Đánh giá kết quả quá trình giao rừng có sự tham gia của người dân thuộc dự án 3PAD tại xã quang phong, huyện na rì, tỉnh bắc kạn - Pdf 24

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
TNMT Tài nguyên môi trường
PTNT Phát triển nông thôn
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
ÔTC Ô tiêu chuẩn
D1.3 Đường kính ngang ngực
Hvn Chiều cao vút ngọn
Hdc Chiều cao dưới cành
ÔDB Ô dạng bản
QHSD Quy hoạch sử dụng
3PAD Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong
phát triển nông lâm nghiệp
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Kết quả giao rừng tại thôn Nà Buốc xã Quang Phong, huyện Na Rì năm 2014 thuộc dự án
3PAD Bắc Kạn 34
Bảng 4.2: Kết quả giao rừng tại thôn Nà Đán xã Quang Phong, huyện Na Rì năm 2014 thuộc dự án
3PAD Bắc Kạn 36
Bảng 4.3: Kết quả giao rừng tại thôn Nà Lay xã Quang Phong, huyện Na Rì năm 2014 thuộc dự án
3PAD Bắc Kạn 38
Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả giao rừng tại 03 thôn Nà Buốc, Nà Đán, Nà Lay 39
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

4.1.1 Tình hình quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của xã Quang Phong 24
4.1.2. Phân tích thực trạng tình hình sử dụng rừng của xã 25
4.2. Đánh giá kết quả và tác động của tiến trình giao rừng có sự tham gia của người dân thuộc dự án
3PAD 27
4.2.1. Đánh giá tiến trình giao rừng có sự tham gia của người dân tại xã Quang Phong 27
4.2.2. Kết quả giao rừng tại các thôn điểm có sự tham gia giai đoạn trên xã Quang Phong giai đoạn
2013-2014 32
4.2.3. Đánh giá kết quả và tác động của giao rừng có sự tham gia thuộc dự án 3PAD 40
4.3. Đánh giá về thuận lợi và khó khăn còn gặp phải trong tiến trình giao rừng 42
4.3.1. Thuận lợi 42
4.3.2. Khó khăn 42
4.4. Đề xuất một số giải pháp thực hiện việc giao rừng được hoàn thiện hơn 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1. Kết luận 45
5.2. Tồn tại 46
5.3. Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng và đất rừng là tài nguyên phong phú và vô cùng quý giá của
đất nước. Rừng không chỉ có vài trò to lớn đối với nền kinh tế quốc dân,
rừng còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường
sinh thái, điều hòa khí hậu.
Việt Nam có khoảng 25 triệu người dân ở vùng nông thôn miền
núi, đời sống chủ yếu của họ phụ thuộc vào rừng và các hoạt động lâm
nghiệp liên quan. Rừng và đất rừng đóng vai trò là tư liệu sản xuất đặc
biệt quan trọng đối với vấn đề xóa đói, giảm nghèo và sự phát triển kinh
tế vùng. Bên cạnh những thiệt hại do chiến tranh đem lại, thì nhận thức
của con người về rừng còn nhiều hạn chế. Vì vậy trong quá trình phát
triển con người đã chặt phá, khai thác tài nguyên rừng bừa bãi, phá rừng

Đánh giá những kết quả đạt được của chính sách giao rừng có sự
tham gia của người dân thuộc dự án 3PAD tại xã Quang Phong, huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn để nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển
rừng bền vững.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của chính sách giao rừng có sự tham gia của người
dân thuộc dự án 3PAD tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
2
- Đánh giá hiệu quả của các bên liên quan trong tiến trình giao rừng có
sự tham gia của người dân thuộc dự án 3PAD.
- Đề xuất một số phương án và giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu
quả phương án giao rừng có sự tham gia của người dân.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ
thống và củng cố lại những kiến thức đã học.
- Giúp sinh viên bước đầu làm quen, tìm hiểu thêm về kiến thức
điều tra ngoài thực địa để không những hoàn thiện về mặt lý thuyết mà
còn cả về mặt thực hành, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng học tập.
- Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có thêm kiến thức để
vững vàng bước vào cuộc sống sau này.
1.4.2. Trong thực tiễn sản xuất
- Trên cơ sở giao rừng có sự tham gia để đảm bảo sự thống nhất
trong việc quản lý của Nhà nước về các loại rừng, phát huy tính tự chủ và
nâng cao hiệu quả sử dụng rừng của các tổ chức, cá nhân được giao quyền
sử dụng rừng.
- Giao rừng có tham gia của người dân đóng vai trò rất quan trọng
trong việc đảm bảo quyền sử dụng đất lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên
rừng của người dân nhằm nâng cao điều kiện sống và cải thiện công tác
quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của chính họ.

sớm. Ngay từ năm 1983, Ban Bí Thư (Khóa V) đã có chỉ thị 29-CT/TƯ
ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng.
- Luật Đất đai số 45/2013/QH13.
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2004.
- Nghị định số 01/CP ngày 01/01/1995 của Chính Phủ quy định về việc
giao khoán đất sử dụng vào mục đính sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp,
nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước.
- Nghị định số 02/CP ngày 15/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
5
- Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc
hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ và Phát triển rừng.
- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyền
hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, được
khoán rừng và đất lâm nghiệp.
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng
Chính Phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng.
- Quyết định số: 2740/QĐ/BNN-KL ngày 20/9/2007 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT phê duyệt Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007 - 2010.
- Quyết định số 157/QĐ-BNN-TCLN ngày 25/01/2014 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt kết quả Kiểm kê rừng tỉnh Bắc Kạn.
- Quyết định số 2838/2009 ngày 21/9/2009 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc
phê duyệt đề án giao rừng, cho thuê rừng tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2009 - 2015.
- Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 03/9/2003 của
Bộ Nông Nghiệp và Phát tiển nông thôn và Bộ Tài chính về hướng dẫn thực
hiện Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyền
hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, được

công cho hình thức quản lý đó (Ahmed, Miyan Rukunuddin,1995) [10].
Tại Indonesia, các nghiên cứu về Lâm nghiệp xã hội do FAO và các
trường Đại học Gadjah Mada và Đại học Wageningen đã làm rõ những thay
đổi của chính phủ nhằm hỗ trợ giải pháp lâm nghiệp xã hội thông qua việc
vận dụng những kinh nghiệm của các nước khác và thử nghiệm bằng điều
kiện thực tế của đất nước mình. Nghiên cứu và đào tạo về quản lý rừng có sự
tham gia đã rất được coi trọng tại Indonesia (RWEDP, 1994) [14] .
Tại Nepal, một loạt các nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống của
ICIMOD đã làm rõ các hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng thành công
7
của Nepal, đặc biệt là hình thức Nhóm sử dụng rừng (User groups) tiêu biểu
từ 3 vùng đại diện: Sankhawasabha, Dhankuta và Ilam. Các nghiên cứu
chuyên đề này đã đề xuất cho phạm vi toàn quốc những cơ chế và quá trình
cần hoàn thiện trong quản lý tài nguyên rừng có hiệu quả hơn tại Nepal
(Daha, Dilli Ram 1994) [12] .
Tại SriLanka, đất nước này cũng đã thử nghiệm hình thức quản lý rừng có
sự tham gia dựa trên kinh nghiệm của các nước lân cận. Tuy nhiên, do thiếu sự
tham gia thích hợp, do khung pháp lý chưa hoàn thiện nên thử nghiệm đã không
thành công trong những năm đầu. Các nghiên cứu đã đề xuất có sự thay đổi chính
sách và luật cần có những sự cải cách, đồng thời cũng cần có sự hoàn thiện về việc
thực hiện hệ thống cộng quản tài nguyên rừng [11].
Tại Ghana, một cơ chế khá cân bằng giữa khuyến khích lợi ích vật chất
và qui luật cung cầu hài hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa người sử dụng
và người quản lý tài nguyên rừng đã được thử nghiệm. Cơ chế này đã khuyến
khích việc quản lý tài nguyên rừng hướng tới sự bền vững về sinh học, sự
công bằng về xã hội và hiệu quả về mặt kinh tế. Cơ chế rừng cộng quản đã
được thực hiện đến cấp huyện. Các khuyến khích về chính sách có thể được
sử dụng để tăng cường hiệu lực cho việc hỗ trợ sự hài hoà và đảm bảo giữa
quyền lợi và trách nhiệm cho những nhóm sử dụng đặc biệt trong hệ thống
quản lý sinh học, đặc biệt các địa phương, các loài nhất định (Sargent,

nhiên, trên thực tế quá trình đổi mới bắt đầu sớm hơn nhiều. Năm 1981,
Ban chấp hành TW Đảng đã ban hành Chỉ thị 100/CT-TW mở rộng khoán
sản phẩm đến nhóm và người lao động, mà thực chất là khoán đến hộ gia
đình sản xuất nông nghiệp. Tiếp theo đó, để tăng vai trò kinh tế của hộ gia
đình nông dân, Bộ Chính trị đã đề ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp với nội dung cơ bản là giải phóng triệt để sức sản
xuất nhằm khai thác hợp lý tiềm năng lao động, đất đai, lấy hộ gia đình
làm đơn vị kinh tế tự chủ.
Quốc hội và Chính phủ đã ban hành các luật và các chính sách về
lâm nghiệp gồm:
9
a/ Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng được ban hành năm 1991 đã đưa
ra khuôn khổ ban đầu về các chính sách liên quan đến vấn đề gia đất lâm
nghiệp cho các đối tượng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát
triển lâm nghiệp.
b/ Nhà nước cũng đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến
khích sử dụng đất trồng rừng và bảo vệ rừng như Quyết định số 264/CT
ngày 22/7/1992 của HĐBT Bộ trưởng và Quyết định 3267/CT ngày
15/9/1992 về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi trọc,
rừng, bãi, bồi ven biển và mặt nước.
10
2.3.3. Giai đoạn 1994 - 2000
Bước vào năm 1994 thì Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chủ
trương, nghị định nhằm thực hiện triệt để và cụ thể trong công tác giao rừng.
Nghị quyết Trung ương lần thứ V về tiếp tục đổi mới và phát triển
nông thôn, đã nhấn mạnh “Đổi mới cơ chế ngành lâm nghiệp phổ biến
giao khoán rừng và đất rừng phù hợp với quy định và phương thức phát
triển từng vùng, từng loại rừng”.
2.3.4. Giai đoạn năm 2000 đến nay
Định hướng của chính sách lâm nghiệp cũng được đề cập trong

+ Phía tây giáp huyện Chợ Mới;
+ Phía nam giáp xã Đổng Xá và xã Dương Sơn;
+ Phía Bắc giáp xã Hữu Thác và xã Côn Minh.
Giao thông xã còn nhiều khó khăn, ngoài tuyến quốc lộ 3B chạy dọc xã
đã được nhựa hóa và đang được mở rộng, tất cả các tuyến đường liên thôn
còn lại trong xã đều là đường đất, đường nhỏ hẹp. Trong kỳ quy hoạch tới cần
nâng cấp, mở rộng nhằm phục vụ nhu cầu đi lại cho nhân dân trong xã.
2.4.1.2. Địa hình
Xã Quang Phong có địa hình mang những nét đặc trưng của một xã
miền núi phía Bắc. Địa hình, địa mạo tương đối phức tạp đa dạng, đồi núi
chiếm trên 90% tổng diện tích tự nhiên với độ cao thấp khác nhau. Địa hình
nghiêng dần từ phía Tây - Bắc sang phía Đông - Nam.
Trên địa bàn xã xen kẽ giữa dãy đồi núi cao là các dãy thung lũng tạo
thành những khu cánh đồng nhỏ hẹp đã gây ra những khó khăn nhất định cho
sản xuất nông nghiệp và giao thương với các vùng miền lân cận. Do ảnh
hưởng của địa hình và cấu tạo địa chất đã chi phối mạng lưới sông suối khá
phức tạp trên địa bàn xã.
Phần lớn đồi núi sát thềm sông, thềm suối đã khống chế quá trình bồi tụ
phù sa, chính vì vậy trong xã không có những cánh đồng rộng lớn mà chỉ có
những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ, hẹp dọc theo các triền sông, triền suối.
2.4.2. Thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Quang Phong là 4.550,39 ha với các
loại đất chính như sau:
13
* Nhóm đất phù sa (P): gồm 1 đơn vị đất
- Đất phù sa ngòi suối (Py): Gồm những dải đất tương đối hẹp hình
thành từ các vật liệu phù sa suối hoặc sông nhỏ trên địa bàn. Do các sông nhỏ
và suối ngắn, tốc độ dòng chảy lớn nên vật liệu bồi tích thường thô, rất ít phần
tử mịn, các vật liệu thô như mảnh đá, viên cuội là những sản phẩm đồi núi
hay thềm cao xô xuống.

cao, độ dày tàng đất mịn mỏng.
2.4.3. Khí hậu, thủy văn
2.4.3.1. Khí hậu
Khí hậu của xã mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ
rệt: Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuất hiện gió lốc, mưa đá và lũ quét
cục bộ; mùa đông lạnh, khô hanh, có gió mùa đông bắc. Do địa hình chia cắt
mạnh nên hình thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau.
- Nhiệt độ trung bình năm 21,4
0
C, nhiệt độ cao nhất 36,3
0
C, nhiệt độ
thấp nhất 1 - 3
0
C. Khí hậu trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ bình quân từ 25
0
C - 27
0
C.
+ Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình từ
15
0
C - 20
0
C.
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600 mm.
Nhìn chung điều kiện khí hậu của xã thuận lợi cho sự phát triển của nhiều
loại cây trồng, nhất là các loại cây dược liệu và cây công nghiệp lâu năm.
2.4.3.2. Thủy văn

thương mại luôn được quan tâm sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm thu
hút và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng các cơ sở sản xuất
kinh doanh, song tốc độ phát triển còn chậm. Trong đó:
- Ngành trồng trọt
Nhân dân trong xã chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp và mang tính tự cung, tự cấp, nông sản hàng hóa cũng ít, chất lượng
chưa cao song người dân đã có nhiều nỗ lực vượt qua khó khăn do thiên tai,
dịch bệnh gây ra, tiếp tục duy trì sự phát triển ổn định. Tổng diện tích gieo
trồng cả năm là 467 ha.
Tổng diện tích cả năm (lúa, ngô) đạt được so với Nghị quyết của Đảng ủy
giao là: 337,65/340 ha ( trong đó: lúa là 161,39 ha, ngô là 176,26 ha) đạt 99,31%.
16
Hệ số sử dụng đất là 1,7 lần. Tổng sản lượng lương thực cả năm (lúa,
ngô) đạt 1.493,54 tấn (Nghị quyết Đảng ủy giao là 1.500 tấn) đạt 99,57%;
bình thường lương thực đầu người: 865,046kg/người/năm (Nghị quyết Đảng
ủy giao là 890kg /người/năm) đạt 97,19%.
- Ngành lâm nghiệp
Thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác quản lý bảo vệ rừng được tốt,
không có cháy rừng xảy ra. Công tác trồng rừng 147 năm 2013: Tổng diện tích
thiết kế là 74,52 ha, trong đó diện tích thực hiện là 71,02 ha, diện tích không thực
hiện là 3,50 ha. Chỉ đạo nghiệm thu rừng trồng năm 2013, tổng diện tích đạt tiêu
chuẩn nghiệm thu là 65,32 ha/71,02 ha. Trong năm 2013, UBND xã đã xác nhân
khai thác 22 giấy phép khai thác gỗ vườn nhà và cây trồng phân tán với tổng khối
lượng cấp là 207.054 m
3
và 3,5 tấn lâm sản phụ (song, mây).
- Ngành chăn nuôi
Thường xuyên chỉ đạo theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc,
gia cầm, tổ chức phun thuốc tiêu độc khử trùng được 03 đợt/78 lít hóa chất.
Tổng đàn trâu, đàn bò hiện có 618 con, giảm 27 con so với cùng kì năm

năng, nhà hiệu bộ hiện nay mới chỉ có nhà công vụ giáo viên .Trường có tổng
số 11 giáo viên và học sinh là 89 cháu.
* Y tế
Xã có trạm y tế tại trung tâm xã có 2 nhà cấp IV, 4 phòng, diện tích
sàn 100m
2
5 y, bác sỹ cơ bản đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh ở tuyến
xã. Mạng lưới y tế xã đến thôn bản vẫn được duy trì 16/16 thôn, bản có y tá.
Cơ bản đã đảm bảo khá tốt công tác khám chữa bệnh tại cơ sở. Tỷ lệ tiêm
phòng các loại vác xin cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt 100%.
* Cơ sở hạ tầng
- Giao thông
+ Hệ thống đường Quốc lộ: xã có đường Quốc lộ 3b đi qua xã với
chiều dài 2,5 km bắt đầu từ cua Gương cầu đến kéo Cạm Peo, hiện đang được
thi công nâng cấp cải tạo.
+ Hệ thống đường giao thông liên xã: Đường liên xã từ quốc lộ 3b đi xã
Dương Sơn chiều dài 6,5 km bắt đầu từ cầu Quang Phong đến Kéo Lịa đã
được dải nhựa
+ Nhìn chung hệ thống đường giao thông còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng
được yêu cầu của sản xuất và đời sống dân sinh. Ngoại trừ tuyến đường liên xã từ
Nà Buốc đi Kéo Lịa đã được trải nhựa thì các tuyến đường còn lại, đặc biệt là
đường liên thôn và ngõ xóm chủ yếu là đường đất nên mùa mưa đường bị lầy lội
và không thể thông xe.
18
Hệ thống đường nội đồng của xã toàn bộ là đường đất nhỏ yếu, đường
lâm nghiệp chưa có, do đó rất khó khăn trong việc cơ giới hoá và đưa tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào trong nông nghiệp, dẫn đến năng suất lao động trong
nông nghiệp còn thấp.
- Thuỷ lợi
+ Hiện trạng các công trình đầu mối: Hiện tại toàn xã có 13 đập dâng.

- Đánh giá kết quả và tác động của tiến trình giao rừng có sự tham gia
của người dân thuộc dự án 3PAD.
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quá trình giao rừng có sự
tham gia của người dân.
- Đề xuất một số phương án và giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu
quả phương án giao rừng có sự tham gia của người dân.
3.4. Phương pháp tiến hành
3.4.1. Phương pháp tiếp cận
Tổ chức các buổi họp thôn, thảo luận và thu thập ý kiến của người dân.
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng
trong việc tiếp cận, điều tra, lập kế hoạch - phương án sẽ giúp cho việc đảm
bảo sự tham gia của người dân trong quá trình giao rừng, giảm thiểu xung đột
và xác định các tiềm năng, cơ hội phát triển của đất lâm nghiệp giúp cho các
cấp Chính quyền quản lý đất đai có hiệu quả hơn.
20
- Sử dụng một số công cụ của phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
có sự tham gia của người dân (PRA) gồm:
+ Phỏng vấn hộ, thảo luận nhóm, họp thôn.
+ Sử dụng sơ đồ VENN để phân tích tầm quan trọng và sự ảnh hưởng
của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội đối với công tác quy hoạch sử
dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân.
Tổ chức một cuộc họp tại xã để triển khai các hoạt động về giao rừng.
Cuộc họp này bao gồm sự tham gia của các bên liên quan: tổ công tác giao rừng,
đại diện nông dân (già làng, chủ trang trại, ) đại diện cá nhân, tổ chức được tỉnh
giao rừng, cho thuê rừng trên địa bàn của xã.
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1. Kế thừa các tài liệu sẵn có
- Thu thập về điều kiên tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu,
thủy văn.
- Thu thập về điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, lao động , y tế, giáo dục, cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status