Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện quốc oai, thành phố hà nội - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC
TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC
TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8760101

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI, 2019



TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN
NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI TRONG NHỮNG NĂM TỚI..................................................................63
3.1 Định hƣớng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ

nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội......63
3.2. Các giải pháp phát triển công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ

nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội............67
KẾT LUẬN..................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 74
PHỤ LỤC........................................................................................................76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH

Công tác xã hội

LHPN

Liên hiệp phụ nữ

PNNĐT

Phụ nữ nghèo đơn thân


DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ

trầm, vì vậy, những năm gần đây ngành mới đƣợc sự công nhận của Chính
phủ thông qua đề án 32 “Phát triển nghề công tác xã hội”. Công tác xã hội với
mục đích hƣớng tới sự trợ giúp con ngƣời trong cuộc sống nhất là những
nhóm đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng bằng các mô hình can thiệp từ cá nhân, đến
nhóm và cộng đồng. Trong xã hội ngày nay, đối tƣợng trợ giúp của công tác
xã hội tƣơng đối đa dạng. Nhiều đối tƣợng yếu thế đang rất cần sự giúp đỡ,
động viên, chia sẻ của tất cả cộng đồng cũng nhƣ của công tác xã hội.
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một trong những đối tƣợng yếu
thế dễ bị tổn thƣơng và cần sự trợ giúp của công tác xã hội. Công tác xã hội
có sứ mệnh vận dụng linh hoạt những kiến thức và kỹ năng để tiếp cận đối
tƣợng, lập kế hoạch trợ giúp và giúp những phụ nữ nghèo đơn thân tiếp cận
với các cơ sở dịch vụ hỗ trợ một cách bền vững.
Giá trị nhân văn và kinh tế khi PNNĐT có việc làm dƣờng nhƣ không
thể phủ nhận bởi nó góp phần đảm bảo cuộc sống cải thiện vị thế, và tăng
cƣờng tính trách nhiệm xã hội cho PNNĐT.
Bình đẳng giới luôn là một trong những mục tiêu chiến lƣợc đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Tình trạng bất bình đẳng giới hiện
nay vẫn còn tồn tại ở hầu khắp các quốc gia điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ
đến sự phát triển chung của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung. Vấn
nạn bất bình đẳng giới chủ yếu diễn ra đối với phụ nữ, họ là những ngƣời phải

1


gánh chịu nhiều thiệt thòi, tổn thƣơng từ những quan niệm, định kiến bất
công từ xã hội xƣa và nay
Đối với Việt Nam, trong những năm qua Đảng và Nhà nƣớc thực hiện
nhiều bƣớc đột phá về hành động và nhận thức, từ khía cạnh chính sách, pháp
luật đến thực tiễn và đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới.
Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong số những quốc gia xóa bỏ khoảng cách

Công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ lại càng có ý nghĩa và giá trị sâu sắc vì nó tạo cho họ có
nhiều cơ hội phát triển và khẳng định đƣợc vị thế của mình trong xã hội.
Trong thời điểm hiện nay, dƣới tác động của khủng hoảng kinh tế, để
đáp ứng nhu cầu việc làm cho mọi công dân trong xã hội đã là một vấn đề lớn
và một bộ phận không nhỏ là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ lại càng
bức thiết hơn.
Công tác dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ
nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà
Nội còn nhiều khó khăn: Phần lớn họ chƣa có công ăn việc làm, đời sống
khó khăn và đa phần thuộc hộ nghèo. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đơn thân không có
việc làm, trình độ học vấn còn hạn hẹp, nhiều ngƣời còn tự ti, mặc cảm chƣa
hòa nhập với cộng đồng.
Luận văn "Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với Phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằmđềra
các giải pháp thúc đẩy hoạt động công tác xã hội đối với vấn đề việc làm của
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội;
hƣớng đến giúp họ có đủ sức mạnh, chủ động, tự tin, hội nhập- hòa nhập, tự
giúp bản thân, tự lập cuộc sống, tự khẳng định bản thân, định hƣớng nghề
nghiệp và tự tìm đƣợc việc làm.

3


Tại địa bàn huyện Quốc Oai đã nổi lên các nhu cầu, mô hình việc làm
cho Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và đang rất quan tâm cũng nhƣ cần
có một nghiên cứu về vấn đề việc làm của Phụ nữ để thúc đẩy, phát triển hoạt
động hỗ trợ Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn tốt hơn.
Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Công tác xã
hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ

(2006) ; Collin và Mayer (2006); Nguyễn Thị Thanh Tâm (2008).
*

Phụ nữ và việc làm cũng sớm được đề cập trong Công ước và Pháp

luật quy định chung của Quốc tế:
Về lĩnh vực chính trị: Tƣơng ứng với điều 7,8 của Công ƣớc CEDAW
và điều 25 của công ƣớc về các quyền dân sự và chính trị 1966 thì điều 63
Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi năm 2001) quy định: “Công dân, nữ và nam có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.”
Nhƣ vậy, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đã ghi nhận một cách cụ thể về
quyền trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ.
Về lĩnh vực lao động, việc làm: Tƣơng ứng với điều 11 CEDAW, điều
14 của công ƣớc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979
điều 109 Bộ luật Lao động quy định : “nhà nƣớc bảo đảm quyền làm việc của
phụ nữ bình đẳng một mặt với nam giới…”
Về lĩnh vực giáo dục: Trên cơ sở nội dung của điều 10 công ƣớc
CEDAW điều 63 Hiến pháp 92 quy định: phụ nữ và nam giới bình đẳng với
nam giới về phƣơng diện văn hóa, xã hội. Cụ thể hóa quy định trên của Hiến
pháp điều 14 luật bình đẳng giới năm 2006 quy định nam nữ bình đẳng về độ
tuổi đi học, đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, lựa chọn ngành nghề
học tập, đào tạo tiếp cận và hƣởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo.

5


2.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện tƣợng bà mẹ đơn thân là một hiện tƣợng không mới trong xã hội
nhƣng phát triển mạnh và thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu thì chỉ
mới khoảng gần chục năm gần đây. Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tƣợng

mẹ đơn thân ở khu vực đô thị có lẽ là những bài viết phản ánh về xu hƣớng
này trên báo chí. Những bài viết có nhân chứng cụ thể, có những sự kiện có
thật đã phần nào mô tả và có những đánh giá đúng đắn về xu hƣớng này. Tuy
chỉ dựa vào một vài trƣờng hợp cụ và những đánh giá còn sơ sài, không phải
là những bài nghiên cứu thực sự nhƣng những bài viết ấy vẫn cung cấp nhiều
dẫn chứng, tƣ liệu quý cho khóa luận.
Gần đây, đề cập đến vấn đề PNNĐT, chủ đề này đƣợc rất nhiều luận
văn, luận án tiến sĩ lựa chọn để thực hiện đề tài:
Lê Thị Việt Trinh (2011), Luận án “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ
nghèo đơn thân tại xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam”. Tác
giả đã hệ thống các cơ sở lý thuyết về phụ nữ đơn thân, nêu lên những nhu
cầu cơ bản của phụ nữ nghèo đơn thân, từ đó tác giả chọn 1 trƣờng hợp để sử
dụng phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân để hỗ trợ thân chủ. Tác giả đề tài
đã trú trọng đến các giải pháp tăng năng lực của bản thân thân chủ, tìm kiếm
và phát huy điểm mạnh của thân chủ cùng với những nguồn lực hõ trợ từ bên
ngoài để giúp thân chủ có việc làm và tạo thu nhập ổn định.
Võ Thị Cẩm Ly (2017), Luận án tiến sĩ “Phụ nữ đơn thân làm mẹ ở nông
thôn Bắc trung bộ: chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” (nghiên cứu trƣờng
hợp tại Yên Thành, Nghệ An). Mục đích nghiên cứu của luận án là mang lại một
sự hiểu biết có hệ thống về chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế của nhóm phụ
nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ mà cụ thể là ở huyện Yên Thành,
tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đó luận án hƣớng tới bổ sung một số quan

7


điểm lý thuyết về chân dung xã hội của nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân và sinh
kế của họ. Một mục đích khác của luận án là qua kết quả nghiên cứu nêu lên một
số hàm ý về mặt chính sách để cải thiện sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân.



Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với
phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ và phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động
công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ tại
huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội để đề ra các giải pháp phát triển hoạt động
công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với với phụ nữ đơn thân nuôi con
nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Xây dựng cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối

với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
-

Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động công tác xã

hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại
huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội
-

Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động Công tác xã hội trong hỗ

trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai,
thành phố Hà Nội.
4. Đối tƣợngvà phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

các yếu tố có liên quan đến hoạt động hỗ trợ việc làm của công tác xã hội đối
với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu
Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc sử dụng trong suốt quá trình nghiên
cứu của đề tài. Nguồn tài liệu nghiên cứu đƣợc sử dụng cho đề tài đƣợc khai
thác từ 02 mảng chính nhƣ sau:

10




Phân tích tài liệu, tìm hiểu tổng quan các nghiên cứu trong nƣớc về tình

hình việc làm đối với phụ nữ, phụ nữ đơn thân qua các sách báo, tạp chí, và
mạng Internet. Đồng thời tìm hiểu các tài liệu tập huấn, một số kỹ năng Công tác

xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn và một số luật, chính sách cho
phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ để có kỹ năng làm việc với nhóm đối
tƣợng này tại cộng đồng.


Thông qua các báo cáo tổng kết hàng năm của huyện Quốc Oai; các báo

cáo của các tổ chức liên quan để biết tình hình việc làm đối với phụ nữ nghèo

đơn thân nuôi con nhỏ cũng nhƣ những hỗ trợ cho nhóm đối tƣợng này tại
cộng đồng.
* Phương pháp quan sát

Sử dụng phƣơng pháp này nhằm thu thập các thông tin về thực trạng hỗ
trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, các yếu tố tác động
đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội ở cộng đồng để có nhận định,hiểu rõ
hơnvề các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ đồng thời đánh giá hiệu quả dịch vụ công tác xã hội tại địa
phƣơng đã đáp ứng nhu cầu của nhóm đói tƣợng này hay chƣa.
Phỏng vấn sâu đƣợc tiến hành với: 06 phụ nữ nghèo đơn thân của các
xã Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 03 cán bộ phụ trách công tác phụ nữ
xã Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 02 cán bộ của Phòng lao động Thƣơng
binh và Xã hội của huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
*

Phương pháp xử lý dữ liệu: Đối với dữ liệu định tính của phỏng vấn

sâu tôi dùng phƣơng pháp tổng hợp, phân tích… thể hiện tỷ lệ và tỷ trọng
dƣới dạng vẽ biểu đồ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận

12


Bằng phƣơng pháp tiếp cận công tác xã hội, đề tài đã tổng hợp đƣợc
khung lý luận nghiên cứu, đồng thời cũng là cơ sở lý luận của công tác xã hội
trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ. Qua đó đã tổng
hợp đƣợc các khái niệm, mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, tiến trình công tác
xã hội, các nhân tố ảnh hƣởng và cơ sở luật pháp liên quan
Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm các hoạt động công tác xã
hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ nói chung và phụ nữ đơn thân nuôi con
nhỏ nói riêng.

ngƣời thực hành CTXH trên thế giới sử dụng và tham khảo:
Đối với Hiệp hội các quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ
(NASW) đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Công tác xã hội là hoạt động mang
tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm, hoặc cộng đồng tăng
cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra
những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.” [14 ,40]
Tại hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội (IFSW) diễn ra
vào tháng 7/2000, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về CTXH nhƣ sau:
“Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các
vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người
dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng
các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can
thiệp và những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân
quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã
hội”[14,43].


Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH. CTXH có thể

hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá
nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cƣờng chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trƣờng xã hội về chính
14


sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải
quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010
-2020: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các
nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm

cùng về vật chất ( được đo lường theo một khái niệm về thu nhập hoặc tiêu
dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế ( Theo báo cáo phát
triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói).
Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng
Cốc- Thái Lan 9/1993, đã đƣa ra khái niệm về nghèo đói nhƣ sau: “ Nghèo
đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những
nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ
phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Theo
định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nƣớc khác nhau là khác nhau.
Xác định giàu nghèo đói là một việc khó khăn vì nó gắn với từng thời
điểm, từng quốc gia và đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau.

cận

Việt Nam, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và mức
độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
1.1.3. Khái niệm về phụ nữ đơn thân
Về “phụ nữ đơn thân” đã có nhiều cách hiểu khác nhau:
Theo tác giả Lê Thi: “Phụ nữ đơn thân là những phụ nữ chƣa kết hôn,
đã từng kết hôn nhƣng vợ, chồng họ sống xa cách với rất nhiều lý do

16


cụ thể khác nhau” [tr.18-19; 12]. Với cách tiếp cận nhƣ vậy, tác giả đã chia
phụ nữ đơn thân thành hai nhóm chính:
Phụ nữ đã kết hôn: là những ngƣời phụ nữ đã rơi vào tình trạng góa
bụa, ly thân ,ly hôn hay thiếu vắng chồng trong một thời gian dài.

chức và các cộng đồng của nhóm PNNĐT; Tham gia vào việc hoạch định, xây
dựng và thực thi các chính sách xã hội, các dịch vụ xã hội, các nguồn tài
nguyên và các chƣơng trình để đáp ứng những nhu cầu của nhóm PNNĐT và
hỗ trợ cho sự phát triển của họ; Theo đuổi những chính sách, dịch vụ, tài
nguyên và chƣơng trìnhthông qua công tác biện hộ trong phạm vi cơ sở hay
trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành động chính trị để tăng quyền lực cho
họ nhằm đảm bảo sự công bằng và sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt
động xã hội.
Do vậy NVCTXH có vai trò trực tiếp là ngƣời thu thập thông tin, lập kế
hoạch, thực hiện kế hoạch, giám sát, đánh giá, lƣợng giá,…và vai trò gián
tiếp là ngƣời tham vấn, tƣ vấn, ngƣời hoạch định chính sách, ngƣời nghiên
cứu, quản lý, điều phối các hoạt động…thì NVCTXH cần hỗ trợ, phối hợp
vận động các nguồn lực tài nguyên hỗ trợ họ, xây dựng các chƣơng trình, kế
hoạch hành động giúp đỡ họ và cung cấp cho PNNĐT và ngƣời nhà họ các
loại dịch vụ hỗ trợ để phát triển.
1.1.5. Khái niệm việc làm
Việc làm là một nhu cầu cơ bản của con ngƣời để đảm bảo đáp ứng đầy
đủ cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Quyền lao động, đảm bảo việc làm
cho ngƣời lao động đã và đang đƣợc khẳng định trong Hiến pháp nƣớc Cộng
hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã đƣợc cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động
đầu tiên ở nƣớc ta. Việc làm và giải quyết việc làm cho

18


ngƣời lao động là một trong những mục tiêu ƣu tiên trong các chính sách
phát triển kinh tế – xã hội của nƣớc ta.
Điều 13, Bộ Luật Lao Động Việt Nam định nghĩa khái niệm việc làm:
Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều
đƣợc thừa nhận là việc làm.

không
thƣờng xuyên bên cạnh một công việc chính thức, ổn định.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status