VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI HỒNG QUẾ
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60340410
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Hà Nội, 2017
1
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã
hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Vũ Đình Ánh
Phản biện 1: Hoàng Văn Tú
Phản biện 2: Vũ Thư
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận
thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 50 phút
ngày 08 tháng 08 năm 2015
cách là quản lý thu ngân sách nhà nước) và chi ngân sách nhà nước tại
Việt Nam khá đa dạng. Tuy nhiên, đa phần các công trình này mới đề cập
đến một khía cạnh nào đó của toàn bộ khía cạnh quản lý NSNN.
Nghiên cứu kinh điển về vấn đề này có thể kể đến Joseph (1995). Tác
giả này đã hệ thống các lý thuyết về ngân sách nhà nước, nguồn thu ngân
sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước từ thuế của Mỹ và một
1.
1
số nước châu Âu, từ đó đưa ra hàm ý cho chi NSNN. Một trong những kế
thừa lớn của ông là đã tổng hợp các lý thuyết đi trước, bao gồm lý thuyết
của Adam Smith, Keynes và Samuelson về động viên nguồn lực tài chính
của nền kinh tế vào ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước cho
các dự án đầu tư phát triển, từ đó nêu ra một số cách quản lý nguồn này và
sử dụng vào các dự án khác nhau trong nền kinh tế. Tuy nhiên, một trong
những hạn chế của nghiên cứu này là mang tính sách giáo khoa quá nhiều,
và được coi là một nguồn lý thuyết gốc cho các nghiên cứu tiếp theo chứ
không tập trung cụ thể vào nguồn nào, cũng như không đưa ra được một
nghiên cứu cụ thể về quản lý thuế - đặc biệt là thuế thu nhập doanh
nghiệp.
Các tác giả quốc tế và Việt Nam như Lê Duy Thành (2007),
Nguyễn Ngọc Túc (2007), Phạm Xuân Hòa (2014) đều đã tìm hiểu các
nghiên cứu về nguồn thu cho NSNN và tiến hành phân tích về chi NSNN
tại Việt Nam, và đi từ góc độ định tính đến định lượng nhằm xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế. Đặc biệt, Phạm Xuân Hòa (2014) đã
đánh giá được tác động của từng yếu tố được nêu trong nghiên cứu của
Banks (2008) đến hệ thống thuế Việt Nam, từ đó đưa ra một số hàm ý chính
sách đối với các cơ quan quản lý. Tuy nhiên, tác giả này để ngỏ một phần
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: nghiên cứu quản lý đầu vào, quản lý chi đầu tư phát
triển, chi thường xuyên của ngân sách cấp Bộ.
+ Về không gian: tại Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.
+ Về thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng giai đoạn 2007-2016
và đề xuất giải pháp đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Lý thuyết tài chính công, kinh tế phát triển, lý thuyết
về quản lý nhà nước, các văn bản quy phạm phát luật về tài chính ngân
sách. Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu; kế thừa có
chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài.
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về
lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng để phân tích, đánh giá công tác quản
lý NSNN trong quá khứ và hiện tại có mối quan hệ với nhau tại Bộ Văn hóa
Thể thao và Du lịch.
3
Cơ sở thực tế: Luận văn sử dụng các thông tin số liệu, tài liệu thực
tế về chi NSNN tại Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, giai đoạn 2013-2016.
Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh dựa
trên lý thuyết tài chính và số liệu thực tiễn về ngân sách tại Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch.
Luận văn chủ yếu thu thập các nguồn số liệu sơ cấp: Báo cáo quyết
toán NSNN tại Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch giai đoạn 2013-2016; Báo
cáo về một số chủ trương, biện pháp, dự toán thu chi ngân sách năm 20132016; Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển của Bộ đến năm 2020; đồng
thời vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan để làm rõ
hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính
nhằm đảm bảo các nhu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành
nền KT-XH của mình”.
1.1.2. Đặc điểm của Ngân sách Nhà nƣớc
“NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là
công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết
các vấn đề xã hội” nên có những đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, “việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với
quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên
cơ sở những luật lệ nhất định”. Thứ hai, “NSNN luôn gắn chặt với sở hữu
Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng”. Thứ ba,
“NSNN là một bản dự toán thu chi”. Thứ tư, “NSNN là một bộ phận chủ
yếu của hệ thống tài chính quốc gia”. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm:
tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính
cá nhân hoặc hộ gia đình. Trong đó “tài chính nhà nước là khâu chủ đạo
trong hệ thống tài chính quốc gia”.
1.1.3. Các bộ phận cấu thành nên Ngân sách nhà nƣớc
Ngân sách nhà nước được cấu thành từ 2 bộ phận chính, đó là từ
thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước. Đối với nguồn thu, chủ
5
yếu dựa trên hình thành từ thuế, các khoản vay nợ và phát hành trái phiếu
chính phủ. Tuy nhiên, do tầm quan trọng của thuế nên đối với nguồn thu,
luận văn này chỉ tập trung vào thuế. Đối với các cơ quan quản lý, lại là các
cơ quan trung ương như Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch, nguồn thu tập
trung vào cấp phát của NSNN trung ương. Do đó, trong phạm vi của Luận
văn này, tác giả gần như không đề cập đến nguồn thu của cấp Bộ mà tập
trung thẳng vào nghiên cứu chi NSNN. Quản lý NSNN trong Luận văn này
chất lượng và hiệu quả tăng trưởng, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội và
góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của toàn thể người dân.
1.2.2. Sự cần thiết của quản lý ngân sách nhà nƣớc tại các cơ quan
trung ƣơng không có nguồn thu trực tiếp
Quản lý NSNN tại các cơ quan trung ương không có nguồn thu có
một vai trò quan trọng, nhằm đáp ứng được đủ nguồn để phục vụ cho các
hoạt động quản lý tại chính cơ quan đó, đồng thời thực hiện hoạt động liên
kết với các cơ quan có liên quan. Trước đây, công tác lập dự toán thu và chi
theo trình tự có từ trước, song đến thời điểm hiện tại, dự toán được thực
hiện từ tháng 10, dựa trên những mục chi dự định sẽ tiến hành.
1.2.3. Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nƣớc tại các cơ quan trung
ƣơng không có nguồn thu trực tiếp
Một là, nguyên tắc tập trung dân chủ. Hai là, nguyên tắc kết hợp hài
hòa các lợi ích. Ba là, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả. Bốn là, nguyên tắc
hợp pháp, công khai, minh bạch, đúng quy định. Năm là, nguyên tắc bảo
đảm cân đối ngân sách.
1.2.4. Nội dung quản lý ngân sách nhà nƣớc tại cơ quan trung ƣơng
không có nguồn thu trực tiếp
Quản lý NSNN tại các cơ quan không có nguồn thu bao gồm các
nội dung sau đây
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; Lập dự toán ngân sách tại
các cơ quan trung ương không có nguồn thu trực tiếp; Phân bổ, giao dự toán
NSNN tại các cơ quan trung ương không có nguồn thu trực tiếp; Chấp hành
dự toán NSNN tại các cơ quan trung ương không có nguồn thu trực tiếp;
Kiểm tra, kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách tại các cơ quan
trung ương không có nguồn thu trực tiếp; Quyết toán các khoản chi ngân
sách tại các cơ quan trung ương không có nguồn thu trực tiếp;
7
2.2. Khái quát tình hình sử dụng NSNN tại Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch
2.2.1 Mô hình quản lý NSNN tại Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch
Quản lý chi NSNN là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý nhằm đạt được mục tiêu. Bộ máy quản lý NSNN tại Bộ Văn hóa,
Thể thao, Du lịch chính là Chủ thể quản lý chi ngân sách cấp cơ quan trung
ương bao gồm:
+ Lãnh đạo cấp Bộ: có nhiệm vụ thông qua dự toán thu chi ngân
sách cấp bộ và đơn vị trực thuộc, gồm dự toán chi đầu tư phát triển, chi
thường xuyên, dự phòng ngân sách theo quy định. Trong chi đầu tư phát
triển phân bổ theo tỷ lệ nguồn thu tiền sử dụng đất được hưởng theo phân
cấp. Chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục - đào
tạo và dạy nghề, khoa học và công nghệ; quản lý hành chính nhà nước,…;
quyết định phân bổ dự toán ngân sách chi tiết theo chi đầu tư phát triển, chi
thường xuyên, dự toán chi thường xuyên của từng cơ quan, đơn vị thuộc
cấp dưới mình, mức bổ sung cho ngân sách từng đơn vị cấp dưới trực tiếp,
gồm bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu; phê chuẩn quyết toán
ngân sách của cơ quan trung ương; quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách
trong trường hợp cần thiết.
+ Vụ Kế hoạch, Tài chính có nhiệm vụ: Hướng dẫn các cơ quan,
đơn vị dự toán trực thuộc xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; xây dựng,
trình Ban lãnh đạo dự toán ngân sách theo hướng dẫn của Bộ Tài chính;
Lập dự toán chi ngân sách và tổng hợp dự toán ngân sách của các vụ, cục
cấp dưới, phương án phân bổ ngân sách trình ban lãnh đạo; lập dự toán
ngân sách điều chỉnh trong trường hợp cần thiết để trình ban lãnh đạo; tổ
chức thực hiện dự toán ngân sách đã được quyết định; hướng dẫn, kiểm tra
việc quản lý tài chính, ngân sách, giá, thực hiện chế độ kế toán của các cục,
vụ trực thuộc, và các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp khác thuộc tại
Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch; thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách; xét
duyệt quyết toán đối với các cơ quan, đơn vị được ngân sách hỗ trợ; lập
quyết toán thu, chi ngân sách của Bộ; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu
về mạng lưới các nhà văn hóa, các bảo tàng, và các chương trình phát triển
sức khỏe cộng đồng hoặc tri ân với các thế hệ có công với cách mạng.
2.2.3. Nội dung quản lý ngân sách nhà nƣớc tại Bộ Văn hóa, Thể thao,
Du lịch
Thực trạng phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách
10
Hoạt động phân cấp thu chi ngân sách của Bộ được chia thành 3
lĩnh vực lớn nằm trong quá trình quản lý thành Văn hóa, thể thao, du lịch và
1 phần cho gia đình.
Lập dự toán chi NSNN
Dự toán chi NSNN của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch được thực
hiện theo các quy định của Luật ngân sách; Nghị định 60/2003/NĐ – CP
ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật
ngân sách; Thông tư 59/2003/TT – BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2003/NĐ- CP ngày 06/6/2003 của Chính
phủ; Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành định mức phân bổ chi thường xuyên NSNN. Các cơ sở trên
làm căn cứ cho công tác quản lý chi NSNN đạt hiệu quả và đúng mục đích
trong thời kỳ ổn định ngân sách 2007 – 2010 và thời kỳ ổn định ngân sách
2011 – 2015 được kéo dài đến hết năm 2016.
Thực trạng quản lý phân bổ, giao dự toán NSNN tại Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch
Căn cứ nhiệm vụ được giao, hàng năm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch xây dựng phương án phân bổ, giao dự toán chi NSNN dựa trên tỉ lệ
điều tiết (%) giữa các nguồn thu của từng đơn vị để trình lãnh đạo quyết
định. Tiếp đó, sau khi lãnh đạo Bộ xem xét, chấp thuận và quyết phương án
phân bổ, giao dự toán chi NSNN cho các đơn vị, lúc này mới ra quyết định
Trong những năm qua, KBNN tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát
chi theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho các đơn vị sử dụng
ngân sách và chủ đầu tư. Đồng thời, công tác này cũng phải đảm bảo đúng
quy định của Luật NSNN, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí và Luật
phòng chống tham nhũng.
Quyết toán chi NSNN tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Quy trình quyết toán chi ngân sách tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch gồm 5 bước
Bước 1: Vụ Kế hoạch – Tài chính nhập số liệu quyết toán thu, chi
của các đơn vị sử dụng ngân sách, nhập số liệu quyết toán ghi thu, ghi chi,
nhập số liệu quyết toán chi đầu tư xây dựng cơ bản.
Bước 2: Tập hợp số liệu vào biểu mẫu quyết toán theo quy định của
Luật NSNN.
Bước 3: Đối chiếu và xác nhận số liệu quyết toán với Kho bạc nhà
nước.
12
Bước 4: Vụ Kế hoạch – Tài chính gửi báo cáo lên bộ phận quản lý
thuộc bộ (Bộ trưởng, Thứ trưởng) trình duyệt.
Bước 5: Truyền số liệu quyết toán thu, chi ngân sách cho Bộ Tài
chính tổng hợp.
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN tại Bộ VHTTDL
2.3.1 Những kết quả đạt đƣợc
Về cơ bản, các nội dung trong chu trình quản lý chi NSNN đã được
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tuân thủ.
Đã thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi theo đúng quy định của Nhà
nước
Các khoản chi ngân sách được kiểm soát thường xuyên qua KBNN
Những hạn chế trong thực hiện dự toán NSNN của Bộ VHTTDL
như việc chấp hành dự toán và quyết toán NSNN còn bị ảnh hưởng bởi hệ
thống, cơ chế, chính sách. Các tiêu chuẩn định mức chi tiêu chưa được ban
hành kịp thời, đầy đủ và chưa thực sự đồng bộ với nhau, do đó đã gây khó
khăn trong triển khai thực hiện việc chấp hành dự toán cũng như quyết toán
NSNN của Bộ. Ngoài ra, quá trình thực hiện dự toán chi XDCB của một số
trường đại học, cao đẳng và các đơn vị trực thuộc vẫn còn mang tính dàn
trải, chưa tập trung vốn cho các dự án ưu tiên.
Những hạn chế trong kiểm soát, thanh toán NSNN qua KBNN như:
Mặc dù hàng năm Kho bạc nhà nước đã cấp vốn tạm ứng cho các chủ đầu
tư theo kế hoạch, tuy nhiên, việc triển khai thực hiện dự án lại không kịp
thời so với kế hoạch cấp vốn vì không có mặt bằng để thi công.
Những hạn chế trong quyết toán chi NSNN của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch như chất lượng thẩm định, xét duyệt báo cáo đôi khi còn
mang tính hình thức, né tránh; việc quyết toán chi NSNN củaBộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịchmới chỉ lại ở việc chấp nhận những khoản đã chi trong
năm. Khi phát hiện sai sót chưa kiên quyết xử lý xuất toán đối với các
khoản chi không đúng quy định, mà chỉ dừng lại ở mức rút kinh nghiệm.
Những hạn chế trong thanh tra, kiểm tra chi NSNN của Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch như mặc dù trong quá trình kiểm tra phát hiện
được sai sót của các đơn vị trong việc lập dự toán, thực hiện dự toán, báo
cáo kết toán,… nhưng lại không có chế tài xử lý kịp thời nhằm điều chỉnh
nhiệm vụ hợp lý.
14
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế trong quản lý NSNN của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch trong những năm qua do rất nhiều nguyên nhân gây ra. Ngoài
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
TẠI BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
3.1. Chiến lƣợc phát triển ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta
nhận thức ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của lĩnh vực văn hoá thể thao, du
lịch và gia đình đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Đó chính là cơ sở
tăng qui mô chi NSNN cho Bộ VHTTDL, đồng thời là tiền đề, điều kiện,
yêu cầu đối với quản lý NSNN tại Bộ.
3.1.1. Đối với lĩnh vực văn hóa
Chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn văn hóa với các hoạt
động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn
hóa, đồng thời đảm bảo yêu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa,
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
+ Thực hiện cơ chế mở rộng hoạt động kinh đoanh dịch vụ (hoạt
động thể thao, dịch vụ văn hóa…), tạo nguồn thu hỗ trợ cho hoạt động sự
nghiệp của các đơn vị văn hóa, nghệ thuật.
3.1.2. Đối với lĩnh vực thể thao
+ Tiếp tục thực hiện lộ trình chuyển đổi hoạt động của các cơ sở thể
dục, thể thao công lập sang phương thức cung ứng dịch vụ công.
+ Đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động thể dục, thể
thao; tăng cường huy động và tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá
nhân tham gia đầu tư phát triển thể dục, thể thao quần chúng, thể thao thành
tích cao và thể thao chuyên nghiệp.
3.1.3. Đối với lĩnh vực du lịch
Du lịch Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là một ngành kinh
tế năng động, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương đường lối có tác dụng
định hướng, thúc đẩy ngành Du lịch phát triển. Từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX (2001) đã xác định chủ trương phát triển du lịch thật sự trở thành
KT-XH từng năm của ngành. Nếu thấy cần thiết nên điều chỉnh tỉ lệ giữa
các đơn vị trực thuộc, giữa các nhiệm vụ, ưu tiên cho những lĩnh vực, đơn
vị tạo sự công bằng trong chi NSNN. Tuy nhiên, việc điều chỉnh phải có cơ
sở, tránh việc điều chỉnh tùy tiện gây cản trở trong lãnh đạo, chỉ đạo. Bên
17
cạnh đó cần phải tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cấp quản lý
trong việc sử dụng ngân sách.
(3) quản lý NSNN tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải theo
hướng tiết kiệm, hiệu quả, bố trí chi thường xuyên ở mức độ hợp lý, tăng
chi đầu tư phát triển để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đã đề ra.
Nâng cao hiệu quả các khoản chi ngân sách, xác định các nội dung trọng
tâm cần đầu tư, đồng thời thực hiện tốt các khâu xây dựng, chấp hành dự
toán, quyết toán ngân sách.
3.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nƣớctại Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý ngân sách
Quy trình thu – chi NSNN hiện đã được quy định rất cụ thể trong
luật NSNN và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, đối với Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn có những hạn chế,
chưa đúng quy định.
3.2.2. Hoàn thiện nội dung nghiệp vụ quản lý NSNN tại Bộ VHTTDL
3.2.2.1. Hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN
Việc phân cấp các quyết định đầu tư thuộc NSNN của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịchcần chú trọng đến nhóm dự án và quy mô dự án. Nên
tập trung những nhóm dự án có tổng mức đầu tư từ 5 tỉ đồng trở nên, có
thiết kế kỹ thuật phức tạp phân cấp cho các vụ cục làm chủ đầu tư, còn
những nhóm dự án dưới 5 tỉ đồng, thiết kế kỹ thuật đơn giản giao cho các
NSNN qua Kho bạc nhà nước
Trong kiểm soát chi thường xuyên, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch cần xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho nhu cầu chi thường xuyên
của toàn ngành từ nguồn NSNN và nhu cầu sử dụng ngân sách tại các đơn
vị trực thuộc một cách thường xuyên để có những điều chỉnh kịp thời nhằm
thiết lập một cơ cấu chi mới đảm bảo các khoản chi có hiệu quả nhất.
3.2.3. Nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý
NSNN
Ngân sách là nguồn tài chính chủ yếu đảm bảo cho cơ quan nhà nước
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện các nhiệm vụ KT-XH.
Chính vì vậy, để công tác quản lý ngân sách của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch, đặc biệt là quản lý chi được nâng cao thì vai trò của đội ngũ cán bộ, chuyên
viên, những người trực tiếp tham gia vào công tác quản lý ngân sách là rất quan
19
trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và hiệu lực trong việc quản lý ngân
sách.
3.2.4. Đổi mới cơ cấu chi NSNN tại Bộ VHTTDL
Thứ nhất, xác định chi đầu tư phát triển là khoản chi quan trọng đối
với sự nghiệp phát triển KT-XH của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Song không vì thế mà cơ cấu khoản chi này quá mức. Phải làm sao đảm bảo
mức độ chi hợp lý phù hợp với các nguồn thu. Bảo đảm tăng chi hợp lý bên
cạnh đó tranh thủ khai thác được các nguồn lực trong xã hội thông qua hình
thức hợp tác đầu tư công tư PPP.
Thứ hai, khoản chi thường xuyên là khoản chi có rất nhiều nội dung
khác nhau. Vì vậy, việc sắp xếp, cơ cấu lại cần được rà soát đánh giá thận
trọng. Loại bỏ những khoản chi bất hợp lý ra khỏi cơ cấu chi. Cần ưu tiên
chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất
chưa phù hợp thực tế, cứng nhắc, chưa được quy định cụ thể. Vì vậy, các cơ
quan chức năng của Chính phủ cần rà soát lại các văn bản pháp luật về quản
lý chi NSNN để tham mưu cho Quốc hội sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện.
Thứ hai, nghiên cứu đổi mới phương pháp lập dự toán NSNN theo
đầu vào như hiện nay sang lập dự toán NSNN theo kết quả đầu ra. Quản lý
NSNN theo kết quả đầu ra sẽ là công cụ để Nhà nước tập trung nguồn lực
công phục vụ các hoạt động mang lại lợi ích cao nhất cho xã hội, giúp cải
thiện chính sách tài chính công và góp phần tăng cường hiệu quả quản lý
chi NSNN.
Thứ ba nghiên cứu hoàn thiện định mức phân bổ ngân sách đảm
bảo tính công bằng, hợp lý, công khai giữa các vùng, miền, có tính đến yếu
tố ưu tiên cho các địa phương miền núi, hải đảo, các địa phương nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm, các tiêu chí xây dựng định mức phải đảm bảo tính
khoa học, dễ tính toán, dễ kiểm tra.
21
KẾT LUẬN
Quản lý chi ngân sách tại các cơ quan trung ương là một lĩnh vực
quản lý rất khó khăn, vì nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố tác động, không chỉ
là cơ chế chính sách, con người mà còn phụ thuộc mạnh mẽ về các điều
kiện khách quan khác. Vì vậy, để đổi mới quản lý chi ngân sách tại các cơ
quan trung ương cần một thời gian và các điều kiện nhất định. Tuy nhiên,
chúng ta cần phải đẩy nhanh quá trình này, điều này có thể làm được nếu có
sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương xuống và sự quyết tâm của bộ máy
quản lý các cấp.
Hoàn thiện quản lý NSNN của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là
một việc cần thiết, nó sẽ giúp cho NSNN Bộ thực sự trở thành công cụ quản
lý vĩ mô của Nhà nước. Bởi vì, thực tế trong những năm qua, công tác quản
NSNN.
Thông qua nghiên cứu những cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá
thực trạng quản lý NSNN của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tác giả hy
vọng rằng nội dung nghiên cứu và những giải pháp trình bày trong Luận
văn sẽ góp phần hoàn thiện công tác quản lý NSNN tại Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch, đồng thời góp phần đẩy nhanh hiểu biết của người dân về
dân trí, về các mặt thuộc văn hóa xã hội cũng như đời sống tinh thần và các
lĩnh vực khác mà Bộ được giao quản lý./.
23