TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BÀI TẬP CÁ NHÂN
CHỦ ĐỀ 2: Khi đề cập đến vấn đề chuyển đổi đặc trưng văn hóa Việt Nam đến
năm 2030, theo anh (chị) vì sao “ Tính trọng âm và Đặc trưng 3: Tính ưu hài hòa
nên chuyển thành Tính hài hòa thiên về dương tính ” ?
Học phần
: Đại cương văn hóa VN
GVGD
: TS. Lâm Bá Hòa
Sinh viên thực hiện
: Huỳnh Quang Anh Quốc
Lớp
: 41k27
BÀI LÀM
Để giải thích cho câu hỏi tại sao “ Tính trọng âm và Đặc trưng 3: Tính ưu hài
hòa nên chuyển thành Tính hài hòa thiên về dương tính”.
Đầu tiên, ta tìm hiểu tính trọng âm, tính ưa hài hòa trong đặc trưng văn hóa
Việt Nam là gì?
2
thuận với tự nhiên và phụ thuộc vào nó. Những kinh nghiệm mà chúng ta tích lũy
được từ đó cũng chỉ về mặt chủ quan theo cảm tính. Do phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên nên người Việt đã luôn phải cố gắng tổng hợp và bao quát hết (như người
Việt vẫn nói: “Trông trời trông đất trông mây - Trông mưa trông nắng trông ngày
trông đêm..”). Đây là một đặc trưng rất “âm tính”, giống như người phụ nữ, cùng
lúc có thể bao quát làm được nhiều việc; khác với văn hóa phương Tây “dương
tính” thiên về tư duy phân tích – giống như người đàn ông cùng lúc chỉ tập trung
làm được một việc mà thôi. Sống phụ thuộc vào tự nhiên làm người nông dân dễ trở
nên rụt rè, thụ động. Bởi lẽ vậy nên lúc nào chúng ta chỉ là người đi theo chứ chưa
là người tiên phong, nó khiến ta như bị trói buộc vào vòng luẩn quẩn. Ngoài ra, tính
thụ động còn thể hiện rõ qua cách tổ chức cộng đồng ở Việt Nam.
Về mặt tổ chức cộng đồng, nơi mà cuộc mưu sinh cần đến sự cộng sinh hơn
là sức mạnh cá nhân . Cộng đồng làng xã Việt Nam là một tập thể những con người
có sự đồng nhất rất cao, trong đó ai yếu kém thì sẽ được thương yêu, giúp đỡ;
ngược lại, ai trồi lên, tỏ ra tiên phong vượt trội thì sẽ bị ghen ghét, đố kỵ, sẽ bị ném
đá để kéo xuống đến chừng nào bị “cào bằng” như mọi người mới thôi. Chẳng thế
mà tục ngữ Việt Nam có vô số những câu như: “Khôn độc không bằng ngốc đàn”,
“Chết một đống còn hơn sống một người”... Cũng vì vậy mà trong xã hội Việt Nam
truyền thống, những ai đi tiên phong thì luôn gặp vô vàn khó khăn, trắc trở;
Nguyễn Du từng đau đớn thốt lên: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”.
Phẩm chất thường được người Việt Nam đánh giá cao là “sự khiêm tốn” chứ không
phải là “sự tự tin”, và càng không phải là “tính tiên phong”. Trong khi ở phương
Tây, “khiêm tốn” được hiểu là “thể hiện một sự đánh giá có chừng mực về giá trị,
khả năng và tài năng của mình” thì ở Việt Nam, “khiêm tốn” lại thường được hiểu
là sự nhún nhường, tự hạ thấp mình, đôi khi tới mức thấp kém, hèn mọn. Chất thụ
động, âm tính này đã trở thành một thiết chế gây áp lực lên cộng đồng suốt hàng
ngàn năm qua, không dễ gì có thể thay đổi một sớm một chiều. Nó vẫn còn đi theo
5
mướp đắng (khổ qua).Xứ nóng (dương) phù hợp cho việc phát triển mạnh các loài
thực vật và thủy sản (âm); xứ lạnh (âm) thì phù hợp cho việc phát triển chăn nuôi
các loài động vật với lượng mỡ, bò sữa phong phú (dương) như vậy là tự thân thiên
nhiên đã có sự cân bằng rồi. Do vậy, ăn theo mùa chính là đã tận dụng tối đa môi
trường tự nhiên để phục vụ con người, là hòa mình vào tự nhiên, tạo nên sự cân
bằng biện chứng giữa con người với môi trường. Thức ăn đúng theo mùa - mùa nào
thức ăn ấy - người xưa gọi là “thời trân”: Mùa hè cá sông, mùa đông cá bể; Chim
ngói mùa thu, chim cu mùa hè... Ăn theo mùa cũng là lúc sản vật ngon nhất, nhiều
nhất, rẻ nhất và tươi sống nhất.
Tính ưu hài hòa ở đây biểu hiện:
-Đầu tiên là để tạo nên những món ăn có sự cân bằng âm-dương, người Việt phân
biệt thức ăn theo năm mức âm-dương, ứng với Ngũ hành: hàn (lạnh, âm nhiều =
Thủy); nhiệt (nóng, dương nhiều = Hỏa); ôn (ấm, dương ít = Mộc); lương (mát, âm
ít: Kim), và bình (trung tính = Thổ). Theo đó, người Việt tuân thủ nghiêm luật âmdương bù trừ và chuyển hóa khi chế biến. Tập quán dùng gia vị của Việt Nam,
ngoài các tác dụng kích thích dịch vị, làm dậy mùi thơm ngon của thức ăn, chứa
các kháng sinh thực vật có tác dụng bảo quản và xử lý thức ăn, còn có tác dụng đặc
biệt là điều hoà âm-dương, thủy-hỏa của thức ăn.
-Thứ hai,để tạo nên sự quân bình âm-dương trong cơ thể, ngoài việc ăn các món
chế biến có tính đến sự quân bình âm-dương, người Việt Nam còn sử dụng thức ăn
như những vị thuốc để điều chỉnh sự mất quân bình âm-dương trong cơ thể. Mọi
bệnh tật đều do mất quân bình âm-dương; vì vậy, một người bị ốm do quá âm cần
ăn đồ dương và, ngược lại, ốm do quá dương cần ăn đồ âm để khôi phục lại sự
thăng bằng đã mất.
Ngoài ra, tính ưu hài hòa còn thể hiện ở tính mực thước là biểu hiện của
khuynh hướng quân bình âm-dương và tính ung dung, vui vẻ. Nó đòi hỏi người ăn
đừng ăn quá nhanh, quá chậm; đừng ăn quá nhiều, quá ít; đừng ăn hết, đừng ăn còn.
Ăn nhanh là người vội vàng thô lỗ, ăn chậm khiến người ta phải chờ; ăn nhiều, ăn
mắm, cùng múc một bát canh, cùng gắp món ăn từ đĩa, cùng một niêu (nồi)
cơm.Không có chia phần, cũng không có phân loại, như thường thấy trong bữa ăn
Âu Mỹ. Thêm khách, thêm bát, thêm đũa, và mọi người đều nhịn một tí để chia cho
người khách.Tuy theo trật tự trên dưới. Người dưới đợi người trên, nhưng ngược
lại, ta cũng thấy người trên nhường người dưới. Con cháu mời và đợi ông bà, cha
mẹ gắp thức ăn, ăn trước. Nhưng ông bà, cha mẹ thường gắp thức ăn cho con cháu
trước. “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” không có nghĩa là tuân thủ quy luật kẻ
ngồi trên. Câu này mang một ý nghĩa tương quan. Ta tuân thủ luật tương quan cộng
đồng một quy luật dựa theo sự tương quan giữa mọi người. Do vậy, người Việt
không có lễ nghi cố định trong các bữa tiệc, nhưng họ có lễ phép theo tinh thần tôn
kính và nhường nhịn. Con kính cha, cha nhường con, cháu mời ông, ông cho cháu.
Chủ nhường khách, khách nhường chủ. “Ngồi trông hướng” có lẽ phải hiểu theo
nghĩa như vậy. “Ăn trông nồi” là xem nồi cơm có đủ cho mọi người hay không.
Đây là lý do tại sao ai cũng ăn không no, nhưng mà đồ ăn vẫn còn đồ thừa. Ai ai
cũng nhường cho nhau.Tính chất cộng đồng cũng thấy trong cách dùng bát, đũa,
nồi và mâm. Chiếc bát “cái”, chiếc đĩa “cái” để dùng chung, và đặc biệt là cái mâm,
bát nước mắm và bát canh. Lý do gì mâm mang hình tròn… có lẽ trước hết vì nó
7
hợp lý, gần với tất cả mọi người ngồi quanh nó… Tâm điểm của mâm là bát nước
chấm, một đặc biệt của mâm cơm Việt Nam, nó điều hòa mọi vị khẩu mặn hay
nhạt, chua hay cay, đặc hay loãng.
III. Về văn hóa kiến trúc nhà ở :
Đối với nông nghiệp thì ngôi nhà chính là tổ ấm để đối phó với thời tiết nóng
lạnh, nắng mưa, gió bão. Một trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cho
họ 1 cuộc sống định cư ổn định: "Có an cư thì mới có lạc nghiệp " hay " thứ nhất
dương cơ, thứ nhì âm phần ". Do ngôi nhà chiếm vị trí quan trọng đặc biệt trong
cuộc sống nên Nhà ( chỗ ở ) được đồng nhất với gia đình. Ngôi nhà ở Việt Nam có
những đặc điểm sau:
cách ghép theo nguyên lý âm dương phần lồi ra của 1 bộ phận này với chỗ lõm vào
có hình dáng và kích thước tương ứng của 1 bộ phận khác.
Về hình thức kiến trúc thì ngôi nhà là tấm gương phản ánh đặc điểm của
truyền thống văn hóa dân tộc.
Trước hết là môi trường sông nước phản ánh qua cách làm nhà sán với vách
riêng và mái cong hình thuyền. Rồi tính cộng đồng thể hiện ở việc trong nhà ko
chia thành nhiều phòng nhỏ biệt lập như phương tây.
Người Việt Nam có truyền thống thờ cúng tổ tiên và hiếu khách cho nên việc ưu
tiên cho bộ bàn ghế tiếp khách là ko ngoại lệ. Hình thức kiến trúc ngôi nhà còn tuân
thủ nguyên tắc coi trọng số lẻ của truyền thống văn hóa nông nghiệp : Ngọ môn 5
cửa 9 lầu, cột cờ 3 cấp, số gian của ngôi nhà bao giờ cũng là số lẻ.
Cách liên kết theo lối ghép mộng âm dương giúp cho các bộ phận vừa gắn bó chặt
chẽ lại vừa cơ động và linh hoạt. Nhìn chung chỉ trong 1 việc ở, ta cũng thấy
nguyên lý âm dương và ý muốn hướng tới 1 cuộc sống hài hòa chi phối con người
Việt Nam 1 cách trọn vẹn.
IV. Trong văn hóa trang phục :
Văn hóa trang phục là kết quả của hoạt động sống và sáng tạo của con người,
là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, qua đó thể hiện bản sắc dân
tộc rõ nét.
-Thời Hùng Vương: Trang phục phổ biến thời này là nam cởi trần, đóng khố bằng
lá cây, nữ mặc yếm và vay ngắn khá sơ khai. Sở dĩ như vậy là vì mặc váy không chỉ
mát, ứng phó có hiệu quả được với khí hậu nóng bức, mà còn rất phù hợp với công
việc đồng áng.Trang phục Việt Nam ngày xưa thường có màu ưa thích là các màu
âm tính phù hợp với phong cách truyền thống ưa tế nhị, kín đáo: ở miền Bắc là màu
nâu, gụ - màu của đất; Nam Bộ là màu đen, màu của bùn; người xứ Huế thì ưa màu
tím trang nhã phù hợp với phong cách đế đô. Bên cạnh tính trọng âm trong trang
phục Việt Nam cũng đã kết hợp với dương tính nên đã tạo nên tính hài hòa thể hiện
trong trang phục trong lễ hội thời xưa, người phụ nữ mặc cái áo dài màu thâm hoặc
nâu... ở ngoài, lấp ló bên trong mới là các lớp áo cánh nhiều màu dương tính hơn
Từ những trình bày trên theo em chúng ta nên chuyển từ “Tính trọng
âm và Đặc trưng 3: Tính ưu hài hòa nên thành Tính hài hòa thiên về dương
tính”. Vì:
Bước sang hòa bình, cùng với việc mở cửa hội nhập và tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa, toàn bộ văn hóa truyền thống đang có những thay đổi căn bản.
Chúng ta đang ở trong một giai đoạn có sự đối lập rất gay gắt giữa truyền thống
văn hóa nông thôn, nông nghiệp với thực trạng của xã hội, hướng đến lối sống đô
thị và công nghiệp. Văn hóa nông thôn, nông nghiệp truyền thống đang biến đổi
mạnh, mọi điều kiện không còn như cũ.
Trong khi đó chúng ta vẫn chưa có được xã hội công nghiệp và lối sống đô thị. Xã
hội Việt Nam hiện nay đầy rẫy những người nông dân khoác áo đô thị. Việc làm thì
giống như người đô thị nhưng hành xử thói quen sinh hoạt, cách quản lý, suy nghĩ,
cách làm việc vẫn là anh tiểu nông
Chính là vào lúc này, những đặc trưng văn hóa trước đây đã giúp ta làm nên chiến
thắng trong chiến tranh thì nay lại bộc lộ hết những mặt hạn chế của nó.
Trong khi người phương Tây mạnh về tư duy phân tích, giờ nào việc nấy, làm ra
làm chơi ra chơi, đã làm thì phải hướng tới hiệu suất cao nhất, thì chúng ta quen lối
tư
duy
tổng
hợp,
vừa
làm
vừa
chơi.
10
Vừa làm vừa uống trà uống nước, việc gì cũng “chín bỏ làm mười”, đại khái, hời
hợt, không đến nơi đến chốn – đây hoàn toàn là cách sống của người tiểu nông sản
công
nghiệp
đô
thị.
Bên cạnh tính tổng hợp và tính linh hoạt, những đặc trưng bản sắc khác của văn
hóa truyền thống Việt Nam cũng đang bộc lộ những mặt hạn chế.
Thứ nhất là tính cộng đồng trong văn hóa làng xã của người Việt. Điểm mạnh của
nó là mọi người trong cộng đồng thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, gắn bó với nhau tạo
thành một tập thể nhưng đặc trưng đó chỉ phát huy trong làng xã khép kín, có quen
biết thì có cộng đồng mà không quen biết thì không có cộng đồng.
Bước vào xã hội công nghiệp - đô thị rộng lớn, nơi mà mọi người không thể quen
biết thân thiết hết được với nhau, mọi hậu quả xấu bắt đầu nảy sinh. Lẽ ra mỗi
người một việc, cứ việc mình mình làm thì người Việt chúng ta cứ phải la cà trò
chuyện, rồi tự cho mình cái quyền can thiệp vào việc riêng của người khác, nhà
khác ngay cả khi người ta không làm gì ảnh hưởng đến mình, đến cộng đồng.
Khi có công việc, người phương Tây xếp một hàng thẳng, người đến trước đứng
11
trước người đến sau đứng sau, thì người Việt chúng ta cứ phải đứng dàn hàng
ngang ra để còn túm lại nói chuyện với nhau”,
Tính cộng đồng kéo theo hệ lụy khác là thói cào bằng: Người Việt Nam không
muốn ai hơn mình nên cứ thấy ai hơn mình là tìm cách phá họ, dìm họ xuống. Thói
nói xấu sau lưng cũng từ đây mà ra. Cho nên Nguyễn Du mới nói “Chữ tài liền với
chữ tai một vần”. Vì thế người có tài phải học cách giấu mình đi; từ đó mà nảy sinh
sinh ra đức tính khiêm tốn giả vờ, không dám bộc lộ năng lực.
Trong khi phương Tây thì coi trọng việc thể hiện năng lực, khả năng của mình để tự
khẳng định và để xã hội tiện sử dụng. Tính cộng đồng trong văn hóa Việt còn sinh
ra thói sĩ diện, “bệnh sĩ”, dù không được như thế nhưng người ta vẫn cố phô
trương ra mình như vậy – đó là nguyên nhân của căn bệnh “nổ”, “chém gió”, mà từ