Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá trắm cỏ trong lồng tại xã quảng thọ, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 37

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
----------

KHOÏA LUÁÛN TÄÚT NGHIÃÛP ÂAÛI
HOÜC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRẮM CỎ
TRONG LỒNG TẠI XÃ QUẢNG THỌ HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Liền

Giáo viên hướng dẫn:
Th.S: Trương Quang Dũng

Lớp: K45 KTNN
Niên khóa: 2011-2015

Huế, 5/2015


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Lời Cảm Ơn
Qua 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Kinh tế Huế
và thời gian thực tập tốt nghiệp tại phòng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn huyện Quảng Điền, em đã hoàn thành khóa luận tốt


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
Huế, tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Liền

MỤC LỤC

SVTH: Nguyễn Thị Liền

3


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NTTS:

Nuôi trồng thủy sản

NN và PTNT: Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn
TSCĐ:


IC:

Chi phí trung gian

TC:

Tổng chi phí

LN:

Lợi nhuận

SVTH: Nguyễn Thị Liền

4


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

ĐƠN VỊ QUY ĐỔI
1 sào= 500m2
1 ha= 1000m2
1 tấn= 1000kg

SVTH: Nguyễn Thị Liền

5


Nội dung nghiên cứu







Tình hình cơ bản của xã Quảng Thọ
Tình hình nuôi cá trắm cỏ trong lồng tại xã Quảng Thọ
Năng lực sản xuất của các hộ điều tra
Chi phí đầu tư nuôi cá lồng của các hộ điều tra
Kết quả và hiệu quả nuôi cá trắm cỏ trong lồng của các hộ điều tra
Sử dụng mô hình hồi quy để nghiên cứu mối quan hệ các yếu tố đến lợi nhuận

kinh tế mô hình nuôi cá trắm cỏ
• Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả nuôi cá trắm cỏ trong
lồng tại địa bàn nghiên cứu

SVTH: Nguyễn Thị Liền

6


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Các kết quả mà nghiên cứu cần đạt được

kê của Hải quan Việt Nam, tính đến 15/11/2014 xuất khẩu thủy sản đạt gần 7 tỉ USD.
Ngoài ra, nuôi trồng thủy sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
và tạo được nhiều công ăn việc làm, có ý nghĩa xã hội to lớn.
Việt Nam có đường bờ biển dai 3260 km,112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền
kinh tế rộng khoảng 1triệu km 2 với hơn 4000 hòn đảo nhỏ tạo nên nhiều eo, vịnh,
vụng, đầm phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn. Với nhu cầu tiêu
dùng ngày càng tăng sản phẩm thủy sản của con người, ngoài hoạt động đánh bắt thủy
hải sản ra thì hoạt động nuôi trồng thủy hải sản là một phương thức hữu hiệu để đáp
ứng nhu cầu này. Một trong những hình thức nuôi trồng thủy sản có hiệu quả là nuôi
cá lồng bè. Mô hình nuôi cá lồng đã phát triển từ lâu ở đồng bằng sông Hồng và đồng
bằng sông Cửu Long nhưng lại rất mới mẻ đối với các tỉnh duyên hải miền Trung. Sự
phát triển của các ngành nuôi cá nước ngọt nói chung và cá lồng nói riêng đã đang và
sẽ mở ra lối đi mới cho sự phát triển kinh tế của nhiều địa phương trên cả nước.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh duyên hải miềm Trung với hơn 22000 ha mặt nước
chiếm khoảng 20% tổng diện tích mặt nước toàn quốc_ một tiềm năng to lớn để phát
triển nuôi trồng thủy sản. Do đó, nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần
thứ XII đã xác định: Nuôi trồng thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
của toàn tỉnh, một trong những hướng chủ lực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đầm
phá ve biển.
Quảng Thọ là một xã của huyện Quảng Điền nơi có con sông Bồ chảy qua,
người dân ở đây đã biết tận dụng lợi thế được thiên nhiên ưu đãi này để phát triển nghề
nuôi cá lồng. Hiện tại xã có 315 lồng cá nuôi, là xã có số lượng lồng nuôi đứng thứ hai
huyện, có số hộ nuôi đứng thứ nhất toàn huyện với loại cá được thả nuôi chủ yếu là cá

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 8


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Phạm vi thời gian: năm 2014
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp luận
Đây là phương pháp chung trong quá trình thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu
bản chất của các hiện tượng tự nhiên kinh tế xã hội. Nó yêu cầu người nghiên cứu các
hiện tượng không nghiên cứu vấn đề trong trạng thái cô lập riêng lẽ mà được đạt trong
mối liên hệ bản chất chặt chẽ các hiện tượng với nhau, không phải trong trạng thái tĩnh
mà trong sự vận động và phát triển không ngừng trong sự phát triển từ thấp đến cao,
trong sự chuyển biến từ số lượng sang chất lượng mới, từ quá khứ đến hiện tại và
tương lai.

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 9


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

1.5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
1.5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp là nguồn số liệu sẵn có, được tôi thu thập từ các nguồn sau, để phục vụ
quá trình nghiên cứu đề tài của mình
-

Phòng thống kê xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế về các
số liệu nuôi trồng thủy sản của xã, các báo cáo kinh tế-xã hội năm 2012, 2013,

-

2014, đề án xây dựng nông thôn mới của xã năm 2014.

SPSS, để biến nguốn số liệu sơ cấp thành thứ cấp, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của
mình.

1.5.3 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tiến hành trao đổi tham khảo ý kiến
của các cán bộ ở cơ quan chức năng của địa phương như: sở thủy sản Thừa Thiên Huế,

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 10


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

sở khoa học công nghệ và môi trường, trung tâm khuyến ngư Thừa Thiên Huế, phòng
thủy sản, phòng thống kê, phòng Nông Nghiệp huyện Quảng Điền trao đổi và thảo
luận với các hội nuôi, từ đó bổ sung và hoàn thiện nội dung cũng như kiểm chứng kết
quả nghiên cứu của mình.

PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Cơ sở lí luận

Như vậy, hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế
phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ của mọi hình thái
kinh tế - xã hội. ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, quan niệm về hiệu quả sản
xuất kinh doanh cũng khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích
yêu cầu của từng đơn vị sản xuất. Tuy nhiên, mọi quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh
doanh đều thể hiện một điểm chung nhất. Đó là tiết kiệm nguồn lực để sản xuất ra khối
lượng sản phẩm tối đa. Vì vậy có thể hiểu hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh
một cách bao quát như sau:

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 13


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện
tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các
nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm thực
hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh.
a) Khái niệm hiệu quả kinh tế
Nội dung của hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể được hiểu như sau:
- Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng các yếu
tố đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học, kỹ thuật, quản
lý…) để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn.
- Trong sản xuất kinh doanh luôn luôn có mối quan hệ giữa sử dụng yếu tố đầu
vào (chi phí) và đầu ra (sản phẩm), từ đó chúng ta mới biết được hao phí cho sản xuất
là bao nhiêu? Loại chi phí nào? Mức chi phí như vậy có chấp nhận không? Mối quan
hệ này được xem xét ở từng sản phẩm, dịch vụ và cho cả doanh nghiệp.
- Hiệu quả kinh tế gắn liền với kết quả của từng hoạt động cụ thể trong sản xuất

đều. Mặt khác, giá trị thanh lý và sửa chữa lớn khó xác định chính xác, nên việc tính
khấu hao TSCĐ và phân bố chi phí để tính hiệu quả chỉ có tính chất tương đối.
Một số chi phí chung như chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao
thông, trạm, trường…), chi phí thông tin, khuyến cáo khoa học kỹ thuật cần thiết phải
hạch toán vào chi phí, nhưng trên thực tế không tính toán cụ thể và chính xác được.
Sự biến động của giá cả và mức độ trượt giá ở trên thị trường gây khó khăn cho
việc xác định chính xác các loại chi phí sản xuất.
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng thuận lợi và khó khăn cho sản xuất, nhưng
mức độ tác động là bao nhiêu, đến nay vẫn chưa có phương pháp nào xác định chuẩn
xác, nên cũng ảnh hưởng tới tín dụng, tính đủ các yếu tố đầu vào.
+ Đối với các yếu tố đầu ra:
Trên thực tế chỉ lượng hoá được kết quả thể hiện bằng vật chất, có kết quả thể
hiện dưới dạng phi vật chất như tạo công ăn việc làm, khả năng cạnh tranh trên thị
trường, tái sản xuất mở rộng, bảo vệ môi trường… thường không thể lượng hoá ngay
được và chỉ biểu lộ hiệu quả sau một thời gian dài. vậy thì việc xác định đúng, đủ
lượng kết quả này cũng gặp khó khăn.
b) Bản chất về hiệu quả kinh tế
- Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết
kiệm lao động xã hội.
Quan điểm này gắn liền với hai quy luật của nền sản xuất xã hội là quy luật
tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian lao động. Điều này thể hiện
được mối quan hệ so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao
động xã hội. Đó chính là hiệu quả của lao động xã hội.

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 15


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

H biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra nhiều đơn vị đầu ra. H còn
được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chi phí thường
xuyên đến kết quả kinh tế.
Hay: H = Q – C
Trong cách tính này, H thể hiện phần lợi nhuận (thu nhập thực tế) mà đơn vị
sản xuất kinh doanh thu lại được sau khi đã trừ toàn bộ chi phí.
+ Dạng nghịch:

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 16


Khóa luận tốt nghiệp

E =

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

C
Q

Trong đó:

E là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả kinh tế thu được
C là giá trị đầu tư (chi phí)

E cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào. E được dùng
làm cơ sở để xác định qui mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực và chi phí thường
xuyên.
- Xác định theo nguyên lý cận biên


∆C
∆Q

Trong đó: ∆Q là lượng kết quả tăng (giảm)thêm
∆C là lượng đầu tư tăng (giảm) thêm

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 17


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Eb cho biết để tăng thêm một đơn vị đầu ra cần bổ sung bao nhiêu đơn vị đầu
vào.
+ Dạng tương đối
Dạng thuận:

H

b

=

% ∆Q
%∆C

Trong đó:




Khóa luận tốt nghiệp

-

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Tổng giá trị sản xuất (GO): biểu hiện toàn bộ kết quả hữu ích mà lao động sáng tạo ra
trong một thời gian nhất định, cá hầu hết được bán ra trên thị trường nên tổng giá trị

-

cũng chính là tổng doanh thu.
Giá trị gia tăng(VA): là toàn bộ kết quả cuối cùng của hoạt động nuôi cá trắm cỏ của
hộ trong một kì nhất định. Được tính bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu(GO) và chi

-

phí trung gian(IC) đầu tư trên một lồng nuôi.
VA=GO-IC
Thu nhập hỗn hợp(MI): là chỉ tiêu kết quả nuôi của các hộ khi chưa trừ đi công lao

-

động trong gia đình.
Lợi nhuận(Pr): là chênh lệch giữa giá trị sản xuất và tổng chi phí sản xuất
Pr=GO-TC
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Giá trị tăng thêm trên chi phí trung gian(VA/IC): phản ánh một đồng chi phí trung


sóc,tài chính, công lao động).
: Hệ số co giãn của các yếu tố Xi đối với lợi nhuận kinh tế.
Kết quả được kiểm tra độ tin cậy, khuyết tật của mô hình.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá trắm cỏ trong lồng
Các nhân tố khách quan
Thời tiết: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, giông, nắng gió nếu các yếu tố này thay đổi thất
thường sẽ làm cho cá bị hoạt động kém, khó phát triển và dễ nhiễm bệnh.

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 19


Khóa luận tốt nghiệp

-

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Môi trường: chính là môi trường sống ở trên sông, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của
ca, môi trường thích hơp sẽ giú cá sinh trưởng và phát triển tốt, nếu môi trường bị ô
nhiễm sẽ phát sinh ra bệnh, đặc biệt là môi trường nước trên sông, rất dễ phát sinh dịch

-

bệnh trên diện rông nếu không được xử lí kịp thời.
Các nhân tố chủ quan
Giống: giống khỏe, không mang mần bệnh thì sẽ phát triển tốt và ngược lại nếu con

-


SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 20


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

+Môi trường: Nước ngọt, độ sâu sinh sống từ 0 đến 30m trong các sông, ao hồ và
trong các ao nuôi nhân tạo. Chúng sinh sống ở tầng nước giữa và thấp, ưa nước sạch.
+Nhiệt độ: 0 - 35 °C
+Vĩ độ: 65°bắc - 25°nam
Cá trắm cỏ thường phân bổ ở Bangladesh, Trung Quốc, Đài Loan, Ai Cập, Ấn
Độ, Iran, Lào và Malaysia có sản lượng lớn hơn 1.000 tấn. Trung Quốc là nhà sản xuất
lớn nhất( khoảng 95,7% tổng sản lượng toàn cầu).
a)Yêu cầu kỉ thuật cơ bản trong nuôi cá trắm cỏ trong lồng
Tiêu chuẩn lồng nuôi
- Lồng có dạng hình khối chữ nhật hoặc mùng, kích thước dài x rộng x cao:


Kích thước phổ biến hiện nay là: 3m x 2m x 1,7m hoặc 4m x 3m x 1,7m
- Lồng làm bằng tre hóp cả cây, gỗ hoặc nhựa composite. Hai đầu để khe hở từ
0,5 – 1 cm để nước lưu thông dễ dàng, hai mặt bên và đáy thường bằngván gỗ khít
không để lọt thức ăn.
+ Do nuôi ở sông nên tốc độ dòng chảy 0,2 – 0,3 m/giây. Đặt mỗi cụm 20 lồng,
các cụm cách nhau 150 – 200 m.
+ Nuôi ở hồ chứa nước lưu thông 0,1 – 0,2 m/giây. Nuôi cụm 15 lồng, các cụm
đặt cách nhau 200 – 300 m.
- Trước khi thả cá giống vào nuôi, lồng bè phải được cải tạo, vệ sinh. Đối với
lồng bè phải cọ rửa sạch, phơi khô và dùng nước vôi hoặc Clorua vôi phun đều toàn bộ
lồng nuôi cá. Sau đó phơi khô 1 – 2 ngày, cọ rửa sạch và hạ thuỷ. Lồng đặt ngặp nước

- Kiểm tra sàn ăn để xác định khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn, cứ
3 ngày vệ sinh lồng cá 1 lần và kiểm tra lồng.
Phòng trị bệnh cho cá nuôi
- Một số bệnh: Nấm thuỷ mi, trùng bánh xe, trùng quả dưa, sán lá đơn chủ. Mỗi


loại bệnh có triệu chứng và bệnh lý riêng, cần thường xuyên theo dõi biểu hiện của cá
để phòng trị.
- Để chủ động phòng ngừa bệnh cho cá nuôi, trong quá trình nuôi nên tiến hành
dùng vôi để cải tạo môi trường.
+ Đối với vôi: Đựng trong bao treo ở đầu nguồn nước, cách mặt nước khỏang
1/2 độ sâu của nước trong lồng. Liều lượng 3 – 4kg vôi cho 10m3 nước trong lồng.
+ Sulphat đồng (CuSO4) phòng ký sinh đơn bào, liều lượng 50g/10m3 nước,
tuần 2 lần.
- Không dùng thuốc, hoá chất kháng sinh đã cấm sử dụng.
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1 Tầm quan trọng của nuôi trồng thủy sản
a) Khái niệm nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các hình thức nuôi
trồng động thực vật thủy sinh ở các môi trường nước ngọt lợ mặn (Pillay, 1990)
Theo FAO (2008) thì nuôi trồng thủy sản (aquaculture) là nuôi các thủy sinh vật
trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào qui trình
nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể.
Một số tác giả khái niệm nuôi thủy sản đơn giản hơn đó là nuôi hay canh tác
động và thực vật dưới nước do xuất xứ từ thật ngữ aqua (nước) + culture (nuôi)
Như vậy, nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất vật chất sử dụng nguồn tài
nguyên thiên nhiên như đất đai diện tích mặt nước, thời tiết khí hậu…để sản xuất ra
các loại sản phẩm thủy sản phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.
b)Vai trò và đặc điểm ngành nuôi trồng thủy sản


+ Cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, phân bón cho nông nghiệp.
Sản phẩm phụ của ngành nuôi trồng thủy sản (các loại tôm cá tạp ), các phụ,
phế phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản làm nguyên liệu cho các nhà máy chế
biến thức ăn gia súc, gia cầm và một số loại thức ăn cho tôm cá và theo số liệu của
FAO sản phẩm thủy sản dành cho chăn nuôi chiếm khoảng 30%. Hàng năm ở Việt
Nam đã sản xuất ra khoảng 40.000-50.000 tấn bột cá làm nguyên liệu cho các nhà máy
chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm và thức ăn cho tôm cá.
+ Cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp.

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 23


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Trương Quang Dũng

Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản có thể cung cấp nguyên vật liệu cho các
ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, y dược và công nghiệp quốc phòng, thúc
đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan.
Các sản phẩm của ngành nuôi trồng thủy sản ngoài chức năng làm thực phẩm
cho con người còn được sử dụng nhiều trong lĩnh vực khác. Rất nhiều mặt hàng thủy
sản là nguyên liêu cho các nhà máy chế biến đông lạnh như: tôm, cá, nhuyễn thể. v.
v…, nguyên liệu cho các xí nghiệp dược phẩm như: Rong mơ, rong câu rong thuốc
giun. v. v… sản xuất keo alginate, Aga aga, Iod, cồn, thuốc tẩy giun sán. Hải mã, hải
long, vỏ bào ngư là nguồn dược liệu quý và nổi tiếng, rất nhiều loại vỏ sinh vật nhuyễn
thể có thể làm nguyên liệu để sản xuất đồ mỹ nghệ xuất khẩu như: sản phẩm khảm
trai, ngọc trai, đồi mồi. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đời sống nhân
dân ngày càng được nâng cao thì các sản phẩm nuôi trồng thủy sản ngày càng có su
hướng được sử dụng rộng rãi hơn. Đồng thời, sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy
sản cũng kéo theo sự phát triển của các ngành liên quan.

tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định. Hơn nữa, hoạt
động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất ngoài trời, các điều kiện sản xuất như
khí hậu, thời tiết, các yếu tố môi trường …và sinh vật có ảnh hưởng, tác động qua lại
lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến đổi khôn lường.
+ Trong nuôi trồng thủy sản đất đai diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất
chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được.
Đất đai là tư liệu sản xuất, song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các tư
lệu sản xuất khác là: Diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản
xuất của chúng thì không có giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích
mặt nước không bị hao mòn đi mà còn còn tốt hơn nên (tức là độ phì nhiêu, độ màu
mỡ của đất đai diện tích mặt nước ngày một tăng) mặt khác đất đai diện tích mặt nước
là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị
trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường là khác
nhau. Chính vì vậy khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải
quản lý chặt chẽ đất đai diện tích mặt nước trên cả ba mặt, pháp chế, kinh tế, kỹ thuật.
+ Nuôi trồng thủy sản có tính thời vụ cao.
Trong nuôi trồng thủy sản ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối
tượng nuôi còn chụi sự tác động của môi trường tự nhiên. Vì vậy trong nuôi trồng thủy
sản, quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian
lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất do đó nghề nuôi trồng thủy
sản mang tính thời vụ rất rõ rệt.
+ Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống- là các
loại động thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo
các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng
đối tượng mới có thể thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triển của nó.
2.1.2.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam

SVTH: Nguyễn Thị Liền-K45KTNNTrang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status