DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
TLSX
Tư liệu sản xuất
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
KHKT
cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước; Tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế trên thị trường; Vừa góp phần tạo nên tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao, vừa tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội, khơi dậy và
phát huy được tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của
các tầng lớp nhân dân vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
4
Do vậy, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào việc
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
trong thời gian qua, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh
Bình cũng đã đề ra nhiều chính sách và giải pháp để phát triển kinh tế xã hội,
nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Một trong những giải pháp cơ
bản đó là tạo điều kiện khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Với những
chủ trương chính sách đó kinh tế tư nhân ở huyện Kim Sơn phát triển mạnh
mẽ.Kinh tế tư nhân trong các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện đã đóng góp
đáng kể vào sự phát triển kinh tế- xã hội như: Đóng góp vào nguồn thu ngân
sách của huyện và tỉnh; giải quyết việc làm, giảm nghèo, tăng thu nhập, cải
thiện đời sống người lao động; huy động vốn cho đầu tư phát triển; góp phần
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của tỉnh Ninh
Bình. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, bên cạnh những kết quả tích cực
đạt được thì kinh tế tư nhân ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình cũng bộc lộ
những hạn chế như: quy mô sản xuất kinh doanh còn nhỏ, trình độ khoa họccông nghệ còn lạc hậu, việc đổi mới công nghệ chậm, chất lượng sản phẩm
chưa cao nên khó khăn về thị trường tiêu thụ, trốn lậu thuế, vi phạm pháp
luật. Vấn đề nhận thức dân cư còn nhiều bất cập, hệ thống kết cấu hạ tầng
phục vụ cho phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều yếu kém….
Chính vì thế, cần thiết phải có những giải pháp đồng bộ, để khuyến
khích kinh tế tư nhân ở thành phố phát triển đúng hướng, hiệu quả, góp phần
của nước ta.
PGS.TS Nguyễn Đình Kháng (năm 2002), Kinh tế tư nhân và xu hướng phát
triển của nó trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. Cuốn sách tổng kết xu hướng phát triển kinh
tế tư nhân của các nền kinh tế nói chung. Vận dụng trong quá trình phát triển
kinh tế thị trường ở Việt Nam. Luận giải rõ quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân; đề xuất giải pháp cho giai đoạn
-
2005-2010.
Đào Quang Vinh (năm 2002), Doanh nghiệp tư nhân và khả năng giải quyết
việc làm qua một cuộc điều tra, Tạp chí lao động và Xã hội, số 190. Trong bài
viết tác giả đánh giá tổng quan về khả năng giải quyết việc làm của các doanh
-
nghiệp tư nhân.
TS. Vũ Thị Bạch Tuyết (Năm 2003), Con đường nào cho kinh tế tư nhân của
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí tài chính, số tháng 4-2003. Trong
6
công trình này, tác giả đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân từ đó nhằm tháo gỡ
-
những vướng mắc hiện nay cho khu vực kinh tế tư nhân
PGS.TS Vũ Văn Phúc (Năm 2005), Nền kinh tế quá độ trong thời kì quá độ
đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, đề xuất
giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện đến năm 2020.
3.2 Nhiệm vụ.
Để đạt được những mục đích trên luận văn cần thực hiện những nhiệm
vụ cơ bản sau:
-
Làm rõ một số vấn đề lí luận, thực tiễn về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
-
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Kim Sơn,
-
tỉnh Ninh Bình trong những năm qua (từ 2000 đến nay).
Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế tư nhân
trên địa bàn huyện từ nay đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận.
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Kinh tế tư nhân ở huyện Kim
Sơn, tỉnh Ninh Bình dưới góc độ kinh tế chính trị.
4.2 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là tập trung nghiên cứu kinh tế tư
nhân, bao gồm DNTN, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc
sở hữu tư nhân và hộ kinh doanh cá thể (trừ doanh nghiệp nước ngoài) trên
địa bàn huyện Kim Sơn. Các số liệu, tư liệu chủ yếu từ năm 2010- 2014.
-
Chương 1: Một số vấn đề về lí luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân.
Chương 2: Thực trạng kinh tế tư nhân ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: .Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1. Những vấn đề lí luận chung về kinh tế tư nhân.
1.1.1Quan niệm và bản chất của kinh tế tư nhân.
1.1.1.1 Quan niệm về kinh tế tư nhân.
* Quan niệm của chủ nghĩa Mac- Lênin
Trong lịch sử thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế tư nhân.
Tuy vậy tiếp cận dưới góc độ lịch sử về kinh tế tư nhân trong thời kì quá độ
lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mac- Lênin cho thấy: Trước và sau Cách
mạng Tháng Mười Nga (1917) trong bối cảnh kinh tế xã hội của nước Nga lúc
bấy giờ, Lenin cho rằng: Có thể chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội mà
không cần phải duy trì nền kinh tế nhiều thành phần, không cần thiết phải sử
dụng quan hệ hàng- tiền… Vì vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành
công, dựa vào đường lối kinh tế trong luận cương tháng Chín do Lênin vạch
ra. Song song với việc củng cố chính quyền của giai cấp vô sản, Nhà nước Xô
viết đã chuẩn bị tiền đề để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, thực hiện
quốc hữu hóa ngay và nhanh chóng toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Đầu năm 1918, Lênin đã đề ra kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế
khác nhau, số lượng và tỉ trọng các thành phần kinh tế tồn tại không nhất thiết
giống nhau, trong những thời kì lịch sử khác nhau. Song về cơ bản đối với các
nước có 3 thành phần kinh tế chủ yếu là: Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa,
thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ.
Như vậy Lênin không khẳng định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là
cơ cấu bất biến mà đó là cơ cấu động và mở. Vị trí, vai trò của từng thành
phần kinh tế sẽ thay đổi cùng với sự biến đổi của cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Từ đó Lênin cho rằng không
11
chỉ và không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng người cộng sản. Mà phải
biết sử dụng, kế thừa lực lượng sản xuất đã có của chủ nghĩa tư bản. Đây là
một trong những căn cứ lí luận quan trọng đối với các quốc gia đi lên chủ
nghĩa xã hội, khi xác định cơ cấu các thành phần kinh tế, nhằm khai thác sử
dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của chúng,
để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân, xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội. Lênin đã chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần và kinh tế tư nhân là một trong những thành phần kinh tế trong thời kì
quá độ lên CNXH.
*Tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam về
kinh tế tư nhân
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lênin về thành phần kinh tế
trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào thực tiến Việt Nam, sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định rằng: Nền
kinh tế nước ta (vùng tự do) còn tồn tại nhiều loại hình kinh tế. Trong
“Thường thức chính trị” (1953), Người viết: Trong chế độ dân chủ mới, có 6
loại hình kinh tế khác nhau:
-
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin trong điều kiện cụ thể
cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng luôn khẳng định: Nền kinh tế
trong thời kì quá độ ở nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần. Song, trong
từng giai đoạn lịch sử cụ thể của cách mạng, việc xác định số lượng các thành
phần kinh tế, vai trò, vị trí của chúng cũng như tổ chức thực hiện chính sách
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự khác nhau.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đánh dấu một bước
chuyển biến quan trọng trong đổi mới tư duy lí luận và nhận thức thực tiễn
của Đảng ta. Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, nhằm giải phóng và khai
thác mọi tiềm năng sẵn có để phát triển lực lượng sản xuất.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đã khẳng định 5 thành phần
kinh tế đó là: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể,kinh tế tư bản
tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) khẳng định có 5 thành phần
kinh tế:Kinh tế nhà nước, Kinh tế hợp tác xã, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế
tư bản tư nhân và Kinh tế tư bản nhà nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã xác định ở nước ta có 6
thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ;
13
kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Tại hội nghị Trung Ương 5 (khóa IX) tháng 12-2002 đã xác định: Kinh
tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động
dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân;
và khẳng định: Phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài trong phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế tư nhân được phát triển
rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không
nhân về tư liệu sản xuất và tương ứng với cách quản lí, phân phối phù hợp với
hình thức sở hữu đó.
Quan niệm 2: Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở
hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất được đưa vào sản xuất kinh doanh.
Quan niệm 3: Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế dựa trên sở hữu toàn
bộ hay đại bộ phận tư liệu sản xuất, thuộc sở hữu tư nhân và lao động làm
thuê, người chủ chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra.
Ở đây các quan điểm có cách tiếp cận không thống nhất, chưa rõ ràng
và cũng không nhất quán, dẫn đến quan niệm, định nghĩa về kinh tế tư nhân
còn có khác biệt.
Quan niệm của tác giả về kinh tế tư nhân: Kinh tế tư nhân là thành phần
kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và tương ứng với cách
quản lí, phân phối phù hợp với hình thức sở hữu đó.
1.1.1.2 Bản chất của kinh tế tư nhân.
Khi nghiên cứu cơ sở lí luận về thành phần kinh tế cho thấy tiêu chí cơ
bản để xác định một thành phần kinh tế hay một loại hình tổ chức sản xuất,
kinh doanh thuộc về thành phần kinh tế nào chính là dựa trên quan hệ sản
xuất mà trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết
định.Do vậy khi nghiên cứu bản chất của kinh tế tư nhân phải xem xét trên 3
mặt của quan hệ sản xuất đó là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ
chức, quản lí và quan hệ về phân phối.
15
Thứ nhất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đều dựa trên hình thức
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Song mỗi loại hình khác nhau lại có phạm
vi và mức độ khác nhau. Do đó khi xem xét quan hệ sở hữu cần xuất phát từ
những hình thức cụ thể để phân tích và tiếp cận.
Đối với bộ phận kinh tế cá thể và tiểu chủ. Dựa trên quan hệ sở hữu tư
nhân nhỏ về TLSX, quan hệ quản lí của bộ phận kinh tế này có đặc điểm: Dựa
vào sự tự điều hành, tổ chức quản lí và phân công công việc trong nội bộ gia
đình dựa trên quyền lực của người chủ trong gia đình họ hay bản thân chủ thể
tham gia trực tiếp. Các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ phục tùng sự phân
công, điều khiển của người chủ đối với các vấn đề sản xuất, kinh doanh. Quan
hệ giữa người chủ với các thành viên trong gia đình không phải là quan hệ chủ
thợ hay quan hệ bóc lột mà là quan hệ mang tính chất gia trưởng. Tuy nhiên
trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhiều hộ cá thể, tiểu chủ do
nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đã thuê nhân công. Như vậy đã xuất hiện
mầm mống bóc lột, nhưng chừng nào người chủ vẫn trực tiếp tham gia lao
động sản xuất, nguồn thu nhập chủ yếu vẫn dựa vào lao động của họ và gia
đình thì ranh giới giữa bóc lột và bị bóc lột vẫn chưa được xác định rõ ràng.
Đối với kinh tế tư bản tư nhân: quan hệ tổ chức và quản lí có điều khác
biệt, bởi một bên là ông chủ, một bên là lao động làm thuê. Khi sức lao động
của người công nhân là hàng hóa thì phái đáp ứng yêu cầu của người mua. Vì
vậy, công nhân phụ thuộc vào ông chủ, chịu sự quản lí, kiểm soát của ông
chủ. Sự phụ thuộc này không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà cả trong lĩnh vực
tiêu dùng cá nhân của người công nhân.
Thứ ba, về quan hệ phân phối
Quan hệ phân phối về thực chất là giải quyết mối quan hệ về lợi ích
kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất. Mục
đích của phân phối là phải đảm bảo được lợi ích của các chủ thể, nâng cao
17
được hiệu quả kinh doanh. Phân phối phải dựa trên quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất và do quan hệ sở hữu quyết định.
Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ do dựa vào sức lao động của cá nhân là
1.1.2.1 Về quy mô
Kinh tế tư nhân của nước ta phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, trình độ
công nghệ lạc hậu, yếu kém, khả năng đầu tư còn hạn chế cả về chiều rộng và
chiều sâu. Căn cứ tiêu chí xếp loại doanh nghiệp theo quyết định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của chính phủ cho thấy: Năm 2009 trong
tổng số 205689 doanh nghiệp các loại, thì có đến 127180 doanh nghiệp siêu
nhỏ, chiếm 61,83%; 72530 doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 35,26%; 5979
doanh nghiệp lớn. chiếm 2,9%. Trong làng doanh nghiệp, lượng chủ thể tham
gia làm kinh tế rất đông, nhưng chưa có doanh nghiệp nào tầm cỡ, có khả
năng cạnh tranh với nước ngoài, trong những năm 2011, 2012 đã có những
doanh nghiệp tư nhân phát triển nhanh, nhưng chưa đủ mạnh. Chính vì vậy,
không thể dành được ưu thế trên thị trường khu vực mà còn có nguy cơ “thua
thiệt” ngay trên sân nhà, nhất là khi chúng ta thực hiện cam kết tham gia khu
vực thương mại tự do của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AFTA) là thành
viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO.
Riêng về nguồn vốn, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận
được nguồn vốn lớn từ các tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng thương mại, chưa
hình thành mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa người sản xuất, cung ứng dịch vụ
và người tiêu dùng. Được sự quan tâm của nhà nước, những năm gần đây vốn
đăng kí kinh doanh thuộc khu vực tư nhân tăng nhanh; Năm 2010 chiếm
22,9% trong tổng số vốn đầu tư theo thành phần kinh tế, thì đến năm 2014 đã
là 36,1%. Tuy vậy, vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của khu vực này.
19
Bảng 1.1:Vốn đầu tư theo thành phần kinh tế (theo giá thực tế)
Đơn vị: Tỉ đồng
Năm
100%
161.635
47,1
130.398
38,0
51.102
14,9
2014
830.274
316.285
Chiếm tỉ trọng
100%
38,1
Nguồn: Website của Tổng cục thống kê
299.487
36,1
214.506
25,8
1.1.2.2 Về lĩnh vực hoạt động
Hiện nay kinh tế tư nhân có mặt ở nhiều ngành kinh tế như: nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng, nhưng nhiều nhất tập
trung ở các ngành thương mại- dịch vụ, công nghiệp chế biến, đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản, xây dựng, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc, khách sạn
này thực sự là thách thức lớn, là khoảng trống và là một trong những nguyên
nhân đẩy nhiều doanh nghiệp tư nhân vào tình trạng nợ nần, phá sản, thậm chí
vi phạm pháp luật.
Về lực lượng lao động trực tiếp, phần lớn là tay nghề thấp hoặc trung
bình. Một mặt tâm lí người lao động cũng chưa hoàn toàn thông suốt về làm
việc tại các doanh nghiệp tư nhân; mặt khác, từ khi có thành phần kinh tế đầu
tư nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài đã tiến hành tuyển dụng, sàng
lọc giữ lại lao động có trình độ, kĩ năng. Bên cạnh đó, một số cán bộ nghiên
cứu khoa học muốn làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân, nhưng lại không
đủ điều kiện nghiên cứu hoặc vấn đề thu nhập không đáp ứng. Đây cũng là
những đặc điểm cần được xem xét một cách khách quan và toàn diện.
1.1.3 Các loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân.
1.1.3.1 Kinh tế cá thể
21
Loại hình kinh tế cá thể là những hộ kinh doanh nhỏ, bao gồm những
cá nhân kinh doanh và nhóm cá nhân kinh doanh thuộc phạm vi điều chỉnh
của Nghị định 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (Nay là
Chính phủ), các hộ chuyên sản xuất nông, lâm,ngư nghiệp có tính chất tự sản,
tự tiêu và các hộ buôn bán hàng hóa nhỏ. Như vậy, kinh tế cá thể được quy
định bởi hai tiêu thức là trình độ thấp và sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Dưới góc
độ kinh tế chính trị có thể hiểu: Kinh tế cá thể là loại hình kinh tế của một hộ
gia đình hay một cá nhân những người nông dân, thợ thủ công, những người
buôn bán kinh doanh, dịch vụ…hoạt dộng dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư
liệu sản xuất và sức lao động chủ yếu của chính bản thân họ.
1.1.3.2 Kinh tế tiểu chủ
Kinh tế tiểu chủ là những hộ kinh doanh cá thể, nhỏ, không đòi hỏi vốn
lớn, không đăng kí vốn pháp định, do vậy các hộ này không cần có mức vốn
-
quản lí, điều hành doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là loại hình doanh nghiệp trong đó, các thành
viên là tư nhân cùng góp vốn để thực hiện việc kinh doanh, cùng chia sẻ lợi
nhuận, cùng chịu lỗ theo tỉ lệ tương ứng với phần góp vốn và chịu trách
-
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp của mình.
Công ty cổ phần: Theo điều 77 Luật doanh nghiệp quy định “Công ty cổ phần
là doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau
gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức hay cá nhân, số lượng cổ đông tối
thiểu là ba, không hạn chế về số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn
đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của
mình cho người khác theo luật quy định”; Đây là loại hình có tư cách pháp
-
nhân và có quyền huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán.
Công ty hợp danh: Theo khoản 1, Điều 130 Luật doanh nghiệp thì công ty
hợp danh là doanh nghiệp trong đó:
Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng
nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh),
ngoài các thành viên hơp danh còn có các thành viên góp vốn; thành viên hợp
danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các
23
mẽ đối với quá trình phát triển thành phần kinh tế tư nhân. Nếu cơ chế chính
sách của Nhà nước không phù hợp thì không thể tạo ra động lực cho sự phát
triển của thành phần kinh tế này, nhất là các chính sách về tài chính, tín dụng,
đất đai…trên thực tế, phần lớn các loại hình doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh
doanh cá thể ở nước ta, bước đầu hình thành và phát triển trong cơ chế thị
trường, còn gặp nhiều khó khăn, cần nhiều sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách của
Nhà nước một cách thỏa đáng, sẽ giúp họ từng bước ổn định sản xuất, kinh
doanh có hiệu quả.
1.1.4.3 Về môi trường pháp lí
Môi trường pháp lí là nhân tố rất quan trọng nhằm tạo ra hành lang
pháp lí cho quá trình phát triển kinh tế tư nhân. Khi môi trường pháp lí được
đảm bảo sẽ tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh
doanh cá thể có thể hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ những
điều pháp luật không cấm. Và đảm bảo sự bình đẳng trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong quá
trình tổ chức thực hiện pháp luật. Đảm bảo công bằng trong xử lí các trường
hợp vi phạm của doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh
doanh cá thể nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, là động lực thúc đẩy các
thành phần kinh tế phát triển.
1.1.4.4 Về sự quản lí của nhà nước đối với kinh tế tư nhân
Các loại hình doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể thường bị ảnh hưởng
bởi tư tưởng làm ăn theo lối tự do, tự phát, ý thức chấp hành pháp luật và các
quy định của nhà nước còn thấp. Do vậy, để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát
triển, cần phải có sự quản lí của nhà nước theo các chức năng quy định, không
can thiệp quá sâu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
hộ kinh doanh cá thể. Nhà nước cần phải “nắm những cái gì cần nắm, buông
những cái gì cần buông”. Nội dung chủ yếu quản lí của Nhà nước đối với khu