CHƯƠNG I
NHẬP MÔN VĂN HOÁ HỌC
VÀ ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
I. VĂN HÓA HỌC: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Sự cần thiết của Văn hóa học
Con người là chủ thể, là sản phẩm và đồng thời là “vật mang” văn hoá,
với những hoạt động của mình tác động đến môi trường xung quanh dựa trên
những chuẩn mực văn hoá được thừa hưởng từ truyền thống và giáo dục. Bởi
vậy, để phát huy tiềm năng con người vào công cuộc phát triển xã hội nói chung
và vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói riêng, cần phải tính đến các yếu tố
văn hoá mà mỗi con người đang mang trong bản thân.
Văn hóa học với tư cách là một khoa học nghiên cứu về văn hóa ra đời và
phát triển được thúc đẩy bởi những nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người qua mỗi thời
đại luôn xây dựng cho mình những mẫu người lý tưởng để hướng tới. Từ cuối
thế kỷ XIX mẫu người lý tưởng mà nhân loại hướng tới chính là mẫu người văn
hóa. Từ đó đến nay “văn hóa” trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa
học khác nhau. Đây là một phạm trù đầy khác thường và rộng lớn. Là một khái
niệm gắn liền với đời sống của tất cả mọi người, nhưng cũng hết sức khó hiểu và
đòi hỏi phải được giải thích rõ ràng hơn. Không ai có thể định nghĩa phạm trù
văn hóa một cách chính xác, hay cho biết ý nghĩa “thực sự” của nó là gì. Điều
đó một phần giải thích vì sao khái niệm này lại hữu ích đến thế, bởi vì khi chúng
ta nói nó là gì thì bản thân chúng ta lại tiếp tục muốn nói đến một điều gì đó
mang ý nghĩa to lớn hơn. Bản thân từ “văn hóa” chứa đựng trong nó biết bao
nhiêu điều.
Thứ hai, trong tiến trình lịch sử của nhân loại, các mối liên kết cộng đồng
trên cơ sở văn hoá thường tỏ ra bền vững và chịu được thử thách của thời gian
hơn những mô thức liên kết khác, chẳng hạn như nhà nước hay thị trường.
Nhưng trong điều kiện toàn cầu hoá, tính tuyệt đối, tối cao, tính không
chuyển nhượng và chia cắt của chủ quyền quốc gia đang gặp phải nhiều vấn đề;
và phân tích tính quy luật của những biến đổi văn hóa - xã hội.
Người đầu tiên đặt nền móng cho cách tiếp cận chỉnh thể trong nghiên
cứu văn hoá, và là người đầu tiên đặt nền móng cho văn hoá học là Edward B.
Tylor - nhà nhân học nổi tiếng người Anh (với cuốn "Văn hoá nguyên thuỷ",
năm 1871). Gần 40 năm sau (năm 1909) thuật ngữ "Văn hóa học" (tiếng Đức
"Kunturkunde", tiếng Anh "Culturology") mới ra đời. Người đặt ra thuật ngữ này
là Wilhelm Ostwald nhà khoa học và triết học Đức. Thuật ngữ này dùng để chỉ
2
môn học mới mà ông gọi là khoa học về các hoạt động văn hóa, tức là hoạt
động đặc biệt của con người.
Leslie Alvin White (1900-1975) là người đặt nền móng cơ bản cho Văn
hoá học với những công trình lý luận về sự tiến hoá của văn hóa và những
nghiên cứu khoa học về văn hóa mà ông gọi là "Văn hoá học".
Trong các tác phẩm "Khoa học về văn hoá" (The Science of Culture.
1949), "Sự tiến hoá của văn hóa" (The Evolution of Culture. 1959) và "Khái
niệm văn hóa" (The Concept of Culture. 1973), L. A. White đã đặt cơ sở cho văn
hóa học với tính cách là một môn khoa học độc lập, lý giải văn hóa như một hệ
thống toàn vẹn, làm rõ phạm vi, nguyên tắc và đối tượng nghiên cứu của văn
hóa học... Nhưng vào thời điểm ấy, ý niệm về văn hoá học còn quá mới mẻ nên
ít người biết đến.
Chỉ đến những năm 1990, khi tiến trình toàn cầu hoá tác động mạnh mẽ
lên đời sống của các cá thể và cộng đồng trên thế giới, người ta mới thực sự chú
ý đến vai trò của các tác nhân văn hoá đối với các quá trình phát triển; và do đó,
mới quan tâm đầu tư để thúc đẩy văn hoá học phát triển và lan rộng trên khắp
thế giới.
Cho đến nay, Văn hóa học đã phát triển tới độ - bao hàm trong bản thân
nhiều khuynh hướng khác nhau, khiến cho việc xác định đối tượng và phương
người. Chẳng hạn W. Sumner và A. Keller định nghĩa: "Tổng thể những sự thích
nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn
minh... Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những
thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa".
- Các định nghĩa cấu trúc chú trọng tới tổ chức cấu trúc của văn hóa. R.
Linton chú trọng đến hai khía cạnh của văn hóa: "a/ Văn hóa suy cho cùng là các
phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; b/ Văn hóa là sự
kết hợp giữa lối ứng xử mà người ta học được và các kết quả ứng xử mà các
thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế
thừa".
- Các định nghĩa nguồn gốc, trong đó văn hóa được xác định từ góc độ
nguồn gốc của nó. Nhà xã hội học P. Sorokin định nghĩa: "Với nghĩa rộng nhất
của từ, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt
động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác
động đến lối ứng xử của nhau".
- Định nghĩa của UNESCO: Gần đây, UNESCO cũng đưa ra một định
nghĩa chính thức về văn hóa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát
sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn
Phạm Khiêm Ích, Văn hoá học với sự nhận diện văn hoá thế kỷ XX, trong cuốn “Văn hoá
học và văn hoá thế kỷ XX”, Sđd Tập I, tr. 7-17.
1
4
ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó
đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà
dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình"1.
Việc hệ thống hoá sơ bộ các loại định nghĩa nói trên đã cho thấy tính chất
để ngỏ của khái niệm Văn hoá. Sở dĩ có tình trạng này là vì văn hoá là hiện
5
Tuỳ từng đối tượng nghiên cứu cụ thể mà bản sắc được gắn với các cộng
đồng ở những quy mô khác nhau; cụ thể như: người ta có thể nói đến bản sắc
phương Đông hay phương Tây (cộng đồng văn hoá khu vực), cũng có thể nói
đến bản sắc của một dân tộc, một tộc người hay một nhóm người trong xã hội.
Nếu phân kết cấu văn hoá của một cộng đồng thành các yếu tố: Chung phổ quát (mang tính nhân loại), đặc thù (mang tính khu vực) và riêng (chỉ có ở
cộng đồng được xét đến), thì bản sắc sẽ là một tập hợp các yếu tố văn hoá độc
đáo và riêng có (tức là thuộc nhóm những yếu tố văn hoá riêng).
“Bản sắc là sự giống nhau và điểm khác biệt, về những cái mang tính
cá nhân và những cái mang tính xã hội, về việc bạn có gì chung với một số
người và điều gì khiến bạn khác những người khác” (Weeks, 1990).
- Văn minh (civilization)
Hiện nay nhiều học giả ngoài nước nghiên cứu về văn hoá vẫn sử dụng
thuật ngữ Văn hoá và Văn minh thay thế lẫn nhau. Chẳng hạn, họ có thể gọi văn
hoá Ai Cập là nền văn minh Ai Cập, hay văn hoá lúa nước là nền văn minh lúa
nước...vv. Điều đó đã chứng tỏ sự gần gũi của hai khái niệm này. Mặc dù vậy,
vẫn tồn tại những khác biệt nhất định trong cách sử dụng hai thuật ngữ nói trên.
Một số học giả coi văn minh là các giá trị vật chất của văn hoá. Số khác
quan niệm văn minh là lát cắt đồng đại của văn hoá, tức là văn hoá được xét đến
tại một thời điểm lịch sử xác định. Nói tóm lại, cả hai quan niệm này đều coi văn
minh chỉ là một bộ phận của văn hoá - là khái niệm được văn hoá bao chứa, xét
về mặt ngoại diên. Trong khi đó, số khác lại quan niệm văn hóa chỉ là một bộ
phận của văn minh (cụ thể như Toynbee coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động tinh
thần của nền văn minh).
Trong tình huống có nhiều ý kiến khác nhau như vậy, việc phân biệt nội
hàm hai khái niệm này tuỳ theo văn cảnh là điều cần thiết. Chúng tôi cho rằng,
khi đặt trong quan hệ dẫn đến các yếu tố khác như: kinh tế, chính trị, xã hội,
người ta thường sử dụng thuật ngữ văn hoá và văn minh với một nội dung giống
chuyển tải. (Văn = văn hoá, hiến = hiền tài). Văn vật là truyền thống văn hoá tốt
đẹp được thể hiện thông qua một đội ngũ nhân tài và hiện vật trong lịch sử.
4. Các phương pháp nghiên cứu cơ bản của văn hóa học
Tồn tại các phương pháp chung và các phương pháp chuyên ngành trong
văn hoá học.
a. Phương pháp chung
- Phương pháp hệ thống – chỉnh thể
Hệ thống là một hiện thực được cấu thành bởi những yếu tố phụ thuộc lẫn
nhau và bởi những tương tác giữa chúng, dựa trên một phương thức tổ chức nhất
định.
7
Trong một hệ thống, bao giờ cũng tồn tại một số yếu tố nổi trội và có ảnh
hưởng chi phối các yếu tố còn lại. Tuỳ theo vị thế của mình trong cấu trúc của
hệ thống, mỗi yếu tố sẽ phải đảm nhiệm những chức năng nhất định.
Đến lượt mình, vị thế của mỗi yếu tố lại bị quy định bởi sức mạnh nội tại
của nó - cái năng lực gây ảnh hưởng đến các yếu tố khác, cũng như năng lực
chuyển hoá các yếu tố khác thành bộ phận tòng thuộc. Nhờ sức mạnh của sự phụ
thuộc và chi phối lẫn nhau mà các yếu tố gắn kết với nhau tạo thành chỉnh thể.
Do đó, hệ thống không phải là tập hợp của các đơn vị riêng lẻ (units), mà là thể
thống nhất của những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau.
Phương pháp Hệ thống – chỉnh thể trong nghiên cứu văn hóa đòi hỏi phải
ứng xử với các hiện tượng văn hóa như những thành tố nằm trong hệ thống lớn,
và truy tìm ý nghĩa của chúng chính là trong bối cảnh lớn đó, chứ không cắt
đoạn chúng theo địa giới hành chính hay phân giới địa lý.
Nhà sử học người Anh Arnold Toybee – người có ảnh hưởng lớn đối với
giới nghiên cứu lịch sử và xã hội học đương thời, ngay từ thập kỷ 70 (thế kỷ
hưởng đồng thời của của nhiều trung tâm văn hoá, và cả những “vùng tối” nơi
sức lan toả không với tới.
Đến lượt mình các vùng giao thoa văn hoá cũng có khả năng “phát sáng”
tạo nên sự lan toả thứ phát, để hình thành nên những trung tâm văn hoá mới và
tiếp tục ảnh hưởng đến các khu vực kế cận.
Thuyết lan toả văn hoá giúp lý giải vì sao trong cùng một khu vực địa lý
lại có sự tương đồng về văn hoá, và vì sao ở những khu vực giáp ranh giữa các
nền văn hoá lớn thường tồn tại các nền văn hoá hỗn dung.
Cơ sở khoa học của thuyết này là những luận điểm như dưới đây:
+ Văn hoá là cái đặc trưng chỉ có ở con người xã hội, mà không phải ở cá
thể người tự nhiên. Chính sự hợp quần thành xã hội của các cá thể người mới là
nền tảng đích thực của văn hoá.
+ Không có hoạt động, không có giao lưu thì cũng không có bản chất xã
hội của con người, và do đó, cũng không thể có văn hoá.
+ Chỉ trong giao lưu (diễn ra trong nội bộ cộng đồng, hoặc giữa các cộng
đồng với nhau) văn hoá mới có thể tồn tại. Như vậy, giao lưu và tiếp xúc văn
hóa là sự vận động thường xuyên của văn hoá.
+ Đề cập đến văn hoá cũng có nghĩa là đề cập đến tất cả các khâu của giao
lưu: từ chủ thể của giao lưu (cá nhân, cộng đồng) cho đến hoạt động giao lưu và
sản phẩm của hoạt động giao lưu ấy.
Do đó, khi tiến hành nghiên cứu một nền văn hoá, nhất thiết phải xét nó
trong quan hệ dẫn đến các trung tâm văn hoá kế cận hoặc các trung tâm văn hoá
đã từng có mối liên hệ với nền văn hoá ấy trong lịch sử; tức là phải xét đến quá
trình giao lưu – tiếp biến dẫn đến sự hình thành và phát triển của nền văn hoá ấy.
9
Sự thật là: xuyên suốt tiến trình lịch sử, tất cả các nền văn hoá còn tồn tại
cho đến giờ, thì đều hiện thân như kết quả của quá trình giao lưu – tiếp biến.
- Phương pháp lôgíc (Cách tiếp cận Đồng đại)
10
Khảo cứu đối tượng (văn hoá) theo lát cắt đồng đại (trong không gian
đương đại). Nó có ưu điểm là cho phép hình dung về kết cấu của đối tượng cùng
với các chức năng và các yếu tố cấu thành. Nó cũng vạch ra được quy luật nội
tại của đối tượng, nhờ đó đối tượng được tái hiện như một chỉnh thể sống động,
vận động tự thân. Nó cũng giảm sự phụ thuộc của nghiên cứu vào các tài liệu
lịch sử.
Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như: dễ
rơi vào tư biện, kém sinh động và thiếu các luận cứ thực chứng.
Để khắc phục những nhược điểm trên, người ta thường sử dụng phương
pháp lôgic trong sự kết hợp và hỗ trợ của phương pháp lịch sử.
- Thống nhất giữa lôgíc và lịch sử (Tọa độ văn hóa)
Tọa độ văn hoá là một phương pháp nghiên cứu văn hoá theo hai trục cơ
bản: không gian văn hoá và thời gian văn hoá. Thông thường, không gian văn
hoá vẫn được quan niệm là vùng địa lý; còn thời gian văn hoá được xác định
bằng niên đại lịch sử.
Về thực chất, đây là phương pháp nghiên cứu mang tính tổng hợp, bởi nó
bao hàm trong bản thân nhiều phương pháp hỗ trợ khác; mà cụ thể là: nó sử
dụng phương pháp lôgíc, địa văn - hoá, giao lưu – tiếp biến văn hoá..vv, để xác
định không gian văn hoá. Trong khi đó, phương pháp lịch sử được sử dụng để
xác định thời gian văn hoá (tiến trình văn hoá - là kết quả của việc áp dụng
phương pháp này).
Cũng có thể vận dụng cả chiều thứ ba để xác định tọa độ văn hoá - đó là
chiều chủ thể văn hoá. Việc bổ sung như vậy là có lợi đối với các nghiên cứu về
văn hoá tộc người song lại gây trở ngại cho các nghiên cứu về văn hoá dân tộc.
Sở dĩ như vậy là vì, khái niệm tộc người dùng để chỉ các cộng đồng tương
đối thuần khiết về chủng và có chung thổ ngữ. Khái niệm này không nhấn mạnh
trường tự nhiên.
- Quá trình trao đổi chất nói trên diễn ra theo hai hướng: thích nghi với tự
nhiên và cải tạo tự nhiên.
- Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hoá; Cụ thể là: thích nghi –
in dấu trong văn hoá nhân cách, trong lối sống cộng đồng (văn hoá phi vật thể);
còn biến đổi - được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (giới tự nhiên thứ hai, theo
cách nói của Marx, hay trong văn hoá vật thể).
Như vậy, có thể khẳng định rằng, môi trường tự nhiên chi phối quá trình
hình thành và phát triển của văn hoá.
-Cách tiếp cận Nhân học văn hoá
Nhân học văn hoá là một khoa học liên ngành về văn hoá. Nó chủ yếu
nghiên cứu văn hoá từ hai giác độ: nhân chủng và ngôn ngữ (thổ ngữ). Điều đó
có nghĩa là các cộng đồng có cùng cội nguồn huyết thống và ngôn ngữ sẽ được
xem là có tính đồng nhất văn hoá.
12
Cùng với thời gian lịch sử, dân số trên hành tinh ngày càng tăng, điều
kiện tự nhiên ở một số vùng trên trái đất cũng thay đổi (do biến đổi khí hậu,
thiên tai, động đất, núi lửa, hoặc do con người khai thác vượt quá sức tải của
môi trường), và do cả những cuộc xâm lược lẫn nhau của chính con người - đã
dẫn đến những làn sóng di cư nhân khẩu từ vùng địa lý này sang vùng địa lý
khác.
Di cư đã làm thay đổi đáng kể diện mạo của thứ văn hoá vốn trước kia bị
chi phối bởi hoàn cảnh địa lý. Các cộng đồng di cư vẫn giữ lại những truyền
thống văn hoá cội nguồn của họ trong một bối cảnh tự nhiên mới. Chính điều
này đã gây khó khăn không nhỏ cho phương pháp nghiên cứu địa – văn hoá.
(Chẳng hạn, người ta đã không thể sử dụng phương pháp này đối với cộng đồng
Do Thái, hay cộng đồng người Hoa hải ngoại).
Sự phát tán các cộng đồng người đã làm cho một không gian địa lý có thể
trở nên giống nhau hơn, xét từ góc độ văn minh. Toàn cầu hoá đang kiến tạo nên
một nền văn minh chung toàn nhân loại và làm cho lịch sử giờ đây mang tính
toàn thế giới hơn bao giờ hết.
Trong tình huống đó, tôn giáo với bản tính phi duy lý cố hữu của nó đã
không bị biến dạng bởi tính duy lý của khoa học và công nghệ. Nhờ đó, tôn giáo
đã trở thành chỗ dựa cho bản sắc văn hoá của nhiều cộng đồng trong điều kiện
toàn cầu hoá. Đó chính là lý do khiến việc nghiên cứu văn hoá bằng tôn giáo trở
thành một phương pháp thịnh hành trong các nghiên cứu hiện nay về văn hoá.
Vả lại, phương thức nghiên cứu văn hoá bằng tôn giáo cũng đã có một bề
dày lý luận đáng nể. Có thể coi Chiristopher Dawson (1889-1970) là ông tổ sáng
lập ra phương pháp nghiên cứu này. Theo Chiristopher Dawson, tôn giáo không
phải là một hình thái ý thức trừu tượng, mà là truyền thống văn hoá hay tập tục
văn hoá. Cũng theo ông thì một xã hội giầu sức sống tất có một tôn giáo, mà tôn
giáo này ở mức độ rất lớn lại quyết định phương thức văn hoá của xã hội ấy. Do
đó việc nghiên cứu tôn giáo trong sự thống nhất với văn hoá sẽ mở ra một cái
nhìn mới, hay nói đúng hơn là cho phép đánh giá lại các vấn đề có liên quan sự
phát triển xã hội.
Sau đó, các học giả như Paul Tillich, Arnold Toynbee, Ernst Cassirer... đã
phát triển luận điểm của Chiristopher Dawson thành lý thuyết đồng nhất tôn
giáo với văn hoá, và đồng nhất trên cơ sở của tôn giáo. Chẳng hạn, Paul Tillich
cho rằng tôn giáo là mặt tinh thần của nhân loại. Nhìn từ góc độ bản thể, tôn
giáo là tầng đáy của cuộc sống tinh thần nhân loại, bởi vậy nó là cái cuối cùng,
vô điều kiện, chỉnh thể và vô hạn. Tôn giáo phú cho văn hoá bản thể của ý
nghĩa, còn văn hoá là tổng hoà các hình thức biểu đạt của tôn giáo.
Không phải ngẫu nhiên mà Samuel Huntington - một nhà phân tích chính
trị hàng đầu hiện nay của Hoa Kỳ đã đi đến nhận định là: khi sự đối đầu lưỡng
cực đã biến mất cùng với sự sụp đổ của Liên xô thì chiến tuyến tương lai sẽ là
sự đụng độ giữa các nền văn hoá (văn minh) - mà về thực chất, là sự đối đầu của
14
hướng kinh doanh, xu hướng lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm...
II. ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM - MỘT NGHIÊN
CỨU ỨNG DỤNG CỦA VĂN HÓA HỌC
15
1. Phạm vi nghiên cứu
Văn hoá là một khái niệm rất rộng, nên trong các nghiên cứu ứng dụng,
Văn hoá học đòi hỏi phải làm rõ phạm vi nghiên cứu, trước khi bắt tay vào triển
khai các nhiệm vụ cụ thể.
Đối với Đại cương văn hoá Việt Nam, thì Văn hoá Việt Nam được hiểu là
Văn hoá của dân tộc Việt Nam – tức văn hoá của cộng đồng người sinh sống
trong phạm vi lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam hiện nay. Bởi vậy, việc
nghiên cứu văn hoá của từng tộc người riêng lẻ (ethnic cultures) hiện đang sinh
sống tại Việt Nam - sẽ không phải là nhiệm vụ chủ đạo của môn học này.
2. Xác định đối tượng nghiên cứu
Văn hóa là một hiện thực hết sức đa dạng và cách hiểu về nó cũng rất
khác nhau, bởi vậy, trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ khoanh vùng đối tượng
nghiên cứu dựa trên lý thuyết phân bậc chủ thể văn hóa.
Với lý thuyết này, văn hóa không còn bị hình dung như một tập hợp các
hiện tượng hỗn loạn, mà với tính hỗn loạn ấy - chỉ có phương pháp thích ứng
nhất là "mô tả". Thay vì cách làm như vậy, dựa trên phẩm chất chung mang tính
cố hữu của văn hóa là gắn với tính người (hiểu theo nghĩa phân biệt với giới tự
nhiên), lý thuyết này gắn văn hóa với chủ thể - người.
Đi theo hướng này, quan niệm về văn hóa không còn bị rơi vào những cực
đoan: hoặc bị hình dung như "tổng hỗn loạn"; hoặc bị quan niệm như "chất trừu
tượng"; mà trái lại văn hóa hiện hữu một cách trực quan và cụ thể trong tính
tính quy định của văn hoá - loài, bên cạnh những phẩm chất văn hoá độc đáo mà
chỉ riêng anh ta mới có. Điều đó có nghĩa là giữa các cá thể vẫn tồn tại một
“mẫu số chung về văn hoá" - và cái “mẫu số chung về văn hoá" ấy được xem là
văn hoá nhân cách của một cộng đồng.
Như vậy, Văn hoá nhân cách không hướng đến việc mô tả đời sống của
từng cá nhân cụ thể, riêng lẻ; mà trái lại - nó luôn cố gắng tìm ra mẫu số chung
về văn hoá giữa các cá nhân đồng thuộc một nền văn hoá.
Vận dụng lý thuyết phân bậc văn hoá vào xem xét chủ thể văn hoá Việt
Nam, hệ thống biểu đạt văn hoá Việt Nam (sắp xếp theo quy mô từ nhỏ đến lớn)
được xác định như sau:
- Cá nhân – và tương ứng với nó là: Văn hoá nhân cách của người Việt
Nam.
- Các cộng đồng cơ bản bao gồm làng xã, đô thị, nhà nước dân tộc; và
tương ứng với chúng là các kiểu hình văn hoá: Văn hoá làng xã; Văn hoá đô thị;
Văn hoá nhà nước – dân tộc.
Bước tiếp theo là khảo sát một "thực thể - chủ thể" văn hoá theo hai mặt
cơ bản; đó là: mặt tinh thần và mặt thực tiễn. Cách xem xét này không giống với
sự phân đôi thế giới thành vật chất và ý thức - như trong triết học vẫn làm. Ở
17
đây vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các khái niệm văn hoá vật chất với mặt thực
tiễn của văn hoá; và giữa văn hoá tinh thần với mặt tinh thần của văn hoá.
- Văn hoá vật chất là khái niệm dùng để chỉ các đồ vật/sản phẩm (hiện
hữu và mang tính hình thể) do con người tạo ra (hoặc được con người sử dụng)
để thoả mãn các nhu cầu của họ. Đây là cách nhìn văn hoá như một khách thể
độc lập tương đối với con người – tức là văn hoá ở trạng thái đã được khách thể
hoá.
Trong khi đó, mặt thực tiễn của văn hoá lại phản ánh sự chi phối của các
yếu tố văn hoá đối với hành vi ứng xử của chủ thể với thế giới xung quanh (tự
mang tính khu vực; thì bản sắc là tổ hợp các yếu tố đơn nhất (tính không lặp lại,
tính quy định cố hữu).
Tuy nhiên cũng cần phân biệt các yếu tố đơn nhất (bản sắc) với các yếu tố
nội sinh. Không phải bất cứ yếu tố nội sinh nào cũng tham gia cấu thành bản
sắc. Bên cạnh đó, bản sắc có thể bao gồm cả những yếu tố là hệ quả của giao lưu
– tiếp biến văn hoá. Tiêu chí để xếp yếu tố văn hoá này hay yêú tố văn hoá khác
vào bản sắc – chính là ở chỗ: những yếu tố ấy phải là vật mang các tính quy định
đặc trưng cho văn hoá dân tộc.
Chẳng hạn, cây cà phê được trồng ở nhiều nơi trên thế giới, song khi nói
về Brazil – người ta vẫn coi đây là đất nước của cà phê. Cũng như vậy, Nho
giáo, Phật giáo hay Đạo giáo... mặc dù hiện diện ở nhiều dân tộc khác nhau,
song sự khác biệt chính là ở chỗ: mỗi dân tộc ứng xử, lựa chọn và vận dụng các
yếu tố của chúng theo cách riêng của mình – và cái đó chính là bản sắc, mặc dù
những học thuyết trên tuyệt nhiên không phải là yếu tố văn hoá nội sinh. Như
vậy, Nho giáo, Phật giáo hay Đạo giáo không còn đơn thuần là các yếu tố văn
hoá du nhập mà trái lại, đã trở thành “vật mang” bản sắc dân tộc.
III. Ý NGHĨA CỦA VĂN HÓA HỌC VÀ ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT
NAM
a. Trang bị năng lực phản tư văn hoá
- Dù thế giới quan khoa học có quan trọng đến đâu, thì nó cũng không
phải là cách thức chiêm ngưỡng thế giới duy nhất của con người. Hơn thế,
không phải trong mọi trường hợp nó đều mang tính hợp lý. Đời sống tinh thần
con người như là một chỉnh thể nên không thể đóng kín chỉ trong các cấu trúc
lôgíc của khoa học. Người ta thừa nhận rằng, không thể khử bỏ được yếu tố phi
lý trong đời sống nội tâm con người, và như thế thì phần còn lại sẽ là vương
quốc của cái phi duy lý, nơi ngự trị của Tôn giáo và Nghệ thuật - những thành tố
cơ bản của văn hoá. Dưới lăng kính văn hoá, thế giới hiện ra trong con mắt chủ
thể không chỉ chỉ là Chân, mà còn là Thiện và Mỹ nữa.
- Trong một thế giới đang bị toàn cầu hoá, sự khẳng định tính cá biệt của
- õy l nhng kin thc ht sc hu ớch cho vic hỡnh thnh nờn trit lý
kinh doanh, xõy dng ý thc phỏp lut, nh hng tõm lý tiờu dựng, v to lp
phong cỏch lm vic sao cho cú hiu qu.
- Nhng kin thc ny cng giỳp ngi hc ỏnh giỏ ỳng mc cỏc c hi
cng nh nhng thỏch thc m thi i ang t ra i vi bn sc vn hoỏ dõn
tc.
Ti liu tham kho
Ti liu ting Vit
Jonh Naisbitt, Nghịch lý toàn cầu, Bộ Tài chính, Viện Nghiên cứu Tài
chính, Hà Nội, 1997, tr.202.
1
20
1. Irma Adelman. Năm mươi năm phát triển kinh tế chúng ta học được những
gì?; Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000.
2. Arnold Toybee. Nghiên cứu về lịch sử – một cách thức diễn giải. Nxb Thế
giới, Hà Nội 2002.
3. Vũ Minh Giang. Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay. Hà
Nội, 1996.
4. Phạm Khiêm Ích (chủ biên). Văn hoá học và văn hoá thế kỷ XX, tập I. Viện
Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội 2001.
5. Jonh Naisbitt. Nghịch lý toàn cầu. Bộ Tài chính, Viện nghiên cứu Tài chính,
Hà Nội, 1997.
6. Phan Ngọc. Bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002.
7. Zhangzhigang. Tôn giáo và đời sống hiện đại, T1. Trung tâm KHXH&NV
QG, Viện TTKHXH, Hà Nội, 1997.
8. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb Tổng hợp Thành
I.
ĐỊNH VỊ VĂN HÓA VIỆT NAM
1. Địa - văn hóa Việt nam
Trong phạm vi hẹp, đất nước Việt Nam nằm trên địa bàn cư trú của người
Bách Việt. Có thể hình dung khu vực này như một hình tam giác với cạnh đáy là
sông Dương Tử (Trung Quốc), và đỉnh là vùng Bắc trung bộ Việt Nam ngày nay.
Ở phạm vi rộng hơn, văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của
người Indonesien lục địa. Có thể hình dung đây là một tam giác với cạnh đáy
22
vẫn là sông Dương Tử (Trung Quốc) còn đỉnh của tam giác giờ đây kéo dài tới
tận vùng đồng bằng sông Mekông.
Dù rộng hay hẹp thì đặc trưng địa lý cố hữu của khu vực này vẫn là: Nhiệt
độ, độ ẩm cao (lượng mưa hàng năm lớn), và có gió mùa.
Điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này loại hình văn hoá gắn với
nông nghiệp với những đặc điểm sau:
+ Trồng lúa nước (khác với văn hoá khô mạch của Trung Hoa – vùng
phía bắc sông Dương Tử).
+ Sống định cư và hoà hợp với thiên nhiên (khác với văn hoá gốc du
mục).
+ Đề cao vai trò của phụ nữ (một đặc trưng của văn hoá thực vật, nơi chế
độ mẫu hệ dựa trên kinh tế hái lượm, trồng trọt là hình thái thống trị).
+ Sùng bái mùa màng, sinh nở (Văn hoá phồn thực – nông nghiệp).
Do nằm trong vùng địa lý này nên văn hoá Việt Nam có đầy đủ những
phẩm chất nói trên, và chúng cấu thành các yếu tố đặc thù (mang tính khu vực)
trong nội dung văn hoá Việt Nam.
Về mặt ngôn ngữ, ngôn ngữ phổ thông hiện nay (Tiếng Việt – của tộc
người Kinh) là kết quả của quá trình hoà hợp các thổ ngữ của các tộc người
trong cộng đồng Bách Việt và quá trình Hán hoá.
Về mặt lịch sử, lúc đầu ngôn ngữ của người Kinh gồm các thổ ngữ của
người Bách Việt. Cùng với sự hoà huyết và chung sống, và xuất phát từ nhu cầu
giao tiếp, các thổ ngữ này bị biến đổi để trở thành một thứ ngôn ngữ chung cho
cả cộng đồng; đó là ngôn ngữ Việt – Mường. Các yếu tố cơ bản cấu thành ngôn
ngữ Việt – Mường là: Môn - Khơ me, Tày – Thái.
Quá trình giao lưu văn hoá với Hán ngữ, chủ yếu diễn ra vào giai đoạn
Bắc thuộc. Trong bối cảnh đó, ngôn ngữ Việt - Mường đã hấp thụ Hán ngữ để
làm giàu và phát triển.
Cuộc giao lưu với văn hoá phương Tây – từ thời Pháp thuộc đến nay, đã
đem lại cho tiếng Việt một diện mạo mới, được đánh dấu bằng sự ra đời chữ
quốc ngữ và một cấu trúc ngữ pháp cũng như vốn từ vựng ổn định như ngày
nay.
Tóm lại, văn hoá Việt Nam là văn hoá tổng hợp và hỗn dung xét từ giác
độ nhân học văn hoá.
3. Tiếp cận tôn giáo với văn hóa Việt Nam
Vũ Minh Giang, Nội dung của truyền thống Việt Nam, trong sách “Các giá trị truyền thống
và con người Việt Nam hiện nay”, HN, 1996. tr.16
1
24
Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, Việt Nam thuộc cộng
đồng các quốc gia Phật giáo (cùng với Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma...).
Cách phân loại này đã không xếp Nho giáo vào hàng tôn giáo.
Một số khác coi Việt Nam nằm trong cộng đồng của các nước chịu ảnh