành công là một dự án phải mang
tính khả thi, nó phải đem lại lợi ích cho cộng đồng, nâng cao năng lực tự quản
của cộng đồng đó. Không phải bất cứ một dự án nào được thực hiện ở một
cộng đồng đều là dự án phát triển cộng đồng. Nó là một dự án phát triển cộng
đồng khi có sự tham gia của người dân từ việc xác định nhu cầu, bàn bạc, lập
17


18


sức dân mạnh như sức nước”. Do đó , để thực hiện dân chủ Người nhấn mạnh
chữ “Dân”và “thực hành dân chủ là chìa khoá vạn năng giải quyết mọi khó
khăn”[Báo cáo khoa học đoàn thanh niên với việc thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở].
Tư tưởng lấy dân làm gốc là sách lược ngàn đời của dân tộc, là kim chỉ
nam để thực hiện công bằng dân chủ. Theo Người “Gốc có vững thì cây mới
bền, xây lầu thắng lợi trên nền tự do”.
Từ những quan điểm, những luận giải dưới nhiều góc độ khác nhau
nhưng tựu chung lại: Dân chủ là nói đến quyền làm chủ của nhân dân, quyền tự
quyết định những vấn đề của mình và của cộng đồng. Những nội dung dân chủ
trên có ý nghĩa lớn trong tiến trình thực hiện dân chủ của Đảng và Nhà nước ta
trong nhiều thập kỷ qua, những khái niệm niệm này cho đến nay vẫn còn nguyên
giá trị và được sử dụng rộng rãi.
* Dân chủ cơ sở
Dân chủ cơ sở là quyền làm chủ của nhân dân ở thôn, làng, xã trong việc
ban hành và thực hiện các quy định quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội trước
hết trong phạm vi thôn, bản, xã. Đối với chính quyền cấp cơ sở có nghĩa là cán
bộ xã, phường phải nhận thức và hành động như là những “công bộc”của dân,
tôn trọng ý kiến của nhân dân, tạo điều kiện tối đa để tiếng nói của nhân dân
được thể hiện trong những quyết định quan trọng của chính quyền [3].
Khái niệm dân chủ cơ sở thể hiện rõ ràng vai trò của người dân trong
quyết định những công việc quan trọng của cộng đồng mình. Trong giai đoạn
hiện nay, khái niệm này có ý nghĩa lớn, nó góp phần đảm bảo dân chủ cơ sở
được thực thi theo nguyên nghĩa, người dân được thực hiện quyền làm chủ của
mình. Nó cũng là quan điểm nhất quán của Đảng áp dụng trong sự nghiệp đổi
mới hiện nay để nâng cao hiệu quả thực thi Pháp lệnh dân chủ cơ sở.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status