Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất Dong riềng của hộ gia đình tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HÀ THỊ THƠM

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT DONG RIỀNG CỦA
HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ CÔN MINH - HUYỆN NA RÌ
TỈNH BẮC KẠN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn
Khóa học : 2010 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Tống Thị Thùy Dung
Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của cô giáo: ThS. Tống Thị Thùy Dung. Số liệu và kết quả
nghiên cứu trong khóa luận này hoàn toàn trung thực, chưa sử dụng để bảo vệ
một công trình khoa học nào.
Tác giả

Hà Thị Thơm


nhiên, khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót vì vậy, tôi kính
mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các quý thầy cô giáo và các bạn sinh
viên để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Thái nguyên, tháng 06 Năm 2014
Sinh viên Hà Thị Thơm

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2013 của xã Côn Minh 21
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế trong 3 năm 2011 - 2013 25
Bảng 3.3: Tình hình nhân khẩu và lao động xã Côn Minh năm 2013 29
Bảng 3.4: Diện tích, năng suất và sản lượng Dong riềng của xã Côn Minh 34
Bảng 3.5: Tình hình giá Dong riềng và Sắn của xã Côn Minh qua 3 năm
2011 - 2013 34
Bảng 3.6: Một số thông tin chung về các hộ điều tra 35
Bảng 3.7: Chi phí giống Dong riềng năm 2013 37
Bảng 3.8: Ngày công lao động và chi phí lao động trong sản xuất 37
Dong riềng 37
Bảng 3.9: Diện tích và cơ cấu trồng Dong riềng của hộ nông dân năm 2013. 39
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến hiệu quả sản xuất Dong riềng
năm 2013 42
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của trình độ văn hoá đến chi phí sản xuất Dong riềng
năm 2013 43
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của trình độ văn hoá đến hiệu quả sản xuất Dong riềng
năm 2013 45
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của các loại đất đến chi phí sản xuất Dong riềng

15 KH - KT Khoa học kỹ thuật
16 KTNN Kinh tế nông nghiệp
17 PTNT Phát triển nông thôn
18 PGS.TS. Phó giáo sư tiến sĩ
19 TS Thạc sĩ
20 TSCĐ Tài sản cố định
21 TB Trung bình
22 TH Tiểu học
23 THCS Trung học cơ sở
24 UBND Ủy ban nhân dân MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa của khóa luận 2
3.1. Ý nghĩa trong học tập 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
4. Bố cục của khóa luận 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Cơ sở lý luận về hộ nông dân 4
1.1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 5

3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại các hộ điều tra 33
3.2.1. Tình hình sản xuất 33
3.2.2. Tình hình tiêu thụ 34
3.3. Tình hình sản xuất Dong riềng nông hộ tại 3 thôn 35
3.4. Kết quả sản xuất Dong riềng tại xã Côn Minh năm 2013 37
3.4.1.Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế qua kết quả điều tra sản xuất Dong
riềng tại xã Côn Minh năm 2013 38
3.4.2. Ảnh hưởng của Trình độ văn hoá đến kết quả điều tra Dong riềng tại xã
Côn Minh năm 2013 43
3.4.3. Ảnh hưởng của các loại đất đến kết quả sản xuất Dong riềng 46

3.4.4. Một số nhân tố khác ảnh hưởng đến năng suất Dong riềng 49
3.4.5. So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất giữa Dong riềng và Sắn năm 2013 50
3.5. Thuận lợi và khó khăn trong quá trình đầu tư và sản xuất Dong riềng. 50
3.5.1. Thuận lợi 50
3.5.2. Khó khăn 51
CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG 53
4.1. Quan điểm - định hướng - mục tiêu 53
4.2. Các giải pháp 53
4.2.1. Giải phát về kỹ thuật 53
4.2.2. Giải pháp về vốn 53
4.2.3. Giải pháp về quản lý, chính sách 54
4.2.4. Giải pháp về thị trường 54
4.2.5. Giá cả 55
4.2.6. Một số giải pháp canh tác bền vững đối với cây Dong riềng 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
1. Kết luận 56
2. Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58


sắn. Những tỉnh miền núi như Bắc kạn có tiềm năng đất dốc, cây Dong riềng
là cây giảm nghèo và làm giàu nên được thâm canh hợp lý kết hợp chế biến.
Những năm gần đây, cùng với việc mở rộng diện tích, thu nhật từ cây
Dong riềng cũng tăng lên đáng kể, nhiều hộ đã đạt thu nhập trên 20 triệu đồng
mỗi vụ. Tuy nhiên, hiện nay tại Côn Minh đang tồn tại một nghịch lý là diện
tích trồng Dong riềng đang giảm xuống Tình hình tiêu thụ, chế biến dong
riềng bị ảnh hưởng do giá bán sản phẩm củ và tinh bột dong riềng thấp, người

2

dân có tâm lý không thu hoạch, đồng thời một số cơ sở chế biến dừng sản
xuất do giá bán tinh bột thấp không đáp ứng được chi phí hoạt động chế biến,
cho dù cây Dong riềng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với cây
lúa hoặc cây ngô. Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là nơi tiêu thụ bột
dong gặp khó khăn, miến dong cũng không tiêu thụ hết, diện tích trồng chưa
được tập trung phân tán nhỏ lẻ, khâu vận chuyển từ nơi trồng đến khu thu
mua,các phân xưởng còn gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ thực tế đó, đòi hỏi sự xem xét tình hình sản xuất Dong
riềng của địa phương, đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế của cây trồng là
một trong những cơ sở để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và
hiệu quả sản xuất Dong riềng để giúp nông hộ sản xuất Dong riềng có hiệu
quả hơn. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất
Dong riềng của hộ gia đình tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
sẽ góp phần giải quyết các vấn đề trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả kinh tế cây Dong riềng của hộ nông dân tại xã
Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn và qua đó đề xuất một số giải pháp
nhắm phát triển sản xuất Dong riềng, nâng cao thu nhập đời sống cho hộ nông
nhân dân.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Các giải pháp và định hướng

4

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở lý luận về hộ nông dân
1.1.1.1. Khái niệm về hộ nông dân
Nghị quyết 10 của BCT (5/4/1988) ra đời đã khẳng định hộ nông dân là
một đơn vị kinh tế cơ sở. Nông hộ được hiểu là hộ có phương tiện kiếm sống
từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất. Luôn nằm
trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một
phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh.
1.1.1.2. Đặc điểm của hộ nông dân
Theo tạp chí ngân hàng số 75/2003, quan điểm của giáo sư Frank Ellis và
quan điểm của giáo sư Đào Thế Tuấn thì hộ gia đình có những đặc điểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất
vừa là một đơn vị tiêu dùng.
- Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng biểu hiện ở trình độ và phát triển
của hộ và từ tự cung tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình
độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường.
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia các hoạt
động phi nông nghiệp với cá mức độ khác nhau, khiến cho khó có giới hạn
thế nào là một hộ nông dân.
- Khả năng của hộ nông dân chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu tái sản xuất
giản đơn nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất rất là ruộng đất và lao động.
- Sản xuất kinh doanh chịu nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan trong

theo công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định [1] .
Khi bắt tay vào sản xuất, nhà sản xuất có nhiều cách phối hợp các yếu tố
đầu vào với các công nghệ khác nhau. C.Mác nói rằng “Xã hội này khác xã hội
khác không phải sản xuất ra cái gì mà sản xuất ra cái đó bằng cách nào” [1].
Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng nền kinh tế chịu sự chi phối
bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, trong điều kiện nhu cầu của toàn xã hội về
hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng lên. Vì vậy, bắt buộc xã hội phải lựa
chọn, từng cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lựa chọn, sao cho sử dụng một
nguồn lực nhất định, phải tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ cao tối
đa nhất. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội và từng cơ sở
sản xuất, kinh doanh .

6

Nói cách khác trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận cho mình các cơ sở
sản xuất, kinh doanh ở một mức độ sản xuất nhất định phải tính toán làm sao
để có chi phí vật chất và chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp
nhất. Có như vậy thì lợi nhuận của nhà sản xuất cũng như lợi ích của người
lao động và toàn xã hội mới được nâng lên, nguồn lực được tiết kiệm. HQKT
là sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn lực [3].
Hiệu quả có nhiều loại như: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, HQKT,
hiệu quả sản xuất, hiệu quả xã hội, tuy vậy HQKT là trọng tâm nhất.
QKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng các hoạt động
kinh tế. Vì vậy nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế là nâng cao HQKT.
HQKT là thước đo, một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức sản
xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng kết hợp các yếu tố đầu
vào của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như toàn bộ nền
kinh tế. Có thể nói HQKT là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất
lượng HQKT và phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là đặc lượng của mọi
nền sản xuất xã hội [2].

giá theo những góc độ khác nhau.
Bản chất của hiệu quả kinh tế trong nền sản xuất xã hội là thực hiện
những yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian lao động trong sử dụng các
nguồn lực xã hội. Điều đó chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác
định bằng tương quan so sánh với lượng kế quả hữu ích thu được với lượng
hao phí bỏ ra.
Trên quan điểm toàn diện, có ý kiến cho rằng đánh giá hiệu quả kinh tế
không thể loại bỏ mục tiêu nâng cao trình độ về văn hóa, xã hội và đáp ứng
các nhu cầu xã hội ngày một tốt hơn cùng với việc tạo ra môi trường bền
vững. Điều đó thể hiện mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và
hiệu quả môi trường hiện tại và lâu dài. Đó là quan điểm đúng đủ trong kinh
tế vi mô và kinh tế vĩ mô phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay.
1.1.2.3. Một số loại hiệu quả cơ bản
- Hiệu quả được nhắc đến nhiều trong cuộc sống, nó được hiểu trên
nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau. Khi nói đến hiệu quả thấy rằng hoạt động
đó đạt kết quả tốt, tiết kiệm nguồn lực, được nhiều người chấp nhận [3].
- HQKT là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động sản xuất, kinh doanh. Phản ánh sản lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường, với chi phí nguồn lực bỏ ra

8

thấp và đạt mục tiêu sống còn của cơ sở sản xuất, kinh doanh là lợi nhuận và
tối đa hoá lợi nhuận.
- HQKT xã hội là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mục
tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí
để có được những kết quả đó. HQKT biểu thị mối tương quan giữa các kết
quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội, với chi phí bỏ ra để đạt
được kết quả đó. Do vậy, HQKT - xã hội phản ánh một cách tổng quát dưới
góc độ xã hội.

thân lá.
- Năm tháng cuối là thời kỳ củ phình to, tích lũy tinh bột. Thời kỳ này được
nhận biết từ khi Dong riềng đẻ nhánh đông đặc kín đất và cây bắt đầu ra hoa.
- Sau 12 tháng cây sinh trưởng trở lại: củ non nảy mầm, củ chính bị
sượng, tinh bột trong củ giảm dần.
- Tỷ lệ các loại dinh dưỡng đạm, lân, kali đối với Dong riềng: N: P
2
O
5
:
K
2
O theo tỷ lệ 2:1:1.
1.1.4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc Dong riềng[17]
* Thời vụ trồng
Dong riềng là cây dài ngày, chịu hạn tốt, chịu rét khá. Do vậy, có thể
trồng quanh năm trừ những tháng quá nắng nóng hoặc quá rét. Tuy nhiên thời
vụ thích hợp nhất nên trồng từ tháng 2 đến tháng 5, cụ thể từ 5/2 đến 5/3.
Trồng sau 6-8 tháng, cây có thể thu hoạch để lấy củ tươi; trồng sau 10- 12
tháng, có thể thu hoạch để chế biến tinh bột.
* Chọn củ giống
- Chọn củ giống đồng đều, đúng giống, không bị trầy xước và sạch
bệnh.
- Củ giống có nhiều mầm phát triển tốt, dùng tay bẻ mỗi mầm củ theo
hình ô van để trồng. Tuy nhiên, nên dùng thêm vôi bột hoặc tro bếp, để chấm
vị trí bẻ mầm trước khi trồng 2-3 ngày. Điều này giúp củ giống nhanh liền
sẹo, tránh bị nhiễm bệnh hoặc thối củ khi gặp thời tiết bất thuận.
* Chuẩn bị đất trồng
- Cây dong riềng là loại cây có thể trồng trên nhiều lại đất như: đất đồi
núi, đất vườn nhà, đất bạc màu, đất mặn …

* Vun gốc:
- Vun gốc cho cây chia làm 2 thời điểm.
+ Vun gốc lần 1, kết hợp nhặt cỏ sau khi bón thúc lần 1 khoảng 1
tháng.
+ Vun gốc lần 2 vào thời điểm bón phân thúc phân lần 2 tức sau trồng 4
tháng và kết hợp nhặt cỏ dại.
- Mỗi lần vun xới xong, nếu có mùn rác, mục hoặc trấu thì phủ vào gốc
cây giúp cho củ to và năng suất cao.
1.1.5. Giá trị kinh tế của cây Dong riềng[12]
Dong riềng được trồng lấy củ dùng làm nguyên liệu cho ngành công
nghiệp chế biến như: chế biến tinh bột, lấy bột làm miến, bánh, hạt chân châu
nấu chè và các sản phẩm khác,… mang lại kinh tế rất cao cho người trồng và
chế biến. So với một số cây trồng, Dong riềng có khả năng thích nghi cao với
điều kiện ngoại cảnh và chống chịu tốt với nhiều loại sau bệnh. Hơn nữa,
Dong riềng còn là cây trồng dễ tính có thể trồng trên nhiều địa hình khác nhau
như: có thể trồng ở ruộng bậc thang hoặc tận dụng đất đồi, vườn nhà mà vẫn
cho năng suất,thích nghi với nhiều kiểu khí hậu, chịu nóng, chịu lạnh, chịu
bóng trồng Dong riềng không sợ bị mất mùa.
- Hiện nay, Dong riềng là cây trồng được bà con lựa chọn dễ trồng
thâm canh, phát triển hàng hóa và đạt giá trị kinh tế cao.
- Trung bình một ha trồng 1,5 - 2 tấn củ, sau 8 - 10 tháng có thể cho thu

11
hoạch. Năng suất trung bình đạt 50 - 120 tấn củ tươi/ha. Nếu trồng ở đất tốt,
một khóm có thể thu được 20 - 40kg, thân lá tận dụng cho chăn nuôi, làm phân
hữu cơ, lá dùng gói bánh, Dong riềng có độ che phủ đất dốc lớn, trồng vào mùa
xuân, thu hoạch giữa mùa khô nên có tác dụng hạn chế dòng chảy bảo vệ đất dốc
chống được xói mòn. Ngoài ra Dong riềng còn có giá trị trong y học.
- Một ha trồng Dong riềng thu nhập từ củ khoảng 80 - 100 triệu đồng/
năm, trừ chi phí khoảng 20 - 25 triệu đồng, lãi trung bình khoảng 60 - 80 triệu

trong những năm qua xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện có
hiệu quả ở nhiều địa phương. Trong đó hoạt động chế biến các loại sản phẩm
cây trồng, vật nuôi sản xuất tại chỗ để tạo sản phẩm có giá trị cao phục khẩu
vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu đã được khuyến khích. Nhiều lại sản
phẩm đã được tổ chức sản xuất ở quy mô làng nghề. Miến dong là một loại
sản phẩm chế biến từ tinh bột của Dong riềng, một loại cây trồng phù hợp với
nhiều vùng đất miền núi. Nhiều địa hình cấp xã, huyện ở các tỉnh miền núi đã
chọn cây Dong riềng và sản phẩm miến Dong là sản phẩm chủ lực trong cơ
cấu thu nhập từ trồng trọt của nhiều hộ nông dân.
Các làng nghề miến Dong nổi tiếng ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên,
Huyện Na Rì, huyện Ba Bể - Bắc Kạn, huyện Nguyên Bình - Cao Bằng,…
Trong một số năm qua đã nâng diện tích trồng Dong riềng lên hàng nghìn ha,
do áp dụng giống mới nên sản lượng củ thu được lên tới hàng vạn tấn. Từ củ
Dong riềng hàng nghìn hộ dân đã có thêm việc làm để nâng cao thu nhập
bằng việc sản xuất miến, góp phần cải thiện tích cực cuộc sống gia đình cũng
như điều kiện kinh tế xã hội của địa phương.
1.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại tỉnh Bắc Kạn
Trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng đã khẳng định ưu thế của
mình trong việc giúp người dân xoá đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả. Từ
chỗ chỉ được canh tác và chế biến tại một số thôn thuộc xã Côn Minh (Na Rì).
Thì nay đã có rất nhiều xã và huyện đã đưa cây dong riềng vào canh tác. Sản
phẩm miến dong Na Rì, Ba Bể… được thị trường trong và ngoài tỉnh ngày
càng ưa chuộng.[13]
Hiện nay cây Dong riềng mang lại thu nhập từ 80- 90 triệu đồng/ ha
cho nông dân, chủ yếu là người dân tộc ở Bắc Kạn. Chế biến tinh bột dong
riềng cũng mang lại lợi nhuận cao, giải quyết việc làm cho nhiều lao động nên

13
đến nay toàn tỉnh có 108 nhà máy, dây chuyền, cơ sở chế biến tinh bột dong
riềng ở khắp các địa phương trong tỉnh.

14
khoảng một nửa so với năm trước, tuy nhiên thực hiện quy hoạch vùng trồng
theo sự chỉ đạo của huyện sẽ đảm bảo được đầu ra cho củ dong của người
nông dân. Mặt khác, hơn 20 cơ sở chế biến tinh bột, sản xuất miến dong của
xã cũng yên tâm, bởi đã có các vùng trồng quy hoạch sẽ đảm bảo cung cấp đủ
nguyên liệu cho các cơ sở này chế biến, sản xuất. Nghề miến dong Côn Minh
(Na Rì - Bắc Kạn) đã bước đầu chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài tỉnh.
Nghề làm miến dong đã thực sự góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân
xã vùng cao này. Cùng với việc phát triển nghề làm miến dong, xã Côn Minh
đã có chủ trương mở rộng vùng trồng cây dong riềng, tạo vùng nguyên liệu tại
chỗ để sản xuất miến dong. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là khi diện tích trồng
dong riềng tăng thì nỗi lo về đầu ra cho loại cây này cũng tăng theo.[16]
Vụ năm nay giá tinh bột giảm nên giá thu mua củ dong tại Côn Minh
từ 1.200 -1.000 đồng/kg. Tuy mất giá nhưng sau khi hạch toán trừ chi phí,
mỗi 1.000m
2
dong người dân vẫn có thể thu lãi từ 3 triệu đồng trở lên. Cây
dong riềng dễ trồng, ít sâu bệnh, chi phí chăm sóc thấp, năng suất cũng như
sản lượng luôn đạt cao nên đã đem lại nguồn thu đáng kể, giúp nhiều hộ đồng
bào xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả.
Năm 2009 được sự hỗ trợ về cơ chế, giống, vốn, phân bón của Nhà
nước, cây dong riềng ở Côn Minh đang ngày càng phát huy hiệu quả giúp dân
xóa đói, giảm nghèo và làm giàu. Mỗi vụ sản xuất, các cơ sở chế biến tinh bột
dong trên địa bàn thu hút từ 220-240 lao động. Lãnh đạo xã nhận định: Cây
dong riềng giúp người dân có việc làm và thu nhập trong vụ 3 (vụ trước đây
dân thường không canh tác gì); tình trạng khai thác rừng trái phép cũng vì thế
mà giảm đáng kể. Thu nhập từ cây dong riềng giúp 3,8% số hộ xây dựng
được nhà ở kiên cố, khang trang; 96,1% nhà bán kiên cố. Các ngành dịch vụ
phát triển, sức mua của người dân tăng mạnh. [14]


a. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Sử dụng các số liệu đã thống kê, báo cáo tổng kết của xã Côn Minh.

Trích đoạn Tài nguyên thiên nhiên Tình hình sản xuất Tình hình sản xuất Dong riềng nông hộ tại 3 thôn Kết quả sản xuất Dong riềng tại xã Côn Minh năm 2013 Thuận lợi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status