BÀI GIẢNG GIÁO dục BIẾN đổi KHÍ hậu và NÂNG CAO NĂNG lực THÍCH ỨNG - Pdf 45

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ)

GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ NÂNG CAO
NĂNG LỰC THÍCH ỨNG
(Dành cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Địa lý,
hệ chính quy)

Biên soạn: Nguyễn Hữu Duy Viễn

Năm 2015


MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................... b
LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................... 0
CHƯƠNG 1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU .................................................. 1
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU .. 1
1.1.1. Khái niệm biến đổi khí hậu và các thuật ngữ liên quan ......................... 1
1.1.1.1. Khái niệm biến đổi khí hậu .............................................................. 1
1.1.1.2. Các thuật ngữ liên quan.................................................................... 1
1.1.2. Đặc điểm của biến đổi khí hậu ............................................................... 2
1.1.2.1. BĐKH hiện nay có nguyên nhân từ con người ................................ 2
1.1.2.2. BĐKH diễn ra chậm, khó phát hiện, khó điều chỉnh ....................... 2
1.1.2.3. BĐKH diễn ra trên phạm vi toàn cầu, có ảnh hưởng đến tất cả các
lĩnh vực đời sống con người .................................................................................. 3
1.1.2.4. BĐKH diễn ra với cường độ ngày một tăng và hậu quả nặng nề đối

CHƯƠNG 2. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM ......................................... 16
2.1. BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM........................... 16
2.1.1. Biến đổi của các yếu tố khí hậu cơ bản ................................................ 16
2.1.1.1. Biến đổi nhiệt độ trung bình .......................................................... 16
2.1.1.2. Biến đổi ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 20oC, 25oC .......... 17
2.1.1.3. Biến đổi của số giờ nắng ................................................................ 18
2.1.1.4. Biến đổi của lượng mưa ................................................................ 19
2.1.1.5. Sự biến đổi của các hiện tượng khí hậu khác ................................. 19
2.1.1.6. Biến đổi về thời gian và số lượng bão vào Việt Nam .................... 20
2.1.2. Biến đổi của mực nước biển ................................................................. 20
2.1.2.1. Xu thế biến đổi của mực nước biển ............................................... 20
2.1.2.2. Tương quan so sánh mực nước biển trung bình các thời kỳ .......... 20
2.1.3. Sự biến động của sinh vật tự nhiên và môi trường sinh sống .............. 21
2.1.3.1. Giảm diện tích đất ngập nước tự nhiên .......................................... 21
2.1.3.2. Biến động về thủy sinh ở một số địa phương ................................ 21
2.1.3.3. Nhiều rạn san hô bị tẩy trắng, tảo độc hại xuất hiện ...................... 22
2.1.3.4. Sự gia tăng bệnh tật ........................................................................ 22
2.2. KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO VIỆT NAM ............................... 22
2.2.1. Kịch bản nhiệt độ.................................................................................. 22
2.2.2. Kịch bản lượng mưa ............................................................................. 25
2.2.3. Kịch bản nước biển dâng ...................................................................... 28
2.3. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM .......................... 29
2.3.1. Khái quát về tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam ...................... 29
2.3.1.1. Tác động do mực nước biển dâng .................................................. 29
2.3.1.2. Tác động do sự gia tăng các thiên tai ............................................. 30
2.3.2. Tác động cụ thể đến các khu vực ......................................................... 31
2.3.2.1. Tác động đến vùng Tây Bắc .......................................................... 31
2.3.2.2. Tác động đến vùng Đông Bắc ........................................................ 31
2.3.2.3. Tác động đến vùng đồng bằng Bắc Bộ .......................................... 32
2.3.2.4. Tác động đến vùng Bắc Trung Bộ ................................................. 33

3.2.2.3. Năng lượng gió............................................................................... 47
3.2.2.4. Năng lượng biển (hải năng) ........................................................... 48
3.2.2.5. Năng lượng từ lòng đất (địa năng) ................................................. 48
3.2.2. Bảo vệ và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả ........................................ 48
3.2.2.1. Bảo vệ tài nguyên nước .................................................................. 48
3.2.2.2. Sử dụng nước hợp lý và tiết kiệm .................................................. 49
3.2.3. Bảo vệ rừng, trồng cây tạo môi trường sống trong lành....................... 49
3.2.4. Giảm thiểu và xử lý rác thải, chất thải.................................................. 50
3.3. NHỮNG HÀNH ĐỘNG HỌC SINH CÓ THỂ LÀM ĐỂ THÍCH ỨNG
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU......................................................................................... 51
3.3.1. Học sinh biết tự bảo vệ mình (một số kỹ năng phòng chống thiên tai) 51
3.3.1.1. Hình thành ý thức thường trực phòng chống thiên tai ................... 51
3.3.1.2. Kỹ năng bơi lội giúp học sinh tự cứu mình khi mưa lũ hoặc khi gặp
nguy hiểm sông nước .......................................................................................... 51
3.3.1.3. Kỹ năng phòng chống điện giật khi mưa lũ ................................... 52
3.3.1.4. Kỹ năng phòng chống dịch bệnh trong và sau thiên tai, mưa lũ .... 53
3.3.2. Học sinh tham gia bảo vệ cơ sở vật chất trường học ............................ 54
3.3.3. Học sinh tham gia vào các phong trào hoạt động thích ứng với biến đổi
khí hậu của cộng đồng và địa phương .................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH ....................................................................... 57

d


LỜI NÓI ĐẦU
Bài giảng “Giáo dục biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực thích ứng”
được biên soạn dựa trên cơ sở những giáo trình có liên quan của các trường bạn
và tài liệu tác giả thu thập được từ nhiều năm giảng dạy cho sinh viên ngành Địa
lý học, chuyên ngành Địa lý du lịch.
Bài giảng cung cấp những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu và vấn đề

- Khí hậu là tổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống kê (trung
bình, xác suất các cực trị v.v..) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực
địa lý với thời kỳ trung bình thường là vài thập kỷ. Định nghĩa chính thức của Tổ chức
Khí tượng thế giới (WMO) “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định
đặc trưng bởi thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó”.
- El Nino, La Nina: Vào những khoảng thời gian không đều đặn, nhưng nhìn
chung vào khoảng bốn năm một lần, nhiệt độ bề mặt nước biển phía Đông và trung tâm
xích đạo Thái Bình Dương lại nóng lên trên diện rộng. Sự nóng lên đó thường kéo dài
khoảng một năm, được gọi là hiện tượng El Nino (có nghĩa là “ Đứa con của Chúa”, do
hiện tượng này thường xảy ra vào mùa Giáng sinh ngoài khơi Nam Mỹ, kéo dài và mạnh
lên khi hiện tượng El Nino trên toàn Thái Bình Dương xảy ra). El Nino có thể được coi
như pha nóng lên của dao động khí hậu. Trong pha lạnh đi, gọi là La Nina, nhiệt độ bề
mặt biển Thái Bình Dương xích đạo lạnh đi so với bình thường. Nhiệt độ bề mặt biển đi
đôi với sự dịch chuyển lan rộng trong khí quyển về gió, mưa v.v...
- ENSO (El Nino/Shouthem Osciliation) thường được dùng để chỉ một hiện tượng
tổng thể của những biến đổi áp suất bề mặt vùng nhiệt đới đi kèm chu trình El Nino/La
Nina. Các hiện tượng này bao gồm sự tương tác mạnh giữa đại dương và khí quyển. Ở
khu vực Thái Bình Dương, chu trình ENSO sinh ra những biến đổi lớn, rõ ràng trong
các dòng hải lưu vùng nhiệt đới, nhiệt độ, gió tín phong, các khu vực mưa v.v.. Thông
qua các mối liên hệ xa trong khí quyển, ENSO cũng ảnh hưởng đến khí hậu theo mùa ở
nhiều khu vực khác trên toàn cầu.
1


- Khả năng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ
thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả
năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH, kể cả biến đổi tự nhiên và cực
trị. Tổn thương là hàm của tính chất, mức độ và tốc độ của biến đổi và biến động khí
hậu mà một hệ thống phát lộ ra cùng với độ mẫn cảm và năng lực thích ứng của nó.
- Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong

sự biến động này. Mặt khác, sự BĐKH lại do nhiều nguyên nhân gây ra, biểu hiện ở mỗi
khu vực trên Trái Đất cũng khác nhau nên khó điều chỉnh, thay đổi tình thế.

2


1.1.2.3. BĐKH diễn ra trên phạm vi toàn cầu, có ảnh hưởng đến tất cả các
lĩnh vực đời sống con người
Hầu như các chủ thể, các mặt hoạt động trên mọi nơi trên Trái Đất đều chịu ảnh
hưởng của BĐKH. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của BĐKH không diễn ra đồng đều ở
mọi nơi và như nhau đối với các chủ thể. Các vùng đồng bằng thấp ven biển, những
người nghèo, người già, phụ nữ và trẻ em sẽ gánh chịu ảnh hưởng nặng nề và dễ bị tổn
thương nhất từ BĐKH.
1.1.2.4. BĐKH diễn ra với cường độ ngày một tăng và hậu quả nặng nề đối
với con người
Các số liệu thống kê và các quan sát trong những năm gần đây cho thấy mức độ
BĐKH gây ra ngày một lớn, mạnh và bất thường, trái hẳn với quy luật vốn có; và vì
thế cũng gây nên những hậu quả và thiệt hại rất to lớn, khó lường như: lũ lụt, hạn hán,
siêu bão, những đợt nóng lạnh bất thường hay xảy ra trên một diện rộng và vào bất kỳ
thời điểm nào trong năm. Đây thực sự là nguy cơ, là hiểm hoạ tự nhiên to lớn nhất mà
loài người phải gánh chịu.
1.1.3. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là hiện tượng đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử phát triển
của Trái Đất. Tiêu biểu và rõ nét nhất của biến đổi khí hậu là sự biến động của nhiệt độ
trung bình của Trái Đất theo xu thế tăng lên hoặc giảm đi khiến cho Trái Đất trải qua
các thời kỳ nóng lên hoặc lạnh đi.
Qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã đi đến kết luận là có 2 nguyên
nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu: do những quá trình tự nhiên và do
ảnh hưởng hoạt động của con người.
1.1.3.1. Nguyên nhân do tự nhiên

sáng Mặt Trời. Trái Đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt.
Khoảng 40 triệu năm trước, Trái Đất cũng trải qua nhiều lần băng hà lạnh lẽo và
gian băng ấm áp với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm. Chênh lệch nhiệt độ trung
bình giữa kỳ băng hà và gian băng khoảng 5 - 7oC, riêng vùng cực khoảng 10 - 15oC.
Thời kỳ gian băng cách đây khoảng 125 - 130 nghìn năm, nhiệt độ trung bình của
bề mặt Trái Đất cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp (1750) khoảng 2 oC và mực nước
biển trung bình cao hơn trong thế kỷ XX từ 4 - 6 m.
Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10 - 15 nghìn năm. Sau thời
kỳ này, Trái Đất ấm dần lên, các sinh vật mới dần dần phát triển.
Đầu thế kỷ XIV, châu Âu trải qua một thời kỳ băng hà nhỏ kéo dài khoảng vài
trăm năm. Những khối băng khổng lồ hình thành và những mùa đông khắc nghiệt làm
cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác.
1.1.3.2. Nguyên nhân do con người
Khí hậu Trái Đất hiện nay đang nóng lên cũng giống như chúng ta đang sống
trong một nhà kính. Trong nhà kính, ánh sáng Mặt Trời vẫn xuyên qua. Mặt đất trong
nhà kính hấp thu năng lượng bức xạ Mặt Trời nóng lên lại bức xạ trở lại lớp không khí
trong nhà kính. Lớp không khí này hấp thu và giữ lại nguồn năng lượng bức xạ sóng
dài vì thế nóng lên, sinh ra hiệu ứng nhà kính. Những quan trắc và đo đạc trong vòng
hơn 200 năm gần đây người ta nhận thấy nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng lên có
liên quan chặt chẽ với sự gia tăng nồng độ của các chất khí như CO 2, CH4 và một số
chất khí khác. Các chất khí này có đặc tính hấp thu rất mạnh nguồn năng lượng bức xạ
sóng dài làm cho các lớp không khí ở sát mặt đất nóng lên giống như khả năng giữ
nhiệt trong nhà kính.Vì thế các chất khí này được gọi là khí nhà kính. Sự tăng nồng độ
của khí nhà kính sẽ dẫn đến sự tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển và dẫn đến kết
quả là làm tăng nhiệt độ trung bình của Trái Đất.
Đặc điểm của khí nhà kính là chúng tồn tại khá lâu trong khí quyển, từ vài tháng
đến vài trăm năm, luôn được xáo trộn nhanh chóng và làm thay đổi thành phần không
khí trong khí quyển. Do vậy các chất khí nhà kính được phát thải vào khí quyển bất kỳ
từ nguồn nào và bất kỳ ở đâu cũng đều có ảnh hưởng tới khắp mọi nơi trên Trái Đất.
Vì thế sự biến đổi khí hậu không phải mang tính cục bộ, riêng rẽ mà là vấn đề mang

O3 là loại khí nhà kính quan trọng thứ ba sau khí mêtan. Ôzôn có nguồn gốc tự
nhiên và do hoạt động của con người thải vào khí quyển từ việc sử dụng các động cơ,
các nhà máy điện. Hiện nay hàm lượng khí ôzôn ở tầng đối lưu đã tăng lên khoảng
35% so với thời kỳ tiền công nghiệp.
N2O là khí nhà kính có nguồn gốc tự nhiên, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong thành
phần khí quyển. Tuy vậy, do hoạt động của con người đốt các loại nhiên liệu, đốt phá
rừng, sản xuất các hóa chất, sử dụng phân hóa học đã làm cho nồng độ ôxit ni tơ tăng
lên khoảng 8% trong khoảng 100 năm gần đây và làm tăng 15% lượng ôxit nitơ trong
khí quyển.
Ngoài các chất khí nhà kính có nguồn gốc tự nhiên kể trên, hoạt động sản xuất
của con người còn tạo ra một chất khí nhà kính mới là Cloruafluo cacbon (CFCs) gọi
tắt là chất CFC. Chất CFC mới được sản xuất từ năm 1930 và được sử dụng rộng rãi
trong kỹ thuật làm lạnh như máy làm nước đá, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, máy lạnh,
bình xịt bọt khí, các chất tẩy rửa. Nồng độ chất CFC trong khí quyển tăng lên nhanh
chóng trong mấy chục năm gần đây. Chất CFC nguy hại ở chỗ vừa là khí nhà kính vừa
5


có tác động phá huỷ tầng ôzôn ở tầng bình lưu nên ảnh hưởng nhiều đến biến đổi khí
hậu. CFC đã bị cấm sản xuất từ 1995 vì thế từ năm 1995 trở lại đây, nồng độ khí CFC
trong khí quyển đã giảm đi rõ rệt.
1.2. BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
Những biểu hiện chính, thể hiện rất rõ nét của biến đổi khí hậu toàn cầu là: nhiệt
độ tăng, khí hậu Trái Đất ấm lên; sự dâng cao của mực nước biển; sự thay đổi thành
phần và chất lượng khí quyển; sự xuất hiện của những thiên tai bất thường, trái quy luật,
có cường độ của quy mô lớn.
1.2.1. Nhiệt độ tăng, khí hậu trái đất nóng lên
Nhiệt độ không khí của Trái Đất đang có xu hướng tăng khiến cho Trái Đất ấm
lên, cao hơn nhiệt độ trung bình hiện nay (15 oC). Từ năm 1850 đến nay, nhiệt độ trung
bình đã tăng 0,74oC; trong đó nhiệt độ tại 2 cực của Trái Đất tăng gấp 2 lần so với số

1.2.3. Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển
Tác động của những hoạt động do con người gây ra cùng với những tác động của
tự nhiên như núi lửa, cháy rừng, hạn hán, bão, lũ lụt đã làm cho thành phần của khí
quyển thay đổi rất nhiều. Đó là sự gia tăng của các chất khí nhà kính trong khí quyển, tuy
chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nồng độ rất thấp so với hai chất khí chủ yếu là N2 (78%) và O2
(21%) nhưng tác hại của chúng lại rất lớn. Chất lượng khí quyển vì thế giảm sút rất
nhanh. Chẳng những chúng trực tiếp gây nên hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ
không khí và khiến Trái Đất nóng lên mà còn là các khí độc hại ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống sinh vật nói chung, của con người nói riêng; ảnh hưởng tới các quá
trình tự nhiên và mọi mặt hoạt động của con người một cách trực tiếp và gián tiếp.
1.2.3.1. Hiệu ứng nhà kính
Hiệu ứng nhà kính do Jean Baptiste Joseph Fourier (Pháp) đặt tên, dùng để chỉ
hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng Mặt Trời xuyên qua các cửa sổ
hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt cho bầu không
khí bên trong nhà, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong nhà chứ không
chỉ ở những chỗ được chiếu sáng. Hiệu ứng này đã được sử dụng trong các nhà kính
trồng cây ở nơi khí hậu lạnh. Nó cũng được sử dụng trong kiến trúc, dùng năng lượng
Mặt Trời một cách thụ động để tiết kiệm chất đốt sưởi ấm nhà ở. Trong khí quyển
cũng xảy ra hiện tượng tương tự gọi là hiệu ứng nhà kính khí quyển. Khi các tia bức xạ
sóng ngắn (chẳng hạn tia cực tím) từ Mặt Trời xuyên qua bầu khí quyển đến mặt đất
và được phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt, một số phân tử trong khí quyển (trong
đó chủ yếu là đioxit các bon (C02) và hơi nước) có thể hấp thụ những bức xạ nhiệt này
và nhờ đó giữ hơi ấm lại trong bầu khí quyển.
Sự thay đổi nồng độ của các khí nhà kính trong vòng 100 năm trở lại đây: đioxit
các bon tăng 20%, metal tăng 90%, …) đã làm tăng nhiệt độ Trái Đất lên 2oC. Tới cuối
thế kỷ XXI nhiệt độ tăng thêm từ 1,4oC – 4oC (gọi là hiệu ứng nhà kính nhân loại, tức
là hiệu ứng nhà kính do con người gây ra).
1.2.3.2. Suy giảm ôzôn tầng bình lưu
Ôzôn là một chất độc có khả năng ăn mòn và là một chất gây ô nhiễm chung. Nó
có mùi hăng mạnh. Nó tồn tại với một tỷ lệ nhỏ trong bầu khí quyển Trái Đất, có thể

- Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do
sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy này thường lan
truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.
- Bão bụi: gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và
gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang
theo bụi muối lan truyền vào không khí.
- Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên: cũng phát thải
nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí
sunfua, nitrit, các loại muối v.v... Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí.
+ Nguồn nhân tạo
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt động công
nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương tiện giao thông.
Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây ra:
- Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các
nhà máy vào không khí.
- Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên các
đường ống dẫn tải. Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể được hút và thổi
ra ngoài bằng hệ thống thông gió.
- Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: nhiệt điện;
vật liệu xây dựng; hoá chất và phân bón; dệt và giấy; luyện kim; thực phẩm; các xí
nghiệp cơ khí; các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ; giao thông vận tải; bên cạnh
đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
* Các chất và tác nhân gây ô nhiễm:
+ Các loại oxit như: nitơ oxit (NO, NO2), nitơ đioxit (NO2), SO2, CO, H2S và các
loại khí halogen (clo, brom, iôt). Các hợp chất flo. Các chất tổng hợp (ête, benzen); các
8


chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân tử cacbon, sol
khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa; các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như

Kịch bản phát thải KNK, kịch bản nồng độ khí CO2, kịch bản nhiệt độ trung bình, kịch
bản lượng mưa, kịch bản các hiện tượng thời tiết cực đoan và kịch bản mực nước biển
dâng.
1.3.1. Kịch bản phát thải KNK
Kịch bản phát thải KNK 2001 bao gồm 4 họ với các đặc trưng cơ bản về kinh tế,
kỹ thuật, môi trường của thế giới.
* Họ A1: Kinh tế phát triển rất nhanh; Dân số đạt đỉnh vào giữa thế kỷ XXI, sau
đó giảm dần; Xuất hiện nhanh chóng nhiều công nghệ hiệu quả; Cơ sở hạ tầng đồng
đều giữa các khu vực trên thế giới.
9


Họ kịch bản A1 được chia thành ba nhóm khác nhau:
- Nhóm A1FI: Phát triển nhiên liệu hóa thạch;
- Nhóm A1T: Phát triển nhiên liệu phi hóa thạch;
- Nhóm A1B: Phát triển năng lượng cân bằng giữa hóa thạch và phi hóa thạch.
* Họ A2: Dân số tăng liên tục trong suốt thế kỷ XXI; Phát triển kinh tế chủ yếu
theo khu vực; Tăng trưởng kinh tế đầu người và chuyển giao kỹ thuật chậm hơn các kịch
bản khác.
* Họ B1: Dân số đạt đỉnh vào giữa thế kỷ như họ A1; Thay đổi nhanh cấu trúc
hướng tới nền kinh tế dịch vụ và thông tin; Giảm cường độ tiêu hao năng lượng đưa ra
nhiều công nghệ sạch và hiệu quả nhưng không có sáng kiến bổ sung về khí hậu.
* Họ B2: Nhấn mạnh các giải pháp khu vực về kinh tế, xã hội, môi trường bền
vững; Dân số tăng đều nhưng chậm hơn họ A2; Phát triển kinh tế vừa phải, chậm hơn
nhưng thay đổi kỹ thuật nhiều hơn B1, A1; Chú trọng tính khu vực trên cơ sở bảo vệ
môi trường và công bằng xã hội.
Căn cứ vào lượng phát thải KNK vào những năm cuối thế kỷ XXI, người ta chia
kịch bản trên thành ba nhóm:
Bảng 1. Tổng lượng phát thải CO2 theo kịch bản phát thải 2001 (GtC/năm)
Loại

5,0
(Nguồn: IPCC Biến đổi khí hậu 2001 - Báo cáo tổng hợp)
1.3.2. Kịch bản nồng độ CO2
Kịch bản về nồng độ CO2 năm 2001 bao gồm 6 nhóm thuộc 3 loại dựa vào nồng
độ vào cuối thế kỷ XXI:
Bảng 2. Nồng độ khí CO2 trong khí quyển theo kịch bản năm 2001 (phần triệu)
Loại
Kịch bản
2050
2100
A1FI
610
970
Cao
A2
590
850
A1 B
510
730
Vừa
B2
480
620
A1 T
500
580
Thấp
B1
470

Cao
A1FI
4,0
2,4 – 6,4
(Nguồn: IPCC Báo cáo đánh giá thứ 4, 2007)
1.3.4. Kịch bản lượng mưa
Về lượng mưa không có các kịch bản hệ thống lâu dài như nhiệt độ mà chỉ có
các ước lượng cho một số khu vực ngắn hạn trong một số báo cáo đánh giá của IPCC.
IPCC ước lượng sự thay đổi của lượng mưa trung bình ngày (mm/ngày) trong
mùa đông (12, 1, 2) và trong mùa hạ (6, 7, 8) theo kịch bản A2 và kịch bản B2.
Bảng 4. Mức thay đổi lượng mưa thời kỳ 2071 - 2100
so với thời kỳ 1961 - 1990 theo kịch bản A2 và kịch bản B2
Kịch bản A2
Kịch bản B2
Khu vực
Lượng mưa Lượng mưa Lượng mưa
Lượng mưa
mùa đông
mùa hạ
mùa đông
mùa hạ
Tây Bắc Bắc Mỹ
3
2
2
2
Đông Bắc Bắc Mỹ
1
2
2

6
Bắc Âu
2
4
2
3
Nam Âu
3
6
3
6
Bắc Phi
6
1
6
1
Tây Trung Phi
2
6
2
6
Đông Trung Phi
2
6
2
6
Nam Phi
6
4
6

6
Bắc Úc
6
4
6
4
Nam Úc
2
4
6
4
(Nguồn: IPCC, Biến đổi khí hậu 2001, Báo cáo tổng hợp)
11


1.3.5. Kịch bản về các hiện tượng thời tiết cực đoan
Cũng như lượng mưa, trong các báo cáo của IPCC không có riêng kịch bản về hiện
tượng thời tiết cực đoan. Trong tài liệu này trình bày các nhận định về sự biến đổi hiện
tượng đặc biệt trong các báo cáo đánh giá của IPCC vào các năm: 1990, 2001 và 2007.
* Nhận định về thời tiết cực đoan trong báo cáo đánh giá thứ nhất
- Tần số nhiệt độ vượt qua các cực đại sẽ gia tăng trong khi tần số nhiệt độ dưới
các cực tiểu giảm đi.
- Số ngày rất nóng tăng lên trong khi đó số đêm giá lạnh giảm đi.
- Mặc dù nhiệt độ nước biển tăng lên song các mô hình khí hậu không thể hiện
được nhất quán rằng bão nhiệt đới tăng lên hay giảm đi về tần số và cường độ.
* Nhận định về thời tiết cực đoan trong báo cáo đánh giá thứ ba
- Trên hầu hết các khu vực:
+ Nhiệt độ cao nhất cao hơn, nhiệt độ thấp nhất cao hơn
+ Nhiều ngày nóng hơn, nhiều đợt nóng hơn, ít đợt lạnh hơn.
+ Ít ngày lạnh hơn, ít ngày sương giá hơn.

A1 T
0,20 - 0,45
Thấp
B1
0,18 - 0,38
(Nguồn: IPCC, Báo cáo đánh giá thứ 4, Báo cáo tổng hợp)

12


1.4. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
1.4.1. Một số biến đổi của các hệ tự nhiên và hệ sinh thái
Các hệ tự nhiên và các hệ sinh thái trên Trái Đất đã được hình thành trong một
quá trình lâu dài và tương đối ổn định. Khí hậu là một thành phần quan trọng của các
hệ tự nhiên cũng như các hệ sinh thái.
Theo quy luật về tính thống nhất và hoàn chỉnh trong lớp vỏ địa lý, khi có bất kỳ
một thành phần nào trong số các quyển thành phần là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển,
thổ nhưỡng quyển và sinh quyển mà thay đổi thì lập tức sẽ dẫn đến sự thay đổi của cả
hệ tự nhiên trên Trái Đất. Sự nóng lên của Trái Đất, sự mở rộng của các đại dương cũng
như sự thu hẹp diện tích các lục địa do nước biển dâng, sự xuất hiện ngày càng nhiều và
mức độ ác liệt của các thiên tai đã có tác động lớn và sâu sắc tới các hệ tự nhiên. Đó là
sự mở rộng của vòng đai nhiệt đới về phía hai cực của Trái Đất, sự thu hẹp của vành
đai băng tuyết trên các đỉnh núi cao, sự mất đi của nhiều loài sinh vật do không thích
nghi nổi với những biến động mạnh mẽ của khí hậu.
Khí hậu là một thành phần rất quan trọng, nhiều khi có ý nghĩa quyết định đến
các hệ sinh thái. Trong số các hệ sinh thái đã được định hình và ổn định tại các vùng tự
nhiên trên Trái Đất, có nhiều hệ sinh thái dễ bị tổn thương, bị biến đổi sâu sắc do sự biến
đổi khí hậu như các hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái của vùng đồng bằng thấp ven
biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh
thái núi cao, ... Ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu có thể là trực tiếp (do nhiệt độ tăng,

1.4.2.2. Tác động đối với công nghiệp, năng lượng và xây dựng
Đối với sản xuất công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy hải
sản bị lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu luôn có sự biến động. Nguồn cung cấp nước cho
nhiều ngành công nghiệp như năng lượng, dệt, khai thác và chế biến khoáng sản, ...
cũng gặp rất nhiều khó khăn do không chủ động điều tiết được.
1.4.2.3. Tác động đến giao thông vận tải và du lịch
Đối với ngành giao thông vận tải, sự biến đổi khí hậu nói chung là bất lợi. Các
thiên tai, lũ lụt, trượt lở đất có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều loại phương tiện giao
thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ. Nhiệt độ tăng làm tiêu hao năng lượng của
các động cơ, chi phí cho đổi mới công nghệ hạn chế chất thải khí nhà kính càng tăng
lên, chi phí cho đảm bảo an toàn giao thông, nạo vét luồng lạch cho giao thông thủy
cũng rất tốn kém.
Đối với ngành du lịch, biến đổi khí hậu theo xu thế Trái Đất nóng lên sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để kéo dài mùa du lịch hạ khiến cho miền biển và miền núi có cơ hội
phát triển loại hình du lịch nghỉ mát, nghỉ dưỡng. Đồng thời cũng cần phải lường trước
và nhìn nhận những khó khăn do sự biến đổi khí hậu gây ra. Các bãi tắm ven biển và
trên đảo vốn đã định hình nhiều năm với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
sẵn có sẽ bị thu hẹp lại, cảnh quan rạn san hô dưới nước, rừng ngập mặn ở khu vực bãi
triều bị biến đổi. Dòng khách du lịch trong nước và quốc tế biến động bất thường do lệ
thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu và những thiên tại. Chi phí cho các chuyến du
lịch trở nên đắt đỏ hơn, ...
1.4.2.4. Tác động đối với sức khỏe và đời sống của con người
Theo đánh giá của IPCC, có 6 vấn đề chính về tác động của biến đổi khí hậu gây
ra đối với sức khỏe và đời sống của con người là: các áp lực về sự tăng nhiệt độ, các
hiện tượng cực trị và các thiên tai, ô nhiễm không khí, các bệnh nhiễm khuẩn, các vấn
đề liên quan đến vùng ven biển, những vấn đề liên quan đến lương thực và dinh
dưỡng, những đổ vỡ về kế hoạch dân số và kinh tế.
Những vấn đề này có liên quan trực tiếp đối với mọi người dân, không loại trừ
một ai và ở bất cứ nơi nào trên Trái Đất.
1.4.3. Tác động của biến đổi khí hậu đối với các khu vực đặc biệt

2.1.1.1. Biến đổi nhiệt độ trung bình
Biến đổi về nhiệt độ thể hiện qua biến đổi nhiệt độ không khí trung bình tháng 1
(tháng chính đông), tháng 7 (tháng chính hạ) và nhiệt độ không khí trung bình năm.
Bảng 6. Mức tăng nhiệt độ theo xu thế trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu
và trung bình cho cả nước
Nhiệt độ (oC)
Số lượng
Vùng khí hậu
Trung bình
trạm
Tháng I
Tháng VII
năm
Tây Bắc
19
1,4
0,3
0,5
Đông Bắc Bộ
33
1,5
0,5
0,6
Đồng bằng Bắc Bộ
42
1,4
0,5
0,6
Bắc Trung Bộ
26

độ trung bình tháng 7 có xu thế giảm không đáng kể nhưng nhiệt độ trung bình năm có
xu thế tăng gần bằng 0,5oC.
- Ở Bắc Trung Bộ: nhiệt độ trung bình có xu thế tăng 0,4oC, nhiệt độ trung bình
tháng 7 có xu thế tăng khoảng 0,2oC, nhiệt độ trung bình năm cũng có xu thế tăng
khoảng 0,2 - 0,3oC.
- Ở Nam Trung Bộ: nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng khoảng 0,8oC,
nhiệt độ trung bình tháng 7 có xu thế tăng khoảng 0,3oC, nhiệt độ trung bình năm tăng
khoảng 0,5oC. Đối với trạm Nha Trang nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng nhưng không đáng kể, nhiệt độ tháng 7 có xu thế giảm không đáng kể, nhiệt độ trung bình
năm không thay đổi.
- Ở Tây Nguyên: Nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng 1oC, nhiệt độ trung
bình tháng 7 có xu thế tăng 0,9oC, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 1oC. Đối với
trạm Buôn Ma Thuột nhiệt độ trung bình tháng 1 tăng khoảng 0,9oC nhiệt độ trung
bình tháng 7 tăng khoảng 0,38oC nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC.
16


- Ở miền Đông Nam Bộ: Trạm TP. Hồ Chí Minh nhiệt độ trung bình tháng 1 và
tháng 7 không tăng nhưng nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,2oC so với trung
bình nhiều năm.
- Ở đồng bằng sông Cửu Long: Trạm Cần Thơ nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu
thế tăng vào những năm gần đây khoảng 0,5oC, nhiệt độ trung bình tháng 7 cũng tăng
khoảng 0,5oC và nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC. Đối với trạm Bạc Liêu
nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng dần và nhiệt độ trung bình tháng 7 có xu thế
giảm khoảng 0,2oC nhưng nhiệt độ trung bình năm không đổi.
Có thể nhận thấy nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng
VII (tháng đặc trưng cho mùa hạ) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả
nước trong 50 năm qua. Nhiệt độ vào mùa đông tăng nhanh hơn so với vào mùa hạ và
các vùng có nhiệt độ tăng nhanh hơn là Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ,
Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 - 1,5oC/50năm). Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6 0,9oC/50năm). Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta tăng lên

- Bắc Trung Bộ: Trạm Vinh bắt đầu sớm 1 ngày kết thúc sớm 7 ngày nghĩa là
mùa đông bắt đầu muộn 7 ngày và kết thúc sớm 1 ngày.
- Nam Trung Bộ: Trạm Đà Nẵng ngày bắt đầu 20oC sớm 10 ngày và kết thúc
muộn 5 ngày nghĩa là bắt đầu mùa đông muộn 5 ngày, kết thúc sớm 10 ngày.
- Tây Nguyên: Trạm Pleiku bắt đầu sớm 9 ngày, kết thúc muộn 8 ngày, nghĩa là
mùa đông đến muộn 8 ngày kết thúc sớm 9 ngày. Đối với trạm Buôn Ma Thuột ngày
bắt đầu qua 20oC sớm 11 ngày, kết thúc muộn 3 ngày nghĩa là ngày bắt đầu mùa đông
muộn 3 ngày, kết thúc mùa đông sớm 11 ngày.
Nhìn chung biến đổi của ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 20oC hay ngược
lại ngày bắt đầu và kết thúc mùa đông ở vùng núi cao và ở những vùng có nhiệt độ
dưới 20oC biến đổi ở mỗi nơi mỗi khác, về cơ bản mùa đông rút ngắn lại so với nhiều
năm.
* Sự biến đổi ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 25oC
Nhiệt độ bắt đầu và kết thúc qua 25oC rất có ý nghĩa cho thời vụ trỗ của lúa đông
xuân và mùa là cơ sở cho việc xác định thời vụ gieo trồng lúa ở các vùng.
- Trung du và miền núi Bắc Bộ: Ngày bắt đầu nhiệt độ qua 25oC sớm 2 ngày, kết
thúc muộn 2 ngày.
- Đồng bằng Bắc Bộ: Trạm Hà Nội không thay đổi, trạm Hải Dương bắt đầu sớm,
kết thúc muộn, trạm Nam Định ngày bắt đầu qua 25oC sớm và kết thúc muộn.
- Bắc Trung Bộ: Trạm Vinh nhiệt độ qua 25oC bắt đầu sớm, kết thúc muộn 12
ngày.
- Nam Trung Bộ: Trạm Đà Nẵng bắt đầu sớm 12 ngày, kết thúc muộn 12 ngày.
Trạm Nha Trang bắt đầu sớm, kết thúc muộn.
- Tây Nguyên: Trạm Buôn Ma Thuột bắt đầu sớm hơn bình thường và kết thúc
muộn 10 ngày.
Ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ 25oC ở mỗi nơi mỗi khác điều đó khẳng định
thời vụ gieo trồng lúa và các cây màu lương thực cũng phải thay đổi theo các kịch bản
của biến đổi khí hậu.
2.1.1.3. Biến đổi của số giờ nắng
Số giờ nắng là một yếu tố quan trọng đối với quá trình quang hợp của thực vật.

xu thế giảm, vụ đông xuân có xu thế tăng nhưng không đáng kể.
- Nam Trung Bộ: Trạm Đà Nẵng lượng mưa có xu thế tăng là mưa năm, vụ mùa,
vụ đông xuân còn tháng 7 lượng mưa giảm, tháng 1 lượng mưa không thay đổi.
- Tây Nguyên: Trạm Pleiku lượng mưa có xu thế giảm vào tháng 1, tháng 7,
lượng mưa năm và các vụ có xu thế tăng. Tại trạm Buôn Ma Thuột lượng mưa năm, vụ
có xu thế tăng, tháng 7 lượng mưa có xu thế giảm.
- Đông Nam Bộ: Tháng 1, vụ mùa lượng mưa có xu thế giảm, lượng mưa vụ
đông xuân có xu thế tăng.
- Đồng bằng sông Cửu Long: Trạm Cần Thơ lượng mưa tháng 1, vụ đông xuân
có xu thế giảm, lượng mưa tháng 7 có xu thế tăng, lượng mưa năm, vụ mùa hầu như
không đổi. Tại trạm Bạc Liêu lượng mưa tháng 7 xu thế tăng còn lại đều xu thế giảm.
2.1.1.5. Sự biến đổi của các hiện tượng khí hậu khác
- Số ngày mưa phùn: Ở miền Bắc giảm một nửa, từ trung bình 30 ngày mỗi năm
trong thập kỷ 1961 - 1970 xuống còn 15 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1991 - 2000;
- Hạn hán: Có xu hướng mở rộng ở hầu hết các vùng, đặc biệt là ở các tỉnh Nam
Trung Bộ, dẫn đến gia tăng hiện tượng hoang mạc hóa;
- Hiện tượng El Nino và La Nina: Ảnh hưởng đến Việt Nam mạnh mẽ hơn trong
vài thập kỷ gần đây, gây ra nhiều dị thường về thời tiết như nhiệt độ cực đại, nắng
nóng và hạn hán gay gắt trên diện rộng, cháy rừng khi có El Nino, điển hình là năm
1997 - 1998; mưa lớn, lũ lụt và rét hại khi có La Nina như năm 2007.

19


2.1.1.6. Biến đổi về thời gian và số lượng bão vào Việt Nam
Số cơn bão có xu thế tăng dần từ 1950 đến 1980. Số cơn bão giảm trong thập kỷ
1990. Nên chú ý rằng vào thập kỷ 1950 số lượng bão nhiều nhất vào tháng 8 và thập
kỷ 1960, 1970 vào tháng 9. Vào thập kỷ 1980 bão nhiều nhất vào tháng 10 thập kỷ
1990 vào tháng 11. Như vậy bão có xu thế xuất hiện muộn hơn so với trước.
Bảng 7. Bão đổ bộ vào Việt Nam theo tháng 1950 - 1999

1
1
5
11
13
19
12
8
1
70- 79
0
0
0
0
2
9
7
13
18
15
10
4
80- 89
0
0
2
0
1
9
10

Mức độ tăng của mực nước biển cao nhất năm là 5,60 mm/năm ở Hòn Dấu; 1,29
mm/năm ở trạm Sơn Trà và 4,34 mm/năm ở Vũng Tàu. So với mực nước biển trung
bình năm, mức độ tăng của mực nước biển cao nhất có sự khác nhau đáng kể giữa các
trạm tiêu biểu.
* Mực nước biển thấp nhất năm
Mực nước biển thấp nhất năm có mức độ tăng là 2,15 mm/năm ở Hòn Dấu; 3,10
mm/năm ở Sơn Trà và 0,84 mm/năm ở Vũng Tàu. Sự khác biệt giữa các trạm về tốc độ
xu thế mực nước biển thấp nhất rõ rệt hơn nhiều so với mực nước biển trung bình cũng
như mực nước biển cao nhất.
2.1.2.2. Tương quan so sánh mực nước biển trung bình các thời kỳ
Trong hầu hết trường hợp, mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây (1991 2008) đều cao hơn thời kỳ 1961 - 1990.
Về mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây cao hơn 7,2 cm ở Hòn Dấu và 3,5
cm ở Sơn Trà, Vũng Tàu. Trong khi đó, mực nước biển cao nhất thời kỳ gần đây cao
hơn 7,8 cm ở Hòn Dấu; 0,5 cm ở Vũng Tàu song thấp hơn 0,5 cm tại Sơn Trà. Mực
nước biển thấp nhất, thời kỳ gần đây cao hơn 2,7 cm ở Hòn Dấu; 5,0 cm ở Sơn Trà và
11,0 cm ở Vũng Tàu.
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status