1
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong thời gian qua, vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành một đề tài nóng
bỏng và cấp thiết khi biểu hiện của nó ngày càng một rõ rệt hơn, tác động trực tiếp tới
đời sống mọi sinh vật trên trái đất mỗi ngày.
Sự thay đổi nghiêm trọng về khí hậu đã khiến cho các nhà khoa học phải vào cuộc.
Chúng ta đã biết đến hội nghị Copenhagen diễn ra tại Đan Mạch, hội thảo nâng cao
nhận thức và năng lực ứng phó với những thách thức của BĐKH tại Việt Nam,…hay
những tác phẩm như ”Khí hậu biến đổi thảm kịch vô tiền khoáng hậu” của S.rahmstorf
và Hans J.schellnhuber, “ nóng, phẳng, chật” của Thomas L.friedman,… tất cả chúng
đều xuất phát từ một thực tế là khí hậu đang biến đổi, trái đất đang nóng lên, cuộc sống
của hàng triệu con người đang bị đe dọa một cách nghiêm trọng.
Trong những năm gần đây, bão lũ, hạn hán, núi lửa, sóng thần …diễn ra với cường
độ mạnh, nhanh và rất thường xuyên đã lấy đi tính mạng của hàng ngàn người, có nơi
thì nóng lên như thiêu, như đốt, có nơi thì lạnh đến buốt da thịt. Chất lượng cuộc sống
bị ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng.
Từ thực tế đó có rất nhiều tổ chức được thành lập để thực hiện và kêu gọi mọi người
có ý thức hơn đối với môi trường sống để giảm bớt sự BĐKH. Tuy nhiên, để có thể đối
phó với hiện tượng này không chỉ một người, một tập thể hay một quốc gia nào đó có
thể thực hiện được, nó là vấn đề của mọi quốc gia cần liên hiệp lại để có một biện pháp
thống nhất và khả thi.
Là một người con của mảnh đất Tây Nguyên, nơi tương đối cao so với mực nước
biển, khí hậu quanh năm mát mẻ, ôn hòa từ ngàn xưa. Song thời gian khoảng hơn 10
năm trở lại đây, tôi nhận thấy thành phố hoa Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng - đã có những
biến đổi sâu sắc và rõ rệt về thời tiết, khí hậu. Nét đặc trưng bao đời làm nên cái rất
riêng của xứ sương mù đang dần trở nên mờ nhạt và mất dần đi. Có lẽ du khách thập
phương tới nơi đây cũng vì muốn trở lại với cuộc sống thiên nhiên, được hưởng cái
là điều vô cùng khó khăn và tính khả thi không cao trong thực tế. Chính vì vậy, với
những định hướng căn bản và súc tích của giáo viên, học sinh sẽ đóng vai trò là người 3
tự tìm hiểu, tự nghiên cứu dưới sự dẫn dắt và hỗ trợ của giáo viên và cuối cùng là đưa
ra một sản phẩm thể hiện kết quả quá trình tìm hiểu ấy. Cùng với sự có mặt của công
nghệ thông tin, làm việc nhóm, học sinh sẽ có cơ hội tốt nhất trong việc tự chiếm lĩnh
tri thức, hình thành những kĩ năng cần thiết của thế kỉ 21.
Bắt đầu từ suy nghĩ ấy, ý tưởng ấy, tôi đã chọn đề tài “VẬN DỤNG PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN VÀO GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO
HỌC SINH THPT QUA MÔN ĐỊA LÍ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM
ĐỒNG ”.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.
2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Đối với đề tài này, sau khi thực hiện tôi mong mỏi nó sẽ là một phương tiện hữu
hiệu để giúp học sinh tiếp cận và có một phương thức mới trong con đường tiếp nhận
kiến thức, độc lập sáng tạo, phát huy thế mạnh cá nhân. Và phương pháp dạy học theo
dự án sẽ trở nên quen thuộc, gần gũi, thiết thực đối với người giáo viên, nhất là trong
vấn đề giáo dục BĐKH nói chung, và BĐKH ở Đà Lạt nói riêng qua môn Địa Lí. Dự
án tiến hành làm cho sự hiểu biết về BĐKH tại thành phố Đà Lạt sẽ rõ ràng, cụ thể hơn
đối với các em học sinh. Giúp học sinh Đà Lạt có nhận thức đúng đắn, cái nhìn thực tế
đối với nơi mình đang sinh sống.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
- Nêu được thực trạng BĐKH chung của trên thế giới, ở Việt Nam và đặc biệt làm rõ
thực trạng thay đổi khí hậu ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Chứng minh được Địa Lí là một trong những môn học rất quan trọng có khả năng để
giáo dục vấn đề BĐKH cho học sinh một cách sâu sắc và cụ thể.
- Trình bày những giải pháp thiết thực có thể mang lại hiệu quả cao đối với việc giáo
Cường và Bernd Meier đã đề cập khá rõ vấn đề DHDA. 5
Các tài liệu tập huấn của các dự án đào tạo kĩ năng cho giáo viên của Bộ Giáo Dục
và các tập đoàn lớn như: Chương trình dạy học Intel của tập đoàn Intel Việt Nam,
chương trình Partners in learning của tập đoàn Microsoft, dự án Việt – Bỉ áp dụng cho
17 tỉnh miền núi phía bắc…đã đề cập ở mức độ khác nhau đến DHDA. Các tài liệu này
tập trung bồi dưỡng kĩ năng và năng lực ứng dụng CNTT và thực hành áp dụng
phương pháp dự án vào quá trình dạy học.
Ngoài ra còn có một số đề tài luận văn tốt nghiệp cũng đã đi sâu tìm hiểu vấn đề
DHDA ví dụ như : Tổ chức dạy học dự án một số kiến thức chương chất rắn và chất
lỏng, sự chuyển thể trong SGK Vật lí 10 BCB (Nguyễn Thị Phương Dung); Vận dụng
phương pháp dự án trong dạy học tiếng việt 4 cho học sinh khá giỏi (Châu Thị Lan
Chi); Tổ chức dạy học dự án “sử dụng năng lượng mặt trời” cho học sinh lớp 11
(Nguyễn Cao Cường); Tổ chức DHDA các nội dung kiến thức chương “Mắt – các
dụng cụ quang học” trong SGK vật lí 11 (Trần Thị Hải); Tổ chức DHDA giáo dục vì
sự phát triển bền vững trong chương trình SGK Địa lí lớp 10 (Nguyễn Thị Thúy
Hường).
Trên các báo, tạp chí và kỷ yếu hội thảo khoa học đã xuất hiện một số bài viết về
DHDA, đáng chú ý là bài viết Sử dụng sơ đồ tư duy trong DHDA các nội dung kiến
thức chương từ trường môn Vật lí 9 của tác giả Trần Văn Thành; Vận dụng DHDA
trong ứng dụng kĩ thuật của Vật lí của Đỗ Hương Trà, Phạm Văn Ngọc; Sử dụng
phương pháp DHDA có ứng dụng CNTT ở trường phổ thông của tác giả Trần Thị
Thanh Thủy.
Riêng đối với vấn đề môi trường và BĐKH thì cũng đã có những đề tài thể hiện mối
quan tâm và bắt đầu manh nha đến việc tác động ý thức của con người như vận dụng
phương pháp dạy học dựa trên dự án vào việc giáo dục môi trường cho học sinh THPT
trong dạy học Địa Lí (Lê Thị Hương); hay tổ chức cho học sinh thực hiện các dự án về
VÀO GIÁO DỤC VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO HỌC SINH THPT Ở
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – TỈNH LÂM ĐỒNG” là một vấn đề tương đối mới mẻ và
mang tính hấp dẫn mà bản thân tôi muốn thực hiện.
7
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp sưu tầm - tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được vận dụng nhiều nhất và hiệu quả nhất trong quá trình tìm kiếm
thông tin về BĐKH, thu thập và xử lí chúng từ các nguồn tài nguyên khác nhau: tạp
chí, sách báo, intenet, thực tế, …. để làm tư liệu cho đề tài.
5.2. Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích chỉ ra những tính năng nổi bật và sự vượt
trội của phương pháp dạy học dựa trên dự án trong nội dung BĐKH. Khi sử dụng
phương pháp này, sẽ chứng minh được ưu điểm và hiệu quả thực sự được kiểm chứng
qua quá trình thực nghiệm của việc giáo dục bằng phương pháp dạy học dựa trên dự án
so với các phương pháp khác. Lý giải được một cách thuyết phục vì sao phương pháp
dạy học dựa trên dự án trở thành lựa chọn số một trong GDBĐKH thành phố Đà Lạt.
5.3. Phương pháp thực nghiệm
Đây là phương pháp quan trọng nhất, khẳng định sự thành công hay thất bại của đề tài
thông qua những gì học sinh nắm bắt được, học hỏi thêm và thành phẩm các em tạo ra.
.Kết quả sản phẩm của học sinh sẽ kiểm chứng, bổ sung, chỉnh sửa cho phần lý thuyết
đã xây dựng từ trước đó.
5.4. Phương pháp phân tích hoạt động
Phương pháp này có thể được vận dụng trước và sau khi học sinh kết thúc dự án.
Trước khi tiến hành dự án, giáo viên có thể phân tích một sản phẩm của hoạt động
trước đây làm tiền đề để dẫn nhập vào dự án, làm nổi bật được những ưu điểm của sản
phẩm đó và hiệu quả các em học sinh đạt được trong quá trình làm dự án để kích thích
9
PHẦN HAI:NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Biến đổi khí hậu và giải pháp ứng phó
1.1.1. Khái niệm về BĐKH
Trước tiên, ta cần hiểu khái niệm khí hậu là gì? Khí hậu là mức độ trung bình của
thời tiết trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Trong vòng 1.000 năm
qua, nhiệt độ bề mặt trái đất có tăng, giảm không đáng kể và có thể nói là ổn định. Thế
nhưng trong vòng 200 năm trở lại đây, đặc biệt là trong mấy chục năm vừa qua khi
công nghiệp hoá phát triển, nhân loại bắt đầu khai thác than đá, dầu lửa, sử dụng các
nhiên liệu hoá thạch Cùng với các hoạt động công nghiệp tăng lên, con người bắt
đầu thải vào bầu khí quyển một lượng khí CO
2
, nitơ ôxít, mêtan khiến cho nhiệt độ
bề mặt trái đất nóng lên.
Hầu hết giới khoa học đều công nhận BĐKH là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà
kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao. Bản thân nó đã làm cho Trái đất ấm lên,
nhiệt độ bề mặt trái đất nóng lên, nhiệt độ nóng lên này đã tạo ra các biến đổi trong các
vấn đề thời tiết hiện nay.
Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng BĐKH
90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên.
BĐKH là một khái niệm không mới nhưng chỉ thật sự được biết khá rộng rãi, liên
ngành chỉ trong thời gian gần đây khi mà các cá nhân, tổ chức liên minh thế giới nhận
thấy hậu quả ghê gớm của nó và có những cuộc họp lớn bàn bạc về vấn đề này. Chúng
khí quyển và trái đất nói chung.
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con
người và các sinh vật trên trái đất.
Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các
đảo nhỏ trên biển. 11
Sự di chuyển bất thường của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác
nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái
và hoạt động của con người.
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn
nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ
quyển, sinh quyển, các địa quyển.
1.1.4. Hậu quả của BĐKH
Trái đất nóng lên là hậu quả của một quá trình tích lũy lâu dài của khí nhà kính, chủ
yếu là CO2 và metan. Những khí này khi được thải vào bầu khí quyển sẽ "nhốt” hơi
nóng của ánh mặt trời bên trong bầu khí quyển, vì vậy làm cho nhiệt độ trái đất tăng
lên.
Khi nói đến hiện tượng trái đất nóng lên, ta không nói đến việc nhiệt độ mùa hè năm
nay nóng hơn năm ngoái, mà ta nói về BĐKH, những thay đổi lớn làm ảnh hưởng đến
môi trường sống, bầu khí quyển và khí hậu nói chung. BĐKH làm ảnh hưởng đến các
hệ sinh thái trên trái đất và tác động trực tiếp đời sống hàng ngày của con người.
1.1.4.1. Các hiện tượng tự nhiên thay đổi khác thường
Mực nước biển đang dâng lên: Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực
nước biển đang dần dâng lên. Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa
băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương. Các
nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo băng
Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến nền nông nghiệp của nhiều nước. Các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi
hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình
trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có
khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh
tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%.
(nguồn: 13
1.1.4.2. Hệ quả bất lợi cho con người
Dịch bệnh: Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh
gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới. Tổ chức WHO đưa
ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn
bao giờ hết. Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại
bệnh nhiệt đới. Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan
đến BĐKH, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy.
Các tác hại đến kinh tế: Các thiệt hại về kinh tế do BĐKH gây ra cũng ngày càng
tăng theo nhiệt độ trái đất. Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô
la; ngoài ra, để khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền
khổng lồ. Khí hậu càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền kinh tế (trong đợt bão
hồi năm 2005, bang Louisiana (Mỹ) bị thiệt hại đến 135 tỉ đô la, và trong mấy tháng
tiếp theo, thu nhập của toàn bang giảm đến 15%). Ở Việt Nam chúng ta theo Báo cáo
phát triển con người 2007/2008 của ông Christophe Bahuet cảnh báo rằng nếu nhiệt độ
tăng lên 3
0
C - 4
0
Nông nghiệp và an toàn lương thực: BĐKH ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông
nghiệp và qua đó lương thực cho nhân loại. Kết quả là nạn đói ngày càng trầm trọng,
sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất
đang và sẽ chịu cảnh đói khát. Trái đất nóng lên sẽ tác động mạnh mẽ hơn đến những
vùng có khí hậu nhiệt đới hay những vùng hiện nay đất đai đã bị khô (phần lớn là các
nước nghèo châu Phi, châu Á…) các sa mạc sẽ được mở trên diện rộng, đồng thời mực
nước biển dâng do băng tan chảy sẽ nhấn chìm những vùng đất duyên hải, khiến một
diện tích lớn đất nông nghiệp bị mất. BĐKH không chỉ thu hẹp đất canh tác mà còn
làm suy giảm năng suất nông nghiệp.
1.1.5. Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
BĐKH gây ra những hậu quả nặng nề với sự phát triển KT – XH với tất cả các nước
và khu vực. Trong cuộc chiến với BĐKH không một ai có thể đứng ngoài cuộc. Để
giảm nhẹ những thiệt hại nặng nề do BĐKH gây ra người ta nghiên cứu áp dụng tổng
hợp các biện pháp hướng tới sống chung với BĐKH với nhận thức BĐKH là một quá 15
trình không thể đảo ngược. Chúng ta chỉ có thể giảm nhẹ chúng và nỗ lực thích ứng với
chúng.
Tác động của BĐKH giống như một lỗ nhỏ trên con đê. Nếu chúng ta phát hiện sớm
và sữa chữa kịp thời thì lỗ hỏng được lấp lại, với chi phí và thiệt hại là rất nhỏ; ngược
lại đợi cho đến khi lổ hỏng lớn hơn và đê yếu đi thì các chi phí và thiệt hại lớn. BĐKH
cũng tương tự, cần sớm thích nghi để tránh được rất nhiều tác động tiêu cực. Vì vậy
hướng đi chính hiện nay là nghiên cứu áp dụng những biện pháp phù hợp với tình hình
và khả năng của mỗi đối tượng, mỗi ngành, mỗi cộng đồng trong từng thời điểm sao
cho giảm được sự tổn thương do BĐKH.
Hiện tại, có hai giải pháp mà người ta đưa ra cho vấn đề BĐKH đó là:
Giảm nhẹ – giảm phát thải khí nhà kính bằng những cam kết có thực của các quốc gia.
Thích ứng – tác động tiêu cực của các yếu tố khí hậu được giảm xuống bằng các biện
cắt giảm đáng kể lượng khí thải CO2 từ nay đến năm 2020, trong khi các nước đang
phát triển sẽ hạn chế tốc độ gia tăng loại khí thải. Trung Quốc và Ấn Độ đều đã bắt
đầu thảo luận một cách nghiêm túc về các cam kết quốc gia, nhưng họ chưa sẵn sàng
cam kết tuân thủ các mục tiêu quốc tế. Tuy nhiên, cuối cùng thì ngay trước thềm hội
nghị Copenhagen thì Mỹ, Ấn Độ và Trung Quốc, ba nước phát thải lượng khí thải gây
hiệu ứng nhà kính lớn nhất thế giới, lần lượt công bố mục tiêu cắt giảm mạnh lượng
khí CO2 mặc dù kết quả vẫn không được như mong đợi ban đầu.
Sau cuộc họp lớn ở Copenhagen, Đan Mạch, ngày 29-11-2010 gần 200 nước có mặt
ở hội nghị BĐKH Cancun, Mexico. Các bên tham gia nhắm đến mục tiêu là có thể đi
đến đạt được một thoả thuận ràng buộc thay cho Nghị định thư Kyoto sẽ hết hạn hiệu
lực vào năm 2012 tới. Và kết thúc hội nghị, đại diện của 200 quốc gia tham dự Hội
nghị Liên hiệp quốc về BĐKH tại COP16 đã đạt được thỏa thuận về những bước đi
khiêm tốn trong cuộc chiến chống lại xu thế nóng lên của trái đất, bao gồm việc lập
một quỹ mới giúp đỡ các nước nghèo. Thỏa thuận đạt được trong ngày họp thứ 13 về
một kế hoạch thành lập Quỹ Khí hậu Xanh (Green Climate Fund) để xúc tiến những 17
biện pháp bảo vệ rừng mưa nhiệt đới, những cách thức chia sẻ công nghệ năng lượng
sạch giữa các quốc gia và giúp các nước đang phát triển thích nghi với sự BĐKH.
Hội nghị cuối cùng diễn ra vào chiều 5/4/2011, Hội nghị khung về BĐKH lần thứ 2
chính thức khai mạc tại Bangkok, Thái Lan để thảo luận về các mục tiêu cắt giảm khí
thải và đưa ra các kế hoạch hỗ trợ tài chính cho các nước nghèo trong vấn đề BĐKH.
LHQ cho biết, có khoảng hơn 2.270 đại biểu của 175 quốc gia tham dự Hội nghị, trong
đó 1.417 là quan chức Chính phủ. Cản trở lớn nhất để có thể ra đời một hiệp ước mới
về BĐKH là khi các quốc gia phê chuẩn Nghị định thư Kyoto phải cắt giảm lượng khí
phát thải trong một nỗ lực chung nhằm làm giảm độ nóng lên của Trái đất thì, Mỹ và
Trung Quốc, 2 cường quốc có lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính cao nhất thế giới,
lại vẫn đứng ngoài cuộc. (Thông tin chi tiết tại phụ lục 7).
Như vậy ta thấy rằng, hoạt động GDBĐKH tại Việt Nam đã bắt đầu có sự “khuấy
động”. Các hoạt động ấy đã và sẽ giúp cho mọi tầng lớp, mà đặc biệt là giới trẻ, có
được những thông tin cần thiết nhất về BĐKH, có nhận thức đúng đắn và hành động
thiết thực thân thiện với môi trường. (thông tin chi tiết và cụ thể có thể tham khảo phục
lục 8).
1.2.3. Giáo dục BĐKH trong nhà trường phổ thông
BĐKH đã trở thành một trong những nguy cơ và thách thức lớn nhất của thời đại
chúng ta. Hơn thế, Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị đe dọa và sẽ chịu những hậu
quả nặng nề nhất khi mực nước biển không ngừng tăng lên. Chính vì lẽ đó nhận thức
được sâu sắc vấn đề BĐKH (nguyên nhân, hậu quả và giải pháp ứng phó) là hết sức
cần thiết đối với tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi thành phần dân cư…để có các
hành động cụ thể thích ứng với BĐKH toàn cầu. Nhà trường phổ thông với sứ mệnh
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; với mạng lưới rộng khắp đất
nước, với hệ thống chương trình, nội dung, kế hoạch và phương pháp giáo dục; với đội
ngũ hùng hậu của những người làm công tác giáo dục đóng một vai trò to lớn và có
tầm ảnh hưởng sâu rộng đến việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho học sinh. 19
Giáo dục trong nhà trường đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành tư cách
công dân, cách ứng xử đối với xã hội, đối với môi trường, trong đó có cách ứng xử
trước hiện tượng BĐKH của mỗi cá nhân. Một khi học sinh có được những hiểu biết về
hiện tượng BĐKH, nguyên nhân cũng như tác động trực tiếp của nó đối với cuộc sống
của người dân, với sự tồn vong của đất nước, nhân loại, thì trong mọi hành động các
em sẽ cân nhắc để hạn chế nguy cơ dẫn đến BĐKH, chọn lối sống thân thiện với môi
trường. Giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính
bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường cũng như mục
tiêu của giáo dục về BĐKH.
Việt Nam đã có chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và đang được
Phát triển năng lực hành động: Phát triển năng lực hành động ứng phó với BĐKH
chứ không đơn giản là kiến thức, kĩ năng liên quan đến BĐKH, đó mới là mục tiêu
đích thực của GDBĐKH. Mục tiêu này sẽ đạt được nếu coi trọng yếu tố động cơ, niềm
tin cá nhân trong việc hình thành năng lực hành động và được thiết kế, triển khai thực
hiện bằng tiếp cận liên môn nhằm làm cho việc học tập trở nên sống động hơn, cụ thể
hơn và người học có nhiều cơ hội để trải nghiệm và tiếp cận nhiều hơn với thực tiễn
sinh động của cuộc sống.
Thay đổi hành vi – thái độ: Đây được xem là nội dung và mục tiêu hàng đầu của
GDBĐKH. Sự thay đổi trong kiến thức, kĩ năng cần phải dẫn tới sự thay đổi hành vi –
thái độ của người học theo những định hướng của phát triển bền vững. GDBĐKH sẽ
thành công khi làm cho cá nhân và cộng đồng quan tâm hơn đến vấn đề BĐKH, có
những hành vi và thái độ tích cực để bảo vệ khí hậu và sẵn sàng ứng phó với những
thách thức của BĐKH.
Tăng cường các giá trị và sáng tạo: Trở thành công dân toàn cầu, quan tâm đến
các cộng đồng dân cư bị thiệt thòi do BĐKH, tích cực tuyên truyền và thực hiện bảo vệ
khí hậu, thân thiện và làm bạn với môi trường…được xem là những giá trị cần được
khuyến khích khi tiến hành GDBĐKH. 21
Mặt khác,trong quá trình GDBĐKH trong nhà trường phổ thông Việt Nam cần đảm
bảo các nguyên tắc sau:
Đảm bảo mục tiêu GDBĐKH phải phù hợp với mục tiêu giáo dục của cấp học, góp
phần thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung.
Hướng giáo dục về BĐKH tới việc cung cấp cho học sinh những kiến thức liên quan
đến BĐKH và những kĩ năng ứng phó với những thiên tai do BĐKH gây ra, phù hợp
với tâm, sinh lí từng lứa tuổi.
Nội dung GDBĐKH phải chú trọng các vấn đề thực tiễn, gắn với địa phương, đất nước,
trên cơ sở đó hình thành các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể
do tại sao lại như vậy thì chúng ta sẽ hiểu rõ hơn thông qua sự so sánh giữa GDBĐKH
và khoa học Địa Lí.
23
Bảng2.1: So sánh về đối tượng mục tiêu của GDBĐKH và khoa học Địa Lí
Tiêu mục GDBĐKH Khoa học Địa Lí
1.Thời gian xuất hiện
Vài thập niên gần đây khi
mà quá trình BĐKH bắt
đầu diễn ra phức tạp hơn.
Nhiều thế kỉ trước công nguyên,
nhưng được xây dựng lại vào
khoảng giữa thế kỉ 20
cơ cấu kinh tế của lãnh thổ.
Qua sự so sánh trên, ta nhận thấy rằng: Giữa GDBĐKH và khoa học Địa Lí có những
mối quan hệ khăng khít với nhau. Cả hai đều nhằm vào mục đích duy trì môi trường
sống của con người. Cùng tìm hiểu những quy luật thay đổi, nguyên nhân và tìm biện
pháp khắc phục, ứng phó với sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực.
Tìm hiểu những quan hệ giữa con người với môi trường cụ thể là khí hậu, những tác
động của con người làm cho khí hậu biến đổi. 24
Cùng tìm cách sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và nâng cao ý thức con người để làm
giảm bớt cường độ BĐKH.
Nếu khoa học Địa Lí cung cấp cho chúng ta những kiến thức căn bản và cụ thể về khái
niệm, quy luật hoạt động và những ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và xã hội tới khí
hậu thì GDBĐKH làm nhiệm vụ truyền tải thông tin tới tất cả mọi tầng lớp trong xã
hội, qua đó kêu gọi ý thức của con người trước thực trạng khí hậu thay đổi và sự sống
con người đang bị đe dọa mỗi ngày.
Giữa hai khoa học này luôn có sự hỗ trợ tích cực cho nhau, có mối quan hệ mật thiết
với nhau. Các kết quả của ngành này bổ trợ cho ngành kia để cùng hướng tới một mục
tiêu chung là làm cho môi trường sống của con người được duy trì và tốt đẹp hơn.
Chính vì những lý do đó mà Địa Lí là môn học có khả năng GDBĐKH tốt nhất, hiệu
quả nhất. Bởi vì thông qua những đơn vị bài học, chúng ta có thể lồng ghép, đan xen
vào đó những nội dung GDBĐKH một cách tự nhiên, logic nhất.
1.3.2. Khả năng tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu qua môn Địa Lí.
Qua phân tích về mối quan hệ giữa khoa học Địa Lí và GDBĐKH ta khẳng định thêm
một lần nữa: Địa Lí là một môn học có khả năng GDBĐKH rất lớn, điều đó thể hiện ở
chỗ:
- Trong Địa Lí học sinh được tiếp xúc với những kiến thức về vũ trụ, tự nhiên, khí hậu
và cơ chế thay đổi của chúng.
Sinh quyển. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố sinh vật.
Chương10 Môi trường và sự phát triển bền vững.
- Học sinh có được kiến thức về dân cư xã hội, việc làm, vấn đề kinh tế xã hội.
Lớp
Bài Tên
2
Xu hướng toàn cầu hóa, công nghiệp hóa kinh tế.
11
3
Một số vấn đề mang tính toàn cầu
- Các vấn đề phát triển kinh tế xã hội và địa lí địa phương.
Lớp
Bài Tên
15
Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai
31
Vấn đề phát triển thương mại và du lịch.
45
12
46
Tìm hiểu địa lí địa phương.