Đại cương văn hoá Việt Nam - Pdf 39

ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM.

Câu 1: Hãy chỉ ra sự khác nhau giữa hai loại hình văn hóa phương Đông / phương Tây và lý giải nguyên
nhân của sự khác nhau đó.
Văn hoá gốc chăn nuôi du mục
Văn hoá gốc nông nghiệp, trồng trọt
 Hình thành ở phương Tây bao gồm toàn bộ Chây Âu.
 Hình thành ở phương Đông bao gồm châu Á và châu
Phương Tây là vùng khí hậu lạnh, khô, địa hình chủ yếu Phi. Phương Đông là vùng có khí hậu nóng ẩm, mưa
là thảo nguyên, rất thích hợp cho nghề chăn nuôi.
nhiều, tạo nên sông nên đồng bằng trù phí, phì nhiêu,
thích hợp cho nghề trồng trọt phát triển.
 Đòi hỏi cư dân phải sống theo lối du cư, nay đây mai
 Nghề trồng trọt buộc con người phải sống định cư. Do
đó, từ đó tạo thành thói quen thích đi lại (trọng động).
sống định cư nên cư dân nông nghiệp phải lo tạo dựng
một cuộc sống ổn định lâu dài, không thích sự di
chuyển, đổi thay (trọng tĩnh).
 Vì luôn di chuyển nên cuộc sống không phụ thuộc
 Vì nghề trồng trọt phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên,
nhiều vào thiên nhiên, từ đó nảy sinh tâm lý coi thường
nên cư dân nông nghiệp rất tôn trọng, sùng bái và mong
thiên nhiên và có tham vọng chinh phục, chế ngự thiên
muốn sống hoà hợp với thiên nhiên.
nhiên.
 Vì sống du cư nên tính gắn kết cộng đồng của cư dân
 Cuộc sống định cư đã tạo cho cư dân nông nghiệp tính
du mục không cao, yếu tố cá nhân được coi trọng, dẫn
gắn kết cộng đồng cao.
đến tâm lý ganh đua, cạnh tranh, hiếu thắng, lối ứng xử
độc tôn, độc đoán trong tiếp nhân, cứng rắn trong đối

cửa miệng của người Việt là “ơn Trời”, “lạy Trời”, “nhờ Trời”,…). Các tín ngưỡng và lễ hội sùng bái tự nhiên vì
vậy rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng miền của đất nước.
+ Cuộc sống đinh cư tạo cho người Việt tính cố kết cộng đồng cao (Bán anh em xa mua láng giềng gần, Một con
ngựa đau cả tàu bỏ cỏ,…).
1


+ Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa (Lá lành đùm lá rách; Chị ngã em nâng; Bầu ơi thương
lấy bí cùng,…); các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lý (Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình; Nhất
quen, nhì thân, tam thần, tứ thể,…).
+ Cuộc sống định cư ổn định cần đến vai trò chăm lo thu vén của người phụ nữ. Thêm nữa, nghề trồng trọt, đồng
áng cũng là công việc phù hợp với phụ nữ, do đó, vai trò của người phụ nữ được tôn trọng, đề cao (Ruộng sâu trâu
nái không bằng con gái đầu lòng; Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bá; Ba đồng một mớ đàn ông, đem
bỏ vào lồng cho kiến nó tha, ba trăm một mụ đàn bà, đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi,..).
→ Sau này, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên mới hình thành tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tuy nhiên
hiện nay, vẫn còn các dân tộc không chịu hoặc ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa (Chăm, Êđê, Giarai,…),
vẫn duy trị chế độ mẫu hệ.
+ Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính cũng thể hiện rõ trong văn hoá nhận
thức, ứng xử của người Việt: coi trọng kinh nghiệm chủ quan hơn là cơ sở khách quan và tri thức khoa học (Nhìn
mặt mà bắt hình dong; Trăm hay không bằng tay quen; Sống lâu lên lão làng,…).
→ Kiểu tư duy thiên về chủ quan, cảm tính kết hợp với lối sống trọng tình đã tạo nên thói quen tư duy, ứng xử tuỳ
tiện (Yêu nên tốt, ghét nên xấu; Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười; Thưowng nhau mọi
việc chẳng nề, dẫu trăm chỗ lệnh cũng kê cho bằng,…).
+ Lối tư duy tổng hợp – biện chứng cũng là nguyên nhân dẫn đến lối ứng xử mềm dảo, linh hoạt được thể hiện rõ
qua quan niệm sống của người Việt: “Tuỳ cơ ứng biến”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “Đi với Bụt mặc áo cà sa,
đi với ma mặc áo giấy”,… .
Câu 3: Hãy chỉ ra những bằng chứng cho thấy khả năng tận dụng tự nhiên và xã hội của người Việt biểu
hiện ở lĩnh vực văn hóa vật chất.
1. Văn hóa ẩm thực:
a. Cơ cấu bữa ăn của người Việt:

b. Tính tổng hợp trong văn hoá ẩm thực của người Việt:
- Tư duy tổng hợp – biện chứng là một đặc trưng của văn hoá gốc nông nghiệp trồng trọt cũng chi phối đến văn
hoá ẩm thực Việt Nam.
- Biểu hiện:
+ Trong cách chế biến thức ăn: hầu hết các món ăn đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp (xào, nấu, canh, rau
sống, bánh chưng, nem rán, nước chấm, bún,…) tạo nên những món ăn hấp dẫn, đa màu sắc, đa hương vị.
+ Trong cách ăn: mâm cơm người Việt bao giờ cũng có đồng thời nhiều thức ăn: canh, rau, dưa, cá, thịt,… được
chế biến đa dạng: xào, rán, nấu, luộc, kho,… Quá trình ăn cũng là sự tổng hợp các món ăn.
c. Tính linh hoạt:
- Lối ứng xử mềm dẻo, linh hoạt của nông nghiệp trồng trọt cũng được thể hiện rõ nét trong văn hoá ẩm thực VN.
- Biểu hiện:
+ Việc ăn uống theo mùa, theo vùng miền, đó là một biểu hiện của lối ứng xử thích nghi với môi trường tự nhiên,
cũng vừa là một cách tự thích nghi của nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp.
+ Việc chế biến thức ăn và lựa chọn các món ăn để điều chỉnh, làm cân bằng các trạng thái của cơ thể (âm –
dương, nóng – lạnh) giữa cơ thể với môi trường để đối phó với thời tiết. Ăn uống theo mùa, theo vùng miền cũng là
cách để con người vừa tận dụng, vừa ứng phó với môi trường tự nhiên, cũng vừa tạo nên sự cân bằng giữa con
người với môi trường.
+ Tính linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn: đôi đũa. Có thể dùng đôi đũa một cách linh hoạt với nhiều chức
năng khác nhau. Tập quán dùng đũa lâu đời đã làm hình thành cả một triết lý đôi đũa ở người Việt, đó là tính cặp
đôi (Vợ chồng như đũa có đôi), tính cân xứng (Bây giờ chồng thấp vợ cao, như đôi đũa lệch so sao cho bằng; Vợ
dại không hại bằng đũa vênh), tính tập thể (Vơ đũa cả nắm).
d. Tính cộng đồng:
- Tính cộng đồng như một đặc trưng biểu hiện của lối sống nông nghiệp cũng chi phối đến văn hoá ẩm thực VN.
- Biểu hiện:
+ Bữa ăn của người Việt là bữa ăn chung; các thành viên trong bữa ăn liên quan và phụ thuộc nhau (chung nồi
cơm, chung chén nước chấm, chung đĩa thức ăn, khác hẳn mỗi suất ăn độc lập của người phương Tây).
+ Vì mang tính cộng đồng nên trong bữa ăn người Việt rất thích trò chuyện.
e. Tính chuẩn mực và mực thước:
- Do lối sống cộng đồng cùng với sự chi phối của quan niệm Nho giáo coi trọng tính tôn ti, thứ bậc nên người
Việt rất coi trọng nghi lễ và thái độ ứng xử ý tứ, mực thước, chừng mực trong ăn uống (Ăn trông nồi, ngồi trông

trường sống và sinh hoạt của nghề trồng lúa nước.
- Ngoài ra, chiếc nón cũng là một bộ phận kèm theo không thể thiếu trong trang phục của người phụ nữ VN
truyền thống. Nón để che nắng, che mưa, do đặc thù khí hậu nắng lắm, mưa nhiều nên nón có đặc điểm là rộng
vành và có mái dốc.
* Trang phục của nam giới:
- Trang phục truyền thống thường ngày là áo cánh, quần lá toạ; ngày lễ tết, lễ hội thì đội khăn xếp, mặc áo the,
quần ống sớ.
- Sang những thập niên đầu thế kỉ XX, do tác động của phong trào Âu hoá, trang phục truyền thống của người
Việt mới bắt đầu thay đổi.
 Tóm lại, trang phục của người Việt đã thể hiện sự ứng xử linh hoạt để đối phó với môi trường tự nhiên vùng
nhiệt đới và nghề trồng lúa nước. Trong sự ứng xử với môi trường xã hội, trang phục của người Việt thể hiện quan
niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp kín đáo, giản dị.
3. Văn hóa ở và đi lại:
a. Ứng xử trong văn hoá ở của người Việt:
Đối với cư dân nông nghiệp, ngôi nhà là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho cuộc sống định cư ổn
định, bởi vậy, trong quan niệm của người Việt, có “an cư” mới “lạc nghiệp”.
* Ứng xử với tự nhiên:
- Vật liệu làm nhà: từ nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên như gỗ, tre, nứa, rơm rạ, lá cọ, lá mía, ngói. Qua đó
thể hiện khả năng sáng tạo trong việc thích nghi và tận dụng các điều kiện tự nhiên.
- Kiến trúc nhà:
+ Mang dấu ấn của vùng sông nước: nhà sàn là kiểu nhà phổ biến của người Việt từ thời Đông Sơn, thích hợp
cho cả miền sông nước lẫn miền núi để ứng phó với tác động xấu của môi trường (tránh côn trùng, thú dữ, tránh lũ
ở miền núi và tránh ngập lụt ở đồng bằng).
+ Sang thời phong kiến, dù đã chuyển sang kiểu nhà đất bằng là phổ biến, song dấu ấn văn hoá sông nước còn
thể hiện ở kiểu nàh mái cong mô phỏng mũi thuyền.
+ Không gian ngôi nhà Việt là không gian mở, có cửa rộng, thoáng mát, giao hoà với tự nhiên; xung quanh nhà
có cây xanh bao bọc, chở che.
+ Nhà được cấu trúc số gian lẻ (số dương) theo quan niệm Âm dương – Ngũ hành.
- Chọn hướng nhà và chọn đất làm nhà:
+ Để ứng phó với môi trường tự nhiên, hướng nhà được ưu thích của người Việt là hướng nam hoặc đông nam

Câu 4: Anh hay chị hãy trình bày những hiểu biết của mình về âm dương – ngũ hành và ảnh hưởng của nó
đến triết lý sống của người Việt Nam.
a. Thuyết Âm – dương: quan niệm về bản chất tinh thần (mặt định tính) của vũ trụ.
* Nội dung của thuyết Âm – dương: khái quát nguyên lý hình thành vũ trụ: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi
sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hoá vô cùng”.
- Thuyết Âm – dương quan niệm, thuở sơ khai, vĩ trụ tồn tại trong trạng thái hỗn mang, không định hình, không
giới hạn, bao la, vô tận, đến cực điểm gọi là thái cực (sự hợp nhất đến mức cực điểm, tuyệt đối).
- Sự hợp nhất khi đạt đến cực điểm sẽ phân chia thành hai: thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi là âm dương.
Cặp đối lập âm – dương gốc trong vũ trụ là Đất – Trời. Từ cặp đối lập âm – dương gốc trong vũ trụ suy ra cặp đối
lập âm – dương ứng với con người là Mẹ - Cha.
- Cặp đối lập âm – dương gốc (Đất – Trời, Mẹ - Cha) lại giao hoà với nhau tạo thành 4 tổ hợp mới là tứ tượng
(đất trời sinh ra 4 mùa; cha mẹ sinh ra con cái).s
- Tứ tượng lại phối hợp với nhau để tạo thành 8 tổ hợp gọi là bát quái: càn – đoài – ly – chấn – tốn – khảm – cấn –
khôn (trời – đầm – lửa – sấm – gió – nước – núi – đất).
- Bát quái lại tiếp tục kết hợp với nhau để tạo thành 64 quẻ, tượng trưng cho các trạng thái, tình huống thường gặp
trong thế giới tự nhiên và cuộc sống con người.
 Sự giao hoà giữa các mặt đối lập (âm – dương) trong vũ trụ và con người tạo ra những sự vật mới.
* Đặc tính của âm – dương:
- Vận dụng 2 cặp đối lập âm – dương gốc là đất – trời, mẹ - cha, người xưa đã suy ra các đặc tính trội của âm
dương trong tương quan với nhau:
- Âm
Thấp Lạnh Tối
Mềm dẻo Chậm Tĩnh Ổn định
Hướng nội
Tình cảm
Dương Cao Nóng Sáng Cứng rắn Nhanh Động Phát triển Hướng ngoại Lý trí
Ứng dụng các đặc tính trên vào việc xem xét các sự vật và hiện tượng, người xưa cũng suy ra vô số những cặp đối
lập âm – dương khác như:
Về con
Về thời gian Về không

- Âm – dương đối nghịch nhau nhưng giao hoà: dựa vào nhau, là nguồn gốc của nhau. Không có âm, dương
không thể tồn tại; không có dương, âm cũng không thể tồn tại (trong âm có dương, trong dương có âm, không có
cái gì hoàn toàn âm, không có cái gì hoàn toàn dương).
- Âm – dương chuyển hoá: âm có thể chuyển hoá thành dương và ngược lại, cái này yếu đi thì cái kia mạnh lên
(âm cực sinh dương và dương cực sinh âm).
Ví dụ:  Đêm sáng dần thì sẽ chuyển sang ngày, ngày tối dần sẽ chuyển sang đêm.
 Nắng yếu dần thì chuyển sang mưa và sau cơn mưa trời sẽ nắng.
⇒ Cứ thế mà thay nhau
 Nóng bớt dần thì sẽ chuyển sang lạnh và ngược lại.
theo năm tháng
 Mặt trời lặn thì mặt trăng lên, trăng lặn thì mặt trời mọc.
- Quy luật chuyển hoá âm – dương cũng nói lên rằng, âm – dương phải nằm trong trạng thái cân bằng động thì
mới duy trì được sự phát triển, vận động bình thường của sự vật.
 Mọi sự tồn tại, vận hành của các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều dựa trên cơ sở sự đối lập và chuyển hoá
giữa hai mặt đối lập nhưng thống nhất âm – dương.
b. Thuyết Ngũ hành:
* Khái niệm về thuyết Ngũ hành:
- Hành: vận động; Ngũ hành: trạng thái vận động động của 5 loại vật chất tạo ra vũ trụ.
- Thuyết Ngũ hành quan niệm về cấu trúc vật chất (mặt định lượng) của vũ trụ.
* Nội dung của thuyết Ngũ hành:
- Vũ trụ được tạo bởi 5 yếu tố vật chất cơ bản: Kim – Mộc – Thuỷ – Hoả – Thổ.
- Đặc tính của mỗi hành:
+ Thuỷ (nước): lạnh, hướng xuống.
+ Hoả (lửa): nóng, hướng lên.
+ Mộc (cây): sinh sôi, đặc điểm dài, thẳng.
+ Kim (kim loại): thanh tĩnh, thu sát.
+ Thổ (đất): nuôi lớn, hoá dục.
- Các hành không chỉ là những vật chất cụ thể mà còn tượng trưng cho một số thuộc tính cane bản của vật chất, cả
trong thế giới vĩ mô và vi mô. Vì vậy, có thể qui các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên về các hành:
+ Hành thuỷ: không chỉ là nước, mà còn chỉ phương Bắc; chỉ mùa đông; chỉ những sự vật có hình dáng ngoằn

không thể tách rời của sự vật; không có sinh thì sự vật không phát sinh và phát triển được, không có khắc thì không
thể duy trì được sự cân bằng và điều hoà trong sự phát triển và tiến hoá của sự vật.
→ Nhờ tương sinh tương khắc mà các sự vật duy trì được trạng thái cân bằng động. Quan hệ tương sinh – tương
khắc là cơ sở để duy trì sự tồn tại của vạn vật, là nguyên nhân thúc đẩy vạn vật sinh trưởng, phát triển và không
ngừng tiến hoá.
- Ngũ hành quá thừa:
+ Xuất phát từ nguyên lí âm – dương, thuyết Ngũ hành quan niệm, phàm vật gì cực thịnh thì thừa. Vật cực thịnh,
thái quá sẽ bị chuyển hoá sang trạng thái khác.
Ví dụ: Vật cứng quá thì dễ gãy (ngọc cứng dễ vỡ, sắt cứng dễ gãy, cây cao quá dễ đổ). Như vậy, trong mạnh đã có
mầm yếu (Đầy quá sẽ đổ, Già néo đứt dây).
+ Thuyết Âm – dương và Ngũ hành có mỗi liên quan trực tiếp, được kết hợp với nhau để lý giải về nguyên lý
hình thành, về bản chất, cấu trúc và sự vận hành của vũ trụ.
d. Ảnh hưởng của thuyết Âm dương – Ngũ hành với triết lí sống của người Việt:
- Triết lý về sự cân xứng, cặp đôi:
+ Chỉ khi tồn tại trong sự cặp đôi, tương xứng, cân bằng âm – dương thì sự vật mới hoàn thiện, trọn vẹn, bền
vững, hợp quy luật.
+ Trong thành ngữ, tục ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày, các cặp âm – dương thường được sử dụng cặp đôi như:
trời – đất, cha – mẹ, ông – bà, đất – nước, sông – núi,…
- Triết lý sống quân bình, hài hoà âm dương:
+ Quan niệm trạng thái tồn tại tối ưu của mọi sự vật, từ tự nhiên đến xã hội là sự cân bằng, hài hoà âm dương.
+ Chỉ khi tồn tại trong trạng thái này, sự vật mới ổn định, bền vững, không bị biến đổi sang trạng thái khác (vi
âm cực sinh dương, dương cực sinh âm nên cái gì thái quá cũng dẫn đến bất cập và sinh biến: Đẩy quá sẽ đổ; Già
néo đứt dây; Hồng nhan bạc mệnh,…).
+ Từ đó, người Việt Nam sống theo triết lý quân bình, cố gắng duy trì trạng thái âm dương bù trừ nhau, từ việc
ăn uống (chế biến các món ăn) đến việc làm nhà ở (nhà lợp ngói âm dương, mộng gỗ lồi lõm tra khớp vào nhau để
tạo sự bền vững), cho đến việc ứng xử hài hoà trong quan hệ với người khác để không làm mất lòng ai (Dĩ hoà vi
quí) → người Việt thường phê phán thái độ sống cực đoan: Sướng lắm khổ nhiều; Trèo cao ngã đau; Yêu nhau lắm,
cắn nhau đau,…
+ Triết lý sống quân bình cũng khiến cho người Việt thường tự bằng lòng, an phận với những gì mình đang có,
không hiếu thắng.

+ Được người Việt bản địa hoá, khiến nó nhanh chóng cộng sinh để hoà mình trong dòng chảy của văn hoá dân
tộc tạo nên sắc thái riêng của Phật giáo VN với các đặc điểm:
* Khuynh hướng nhập thế:
- Giáo lý của Phật giáo là cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh.
- Bản thân mục đích ấy đã bao hàm nhân tố nhập thế, do vậy, Phật giáo VN luôn đồng hành với cuộc sống của
chúng sinh bằng những việc làm thiết thực:
+ Nhà chùa mở trường dạy học, tham gia đào tạo tri thức;
+ Nhiều nhà sư đồng thời là thầy thuốc chữa bệnh;
+ Nhiều vị cao tăng được triều đình mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng (sự Vạn Hạnh đã vận
động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều Lý; sư Đa Bảo và Viên Thông được tham dự bàn bạc và quyết
định các việc trong triều như cố vấn của nhà vua).
- Giáo lý của Phật giáo còn được người Việt cụ thể hoá trong các mối quan hệ đời thường: Tu đầu cho bằng tu
nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu (cha, mẹ được tôn kinh như Phật); Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba
tu chùa; Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng âm phúc cứu cho một người,…
* Tính tổng hợp:
- Là một trong những đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, bởi vậy, tính tổng hợp cũng chi phối đến thái độ ứng
xử với Phật giáo của người Việt, làm nên sắc thái riêng của Phật giáo VN.
- Biểu hiện:
+ Dung hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng và truyền thống văn hoá bản địa:
 Dung hợp với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (các vị thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp đã được “Phật hoá” thành Phật
Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi, Phật Pháp Điện).
 Dung hợp với tính ngưỡng thờ Mẫu, Phật giáo VN có khuynh hướng thiên về nữ tính: có rất nhiều Phật Bà, có
vị đức Phật trong quan niệm của Phật giáo nguyên thuỷ Ấn Độ vốn là đàn ông; khi du nhập sang VN đã biến thành
Phật Bà; Bồ Tát Quán Thế Âm được biến thành Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay; nhiều ngôi chùa mang tên
các bà (Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Tướng, chùa Bà Dàn, chùa Bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu),…).
 Dung hợp giữa việc thờ Phật với việc thờ các vị Thần, Thánh, Mẫu, Thành Hoàng, Thổ Địa, các anh hùng dân
tộc; kiến trúc phổ biến của chùa VN là tiền Phật hậu Thần.
+ Dung hợp giữa các tông phái Phật giáo:
 Đây là một nét đặc trưng rất riêng của Phật giáo VN so với các quốc gia Phật giáo láng giềng. Trong khi ở
Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia chỉ có Phật giáo Nam Toong, còn ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông

- Du nhập vào VN từ thời Bắc thuộc, nhưng do xu hướng cưỡng bức văn hoá nên suốt 1000 năm, Nho giáo chưa
có được chỗ đứng trong đời sống của cư dân Việt.
- Đến thế kỷ XV, Nho giáo đạt đến cực thịnh khi nhà Lê tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo.
- Đặc điểm của Nho giáo VN:
+ Nền nho giáo Trung Hoá đặc biệt coi trọng tư tưởng trung quân, quyền lực của nhà vua được đề cao tuyệt đối,
thì Nho giáo VN tuy vẫn đề cao tư tưởng này nhưng không cực đoan đến mức đòi hỏi phải hi sinh tính mạng vì vua.
Mặt khác, quan niệm trung quân ở VN luôn gắn liền với ái quốc, và trong nhiều TH, nước được đề cao hơn vua.
+ Các khái niệm: nhân, nghĩa được mở rộng, nó không chỉ là một khái niệm đạo đức hạn hẹp trong ứng xử cá
nhân, mà trở thành một lý tưởng xã hội cao đẹp: vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân (Việc nhân nghĩa
cốt ở yên dân – “Cáo bình Ngô” – Nguyễn Trãi).
+ Tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo khi vào VN cũng bị làm cho nhẹ bớt đi bởi truyền thống trọng phụ
nữ vốn có trong văn hoá bản địa.
+ Từ cuối XVI đến hết XVIII là thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến Đại Việt do Trịnh – Nguyễn phân
tranh, Nho giáo đi vào giai đoạn suy vong không thể cứu vãn. Các vương triều phong kiến từ Gia Long đến Minh
Mạng, Tự Đức đều không thể làm cho Nho giáo có được vị thế như nó đã từng có ở thế kỷ XV.
- Tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Biểu hiện:
+ Là nền tảng tư tưởng để tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ sở pháp lý để quản lý, duy trì sự ổn định của xã hội
dựa trên các quan hệ cộng đồng xã hội và gia đình theo quan niệm Tam cương, Ngũ thường.
 Tam cương (3 mối quan hệ chủ chốt trong xã hội): quân thần – phụ tử – phu phụ (vua tôi – cha con – vợ
chồng).
 Ngũ thường (5 đức tính cơ bản của con người): nhân – nghĩa – lễ – trí – tín.
+ Là nền tảng đạo đức để củng cố các mối quan hệ gia đình – xã hội theo thứ bậc, kỷ cương của giáo lý Nho
giáo, qua đó xác lập chuẩn mực đạo đức để xây dựng mô hình nhân cách con người VN truyền thống với các tiêu
chí: đạt đức (Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu sửa mình; Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn
chữ hiếu mới là đạo con) và đạt đạo (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín).
+ Nho giáo đã chi phối trực tiếp và toàn diện hệ thống giáo dục, thi cử truyền thống, từ mục đích đến nội dung và
phương pháp giáo dục.
Câu 7: Hãy chỉ những đặc trưng của văn hoá nông nghiệp ảnh hưởng đến văn hoá giao tiếp ứng xử của
người Việt truyền thống.


+ Khi giao tiếp, người Việt thường có thói quen không mở đầu trực tiếp, không đi thẳng vào vấn đề cần nói mà
thường hay mở đầu “vòng vo tam quốc” để đưa đẩy, tạo không khí thân mật và thăm dò thái độ của đối tượng giao
tiếp.
+ Do giữ ý, người Việt thường không biểu lộ trực tiếp cảm xúc của mình với đối tượng giao tiếp (các bài ca dao
tỏ tình thường nói vòng vo bóng gió).
+ Thái độ giữ ý trong giao tiếp dẫn đến tâm lý nhường nhịn, cả nể, sợ mất lòng người đối thoại (Lời nói chẳng
mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau; Học ăn học nói, học gói học mở; Một sự nhịn, chín sự lành,…).
+ Hệ quả của việc giữ ý, cả nể dẫn đến thái độ đắn đo, cân nhắc thái quá, thiếu tính quyết đoán trong giao tiếp
(Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo; Uống lưỡi ba lần trước khi nói,…).
c. Văn hoá ngôn từ trong giao tiếp: Đặc trưng của văn hoá ngôn ngữ trong giao tiếp của người Việt:
- Lời nói mang tính biểu trưng, ước lệ cao: không nói trực tiếp, cụ thể vào điều cần nói mà nói bóng gió bằng hình
ảnh ví von, ẩn dụ (Trăm dâu đổ một đầu tằm; Tưởng giếng nước sâu nối sợi gàu dài, ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi
dây…). Lối nói này tạo nên tính đa nghĩa, có thể tạo vận dụng linh hoạt vào nhiều văn cảnh giao tiếp khác nhau.
- Tính so sánh và tương phản: trong tục ngữ, thành ngữ, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ông cha ta thường hay
dùng những câu nói có hai vế đối ứng trong quan hệ so sánh, tương phản (Trèo cao – ngã đau; Ông nói gà – bà nói
vịt; Đàn ông nông cạn giếng khơi – Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu,…). Cấu trúc này tạo tiết tấu, vần điệu cho
lời nói (giàu chất thơ).
Câu 8: Hãy so sánh và chỉ ra sự thay đổi của văn hóa gia đình Việt Nam xưa và nay. Theo anh /chị, hiện nay
những giá trị nào của văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống cần được gìn giữ và phát huy?
* So sánh và chỉ ra sự thay đổi của văn hoá gia đình Việt Nam xưa và nay:
Tiêu chí

Quy
cấu


Gia đình Việt Nam xưa
- Quy mô gia đình lớn, trong gia đình có
nhiều thế hệ. Thường là “tam đại đầu


năng
tâm lí
tình
cảm

- Gia đình mở rộng – có nhiều thế hệ chung
sống theo quan hệ huyết thống.
- Một người chồng có thể lấy nhiều vợ.
- Coi trọng chức năng này, họ coi việc sinh
càng nhiều con càng tốt, “con đàn cháu
đống” là có phúc.
- Đặc biệt coi trọng con trai.
- Con cháu chịu ảnh hưởng từ họ hàng, gia
đình, làng xóm.
- Chủ yếu theo tư tưởng Nho giáo, theo lễ
nghi.
- Giáo dục con bằng những kinh nghiệm
được truyền từ đời này sang đời khác.
- Chỉ có con trai mới được đi học, con gái
được giáo dục để làm việc nhà.
Chức năng sản xuất và tiêu dùng đi đôi với
nhau, do sản xuất tự cung tự cấp là chính.
Vợ chồng sống với nhau có trác nhiệm, nghĩa
vụ với nhau, cùng chia sẻ với nhau trong
quan hệ vợ chồng và chăm sóc con cái.

- Có sự kiểm soát giữa các cá nhân, theo
chiều từ trên xuống, thế hệ trước kiểm soát
Chức năng
thế hệ sau, bố mẹ kiểm soát con cái.

Con - Con trai: được coi trọng nhiều hơn.
gia
cái
- Con gái: không có giá trị bằng con trai.
đình
- Thường con cái phải tuân theo lời của bố
mẹ (“Cha mẹ đặc đâu còn ngồi đấy”).

cái.
- Gia đình ít con, mỗi gia đình thường chỉ sinh
từ 1 – 2 con.
- Gia đình hạt nhân – chỉ có thế hệ bố mẹ cái
sống trong gia đình.
- Gia đình chỉ 1 vợ - 1 chồng theo quy định của
luật pháp.
- Vẫn được chú trọng, nhưng chỉ sinh 1 – 2 con
là chủ yếu (nhất là những gia đình ở thành thị).
- Đã giảm bớt giá trị con trai.
- Ngày càng được coi trọng hơn, nhưng gia đình
lại chú ý đến việc học hành của con cái trong
trường như thế nào.
- Quá trình xã hội hoá của đứa trẻ được diễn ra
nhanh hơn, được gia đình cho tiếp xúc với xã
hội, với các nhóm xã hội nhiều hơn: nhà trẻ, nhà
trường.
- Cả con gái và con trai đều được đi học.
Gắn với chức tiêu dùng nhiều hơn sản xuất.

- Cả hai vợ chồng tuy vẫn cùng chia sẻ với nhau
quan hệ vợ chồng – con cái.

“nghề gia truyền”, hay rộng hơn là thành làng
nghề.
- Chủ yếu làm nghề nông.
- Kinh tế nông nghiệp là chủ yếu.
- Kinh tế phụ thuộc vào thành viên chính
trong gia đình.

Kinh tế gia
đình

Tư tưởng, giá
trị - chuẩn
mực gia đình

Chu kỳ gia
đình

Theo tư tưởng Nho giáo là chủ đạo.
- Tình yêu đôi lứa trong sáng.
- Lòng chung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng.
- Trách nhiệm và sự hy sinh vô tận của cha
mẹ với con cái.
- Con cái hiếu thảo với cha mẹ.
- Con cháu kính trọng, biết ơn và quan tâm
tới ông bà, tổ tiên.
- Tình yêu thương, chăm lo và đùm bọc anh
em, họ hàng.
- Đề cao lợi ích chung của gia đình.
- Tự hào truyền thống gia đình, dòng họ.
- Vấn đề kết hôn: Tuổi kết hôn sớm (“Lấy

- Bình đẳng trong thừa kế.
- Không phân biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa
con trai – con gái, anh – em.
- Vấn đề kết hôn: tuổi kết hôn muộn hơn và kết
hôn theo quy định của pháp luật.
- Sinh con: gây nên những căng thẳng, sự thích
ứng bố mẹ của những cặp vợ chồng trẻ.
- Sinh hoạt vợ chồng được quan tâm nhiều. Là
vấn đề mà các cặp vợ chồng quan tâm.

* Những giá trị của văn hoá gia đình Việt Nam truyền thống cần được giữ gìn và phát huy:

Câu 9: Hãy trình bày về văn hoá làng xã truyền thống Việt Nam và tác động của nó đến lối sống và ứng xử
của người Việt xưa và nay.
1. Tổ chức hành chính của làng:
- Làng là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong các cấp của bộ máy chính quyền phong kiến.
- Bộ máy chính quyền làng xã gồm 3 tổ chức lồng vào nhau:
+ Dân hàng xã: gồm toàn bộ cư dân là nam giới từ 18 tuổi trở lên và là dân chính cư.
+ Hội đồng Kì mục: gồm những người có điền sản, vừa có chức vụ hay phẩm hàm, được dân làng xã cử lên, có
chức trách đề ra các chủ trương và biện pháp để làm tròn việc làng việc nước.
+ Lý dịch: là các chức vụ cấp xã của chính quyền phong kiến, đứng đầu là Lí trưởng, có chức trách thực hiện các
chủ trưởng của Hội đồng Kì mục để thực hiện công việc tự quản lí làng xã và thi hành các chiếu chỉ của triều đình.
2. Đặc trưng của văn hoá làng:
a. Tính cộng đồng:
- Lối sống định cư của cư dân nông nghiệp trồng trọt đã hình thành nên tính cộng đồng như một đặc trưng tiêu
biểu của văn hoá làng.
12


- Tính cộng đồng là sự liên kết, gắn bó chặt chẽ giữa các gia đình, gia tộc, giữa các thành viên trong làng với nhau

- Tác động tích cực:
+ Tạo nên nếp sống dân chủ bình đẳng và tính tập thể hoà đồng (Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ,…).
+ Tạo nên sự gắn bó, đoàn kết tương trợ, cưu mang đùm bọc lẫn nhau, là cơ sở tạo nên lối sống trọng tình – một
nét đẹp trong văn hoá ứng xử của người Việt (Tay đứt ruột đau; Chị ngã em nâng; Lá lành đùm lá rách;…)
- Tác động tiêu cực:
+ Tạo nên tư tưởng bè phái, “chủ nghĩa thân quen” (Rút dây động rừng; Đóng cửa bảo nhau;…).
+ Thói dựa dẫm, ỉ lại (Một người làm quan cả họ được nhờ; Nước nổi thì bèo nổi; Cha chung không ai khóc;
Lắm sãi không ai đóng cửa chùa,…).
+ Thói cào bằng, đố kị, thủ tiêu ý thức về con người cá nhân (Xấu đều hơn tốt lõi; Khôn độc không bằng ngốc
đàn; Chết một đống còn hơn sống một người,…).
+ Trọng tình, cả nể là nguyên nhân tạo nên lối ứng xử đặt tình cao hơn lí trí (Một bồ cái lí không bằng một tí cái
tình,….).
b. Tính tự trị:
- Tính tự trị là suự ứng xử trong mối quan hệ giữa làng này với làng khác.
- Do tính cố kết cộng đồng cao khiến cho mỗi làng trở thành một đơn vị độc lập, khép kín, co cụm lại trong không
gian khá biệt lập của mỗi làng, tạo nên tính chất tự trị, khép kín như một đặc trưng nổi bật của văn hoá làng.
* Cơ sở hình thành tính tự trị: Phương thức sản xuất nông nghiệp trồng trọt ở định cư và nền kinh tế tiểu nông tự
túc tự cấp là nguyên nhân tạp nên lối sống khép kín, tự trị, hướng nội của văn hoá làng.
* Biểu hiện của tính tự trị:
13


- Về không gian địa lí: cư dân của mỗi làng đều sống quần tụ trong một không gian khá biệt lập, bao quanh làng
là luỹ tre và cổng làng, khiến cho mỗi làng tồn tại như một “vương quốc” nhỏ, khép kín, làng nào biết làng ấy.
- Về kinh tế: mỗi làng tồn tại như một đơn vị kinh tế độc lập, có khả năng tự túc tự cấp nên không có nhu cầu
quan hệ giao thương với bên ngoài.
- Về mặt hành chính:
+ Mỗi làng có một bộ máy hành chính tự quản độc lập, có vai trò và chức năng giải quyết mọi việc trong làng.
+ Bộ hành chính của mỗi làng bao gồm:
 Hội đồng Kì mục: chức năng lập pháp.

 Kết luận:
- Từ 2 đặc trưng tiêu biểu của văn hoá làng đã sản sinh ra những ưu điểm và nhược điểm trong lối sống, thói
quen, tính cách của người Việt truyền thống.
- Những thói quen, tính cách trên, với cả hai mặt tốt và xấu đã ăn sâu trong tâm lí, tiềm thức, trong cách tư duy,
ứng xử của mỗi con người VN vốn gắn bó với máu thịt với làng quê, để rồi tuỳ từng hoàn cảnh mà mặt tốt hay xấu
sẽ được phát huy.
- Tính cộng đồng và tính tự trị là 2 đặc trưng cơ bản của văn hoá làng, có mối quan hệ hữu cơ, tác động biện
chứng, vừa là nguyên nhân vửa là hệ quả của nhau.
- Văn hoá làng từ ngàn năm nay đã thấm sâu vào trong tâm thức của người dân Việt. Mỗi người con của làng dù
sống xa quê đều mang nặng tình cảm máu thịt với làng xóm, quê hương.
- Nói đến làng ta nghĩ đến những hình ảnh quen thuộc, gắn bó thân thương như: mái đình, cây đa, bến nước, con
đê, ngôi chùa, góc miếu, bãi mía, nương dâu,…
- Văn hoá làng chính là cội người, là sức mạnh, cũng là nơi nuôi dưỡng, bảo tồn và gìn giữ các đặc trưng bản sắc
của văn hoá dân tộc, và cũng là cơ sở để hình thanh ý thức về quốc gia – dân tộc của người Việt.
14


- Tuy nhiê, những đặc trưng tiêu biểu trên đây của văn hoá làng được khái quát chủ yếu từ làng Việt Bắc Bộ với
bề bày lịch sử hàng ngàn năm.
- Đi vào Trung Bộ, cơ cấu làng Việt bắt đầu lỏng lẻo dần, tính tự trị khép kín theo đó mà mờ nhạt hơn.
- Đến Nam Bộ, tính chất mở hầu như đã hoàn toàn đẩy lùi tính tự trị, khép kín; theo đó là lối sống năng động, dễ
hoà nhập, thích nghi với cái mới.
Câu 10: Hãy phân tích mối quan hệ nhà – làng – nước trong văn hóa tổ chức cộng đồng của xã hội Việt Nam
truyền thống.
- Nhà – làng – nước là ba thực thể xã hội với ba cấp độ khác nhau về không gian kinh tế - xã hội nhưng lại có mối
liên quan liên kết chặt chẽ.
- Sự thống nhất giữa nhà – làng – nước đã tạo nên một sức mạnh lớn đưa đất nước Việt Nam vượt qua biết bao
thăng trầm của thời đại vẫn đứng vững sau nhiều cuộc xâm lược.
- Mối quan hệ nhà – làng – nước là mối quan hệ hữu cơ. Có làng mới có nước. Nước hình thành trên cơ sở làng.
Mọi người đều gắn bó với làng với nước. Xây dựng bảo vệ làng là xây dựng bảo vệ nước. Ngược lại chống lại làng

tính liên kết chặt chẽ với nhau nhưng xét về phương diện nào đó làng xã vẫn có tính độc lập tương đối với nhà
nước.
- Về tính tự trị:
+ Làng vẫn giữ được tính tự trị đặc thù của mình thông qua việc lập hương ước trong suốt quá trình lịch sử làng
xã vẫn giữ được tính tự trị nhất định.

15


+ Tính tự trị không có nghĩa là làng hoàn toàn độc lập với nhà nước. Thực ra giữa làng xã và nhà nước truyền
thống có mối liên kết vô cùng chặt chẽ chính mối liên kết này là nhân tố dẫn đến sự hình thành nhà nước Việt Nam
trong lịch sử.
+ Trong tâm thức của người Việt Nam làng bao giờ cũng gắn với nước và ngược lại. Do đó mà trong lịch sử các
đơn vị trung gian giữa làng và nước thì luôn luôn thay đổi còn tổ chức của làng thì vẫn luôn được giữ nguyên.
+ Hương ước tạo nên tính tự trị của làng xã. Nhưng mặt khác chính nội dung hương ước cũng có các điều khoản
quy định nghĩa vụ của làng xã với nhà nước. Như vậy từ lệ làng ý thức cộng đồng làng xã đã phát triển thành ý thức
quốc gia dân tộc.
+ Thành ngữ "phép vua thua lệ làng" thường được dùng để nói làng Việt có sự độc lập với chính quyền TW.
Làng ̣được xem có tính tự trị khép kín độc lập là một vương quốc nhỏ trong vương quốc lớn.
+ Tính tôn ti trong trật tự của các dòng tộc đã dẫn đến mặt trái của nó là tâm lý gia trưởng trọng nam khinh nữ và
đặc biệt là tâm lý địa phương cục bộ → Tạo rào cản rất lớn trong quá trình hội nhập của người nông dân Việt.
+ Làng xã Việt Nam như một vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (hương ước) tạo nên một sự cố kết bền
vững của làng xã và cũng đã tạo nên tâm lý bè phái địa phương ích kỷ.
+ Với hương ước sự cố kết trong cộng làng xã tăng lên nhưng có thể làm giảm tính liên kết giữa làng xã và nhà
nước bản thân làng xã có sự "độc lập tương đối" với các đơn vị xã hội khác.
- Về tính cộng đồng:
+ Các yếu tố như chợ làng các sinh hoạt văn hóa tôn giáo lễ hội cũng tạo ra mối liên hệ vùng và trong toàn quốc.
Mọi nhà mọi làng xã trong cả nước ta đều có chung một tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
+ Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã tạo nên tín ngưỡng thờ các vua Hùng - tổ tiên lớn nhất của dân tộc. Chính
việc thờ các vua Hùng đã thắt chặt thêm mối liên kết nhà – làng – nước trong lịch sử dân tộc.



* Bối cảnh lịch sử:
- 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược VN, sau đó lần lượt đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ rồi đánh ra Bắc Bộ.
- 1883, triều đình Nguyễn kí hiệp ước với Pháp tại Huế, thừa nhận quyền thống trị của thực dân Pháp trên toàn
lãnh thổ VN.
- Qua 2 lần khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (lần thứ nhất từ 1897 đến trước đại chiến thế giới thứ nhất
1914; lần thứ hai từ 1920 – 1930), xã hội phong kiến VN đã trải qua những thay đổi có tính bước ngoặc.
* Đặc điểm văn hoá:
- Văn hoá vật chất:
+ Sự phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông:
 Với mục đích khai thác tài nguyên của nước thuộc địa, thực dân Pháp chú trọng vào việc phát triển đô thị,
công nghiệp và giao thông.
 Đầu thế kỉ XX, Hà Nội đã trở thành một đô thị sầm uất, tập trung các nhà máy, sở giao dịch và các trụ sở công
ty. Ngoài tính chất là một trung tâm chính trị - văn hoá, Hà Nội đã bắt đầu mang dáng dấp khá rõ nét của một trung
tâm công – thương nghiệp.
 Hải Phòng trở thành hải cảng lớn ở Đông Dương.
 Ở phía Nam, Sài Gòn – Chợ Lớn cũng trở thành một đô thị công – thương nghiệp khá sầm uất.
 Nhiều thành phố và thị trấn cũng dần dần phát triển (Nam Định, Hải Dương, Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Biên
Hoà, Mỹ Tho,…).
 Công nghiệp khai thác than phát triển mạh với sự ra đời của những khu khai thác mỏ lớn nhu Hồng Gai, Cẩm
Phả - đó là những cơ sở đầu tiên của ngành công nghiệp VN.
 Để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp rất chú trọng phát triển của giao thông (hệ thống
đường bộ liên tỉnh dài khoảng 20.000 km; năm 1919 đã có hệ thống đường sắt dài tổng cộng trên 2.000 km).
+ Sự du nhập của văn minh vật chất phương Tây:
 Sự du nhập các phương tiện giao thông hiện đại: các loại xe có động cơ (ô tô, tài điện, tàu lửa, tàu thuỷ, xuồng
máy,…).
 Kiến trúc nhà cửa ở thành thị thay đổi theo kiểu nhà Tây: nhà nhiều tầng, nhà biệt thự,…
 Về trang phục: ở đô thị, nam giới bắt đầu mặc đồ Âu phục (sơ mi, quần Tây, complet); áo dài tứ thân của nữ
giới được cải tiến thành áo dài tân thời, kết hợp được một cách hài hoà giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại.

trương vận động cách tân. Tác phẩm “Văn minh tân học sách”, họ nêu lên 6 yêu cầu của việc cải cách: dùng chữ
Quốc ngữ, hiệu đính sách vở, sửa đổi phép thi, cổ vũ nhânn tài, chấn hưng công nghệ, phát triển báo chí.
 Tư tương dân chủ tư sản: là tư tưởng của tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, thị dân, tri thức Tây học tiếp thu được từ
phương Tây. Tư tưởng này hoàn toàn đối lập với tư tương tiểu nông và tư tưởng Nho giáo đã từng tồn tại hàng ngàn
năm trong nếp sống của người nông dân VN. Sự đối lập này được thể hiện trên nhiều phương diện:
 Ý thức về vai trò cá nhân được nâng cao, đối lập với ý thức cộng đồng của văn hoá làng xã.
 Sự đề cao văn minh vật chất, đối lập với truyền thống đề cao các giá trị tinh thần của văn hoá Nho giáo và lối
sống của cư dân nông nghiệp.
 Đề cao tri thức khoa học và lối tư duy phân tích, đối lập với truyền thống coi trọng kinh nghiệm chủ quan
cảm tính và lối tư duy tổng hợp biện chứng của cư dân nông nghiệp; khoa học kĩ thuật đang dần trở thành những tri
thức chiếm ưu thế so với các luận thuyết đạo đức, chính trị của nền giáo dục Nho giáo.
 Lối sống cởi mở, năng động cuả đô thị và tầng lớp thị dân đối lập với tính tự trị, khép kín, thụ động, bảo thù
của văn hoá làng xã.
 Tư tưởng Mac – Lenin: được truyền bá vào VN qua con đường hoạt động bí mật của nhà cách mạng yêu nước
Nguyễn Ái Quốc và các đảng viên Cộng sản.
 Trong 3 luồng tư tưởng đó, tư tưởng dân chủ tư sản có nhiều ưu thế hơn cả, gây ảnh hưởng mạnh mẽ và tác
động trực tiếp vào tư tưởng và lối sống của cư dân thành thị, tư đây bắt đầu làm rạn nứt hệ giá trị đã định hình ổn
định trong văn hoá truyền thống.
 Vào những thập niên đầu thế kỉ XX, hệ giá trị của văn hoá truyền thống đã dần bị mai một bởi sự hình thành
của một hệ giá trị mới mang nội dung dân chủ tư sản.
+ Ngôn ngữ:
 Sự ra đời của chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm đã tạo nên những biến đổi toàn diện trong bộ
mặt văn hoá tinh thần của xã hội.
 Chữ Quốc ngữ dùng chữ cái Latinh để ghi âm tiếng Việt, được hình thành vào thế kỉ XVII, do nhu cầu truyền
đạo của các giáo sĩ phương Tây.
 Đến những năm 60 của thế kỉ XIX, chữ Quốc ngữ vẫn chỉ được dùng phổ biến trong nội bộ đạo Thiên Chúa để
in kinh sách. Khi người Pháp chiếm được Nam Kì, chữ Quốc ngữ mới bắt đầu được dạy trong các trường học.
 Sự kiện chữ Quốc ngữ ra đời thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình
văn hoá VN, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc hội nhập văn hoá VN vào nền văn hoá hiện đại của nhân loại.
 Báo chí Quốc ngữ ra đời và phát triển nhanh chóng (báo Nông Cổ Mín Đàm, Gia Định báo, Phan Yên báo,

 Nhận xét:
- Trong khoảng thời gian gần 100 năm (1858 – 1945), văn hoá VN đã trải qua một “sự đứt gãy lịch sử” chưa từng
có với sự thay đổi toàn diện bộ mặt văn hoá xã hội từ thành thị đến nông thôn; từ văn minh lúa nước sang văn minh
công nghiệp; từ ăn mặc, ở đến các phương tiện giao thông; từ chữ Hán, chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ; từ thơ Đường
sang thơ Mới, từ văn vần sang văn xuôi, tiểu thuyết; từ tư tưởng Nho giáo sang tư tưởng dân chủ tư sản → Tất cả
đều hướng vào quỹ đạo hội nhập với thế giới phương Tây.
- Khó có thể chỉ ra một cách đầy đủ những chuyển biến mạnh mẽ của nền văn hoá VN trong cuộc tiếp xúc với văn
hoá phương Tây. Tuy nhiên, một số điều có thể khẳng định là, trải qua bước ngoặt lịch sử này, bản sắc văn hoá dân
tộc chẳng những không bị mất đi mà còn chứng tỏ tính linh hoạt, dung chấp trong việc thu nạp những yếu tố
văn hoá ngoại sinh để không ngừng làm giàu có thêm trong quá trình hội nhập với văn hoá hội nhập.
b. Tiếp xúc với văn hoá Mỹ:
* Bối cảnh lịch sử:
- 1954 – 1975, đế quốc Mỹ gây chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.
- Nền kinh tế, văn hoá xã hội ở Miễn Nam phát triển theo con đường TBCN.
* Đặc điểm văn hoá:
- Ưu điểm: nền kinh tế hàng hoá phát triển, theo đó là lối sống năng động, cởi mở, dễ hoà nhập, phát huy khả
năng sáng tạo của cá nhân.
- Nhược điểm: coi trọng văn minh vật chất, nặng nề lối sống thực dụng, đề cao chủ nghĩa cá nhân và lối sống tự
do, phóng túng.
c. Tiếp xúc với văn hoá Liên Xô và các nước Đông Âu:
- Cuộc giao lưu diễn ra ở miền Bắc XHCN, đây là cuộc giao lưu văn hoá với tính chất chủ động, theo địn hướng
XHCN, thông qua con đường hợp tác, giúp đỡ, trao đổi kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học (gửi sinh viên và cán
bộ đi học ở nước ngoài; chuyên gia nước ngoài sang giúp VN).
- Về kinh tế, văn hoá, khoa học, giáo dục ở miền Bắc đã có những phát triển quan trọng, ngày càng hội nhập với
thế giới hiện đại.
- Tuy nhiên, do không mở rộng quan hệ giao lưu với các nước ngoài hệ thống XHCN, cùng với nền kinh tế bao
cấp đã tạo nên sự trì tuệ về kinh tế, cứng nhắc, bảo thủ trong tư duy, đơn điệu về văn hoá.
2. Sự thay đổi nền tảng kinh tế - xã hội:
a. Tác động của văn hoá truyền thống đôí với sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá:
* Thuận lợi: Quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ vượt qua thiên tai và địch hoạ đã hun đúc nên những giá trị

- Thông qua các tổ chức quốc tế và khu vực này, nước ta đã chủ động tạo quan hệ để liên kết các giá trị khu vực,
từng bước hội nhập với thế giới.
* Tác động tích cực:
- Về văn hoá vật chất: Góp phần kích thích sự cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển khoa học kĩ thuật, làm tăng tốc
độ phát triển kinh tế, tăng mức sống của cư dân, rút ngắn thời gian để theo kịp sự phát triển của thế giới nhờ việc áp
dụng kinh nghiệm và khoa học công nghệ hiện đại của thế giới.
- Về văn hoá tinh thần:
+ Trong giao lưu toàn cầu hoá, cư dân văn hoá nông nghiệp lúa nước VN được tiếp xúc với các nền văn hoá
phong phú, có điều kiện để hưởng thụ các sản phẩm văn hoá đa dạng của nhân loại.
+ Tạo ra môi trường để cọ xát giữa văn hoá truyền thống với những giá trị văn hoá mới của nhân loại, đó là con
đường để đào thải những đặc trưng văn hoá dân tộc đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp với thời hiện đại.
+ Đồng thời qua giao lưu văn hoá với thế giới, nền văn hoá truyền thống VN sẽ được bổ sung, làm giàu thêm bởi
những giá trị văn hoá tiên tiến của nhân loại.
* Tác động tiêu cực:
- Toàn cầu hoá với nền kinh tế thị trường cạnh tranh lạnh lùng vì lợi nhuận dẫn tới nguy cơ làm xói mòn những
giá trị truyền thống của dân tộc (lối sống trọng tình, sự bền vững của gia đình và tính ổn định của xã hội,…).
- Toàn cầu hoá kinh tế sẽ mang lại sự hưởng thụ các giá trị vật chất, theo đó là văn hoá tiêu dùng, văn hoá hưởng
thụ, là khái vọng làm giàu, lối sống ăn chơi sa đoạ, bạo lực, thực dụng, tác động đến lối sống giản dị, cần kiệm của
người VN truyền thống.
- Tính cộng đồng như một giá trị tốt đẹp của văn hoá làng xã đang chịu thử thách mạnh mẽ trước làn sóng đô thị
hoá. Các quan hệ gia đình lỏng lẻo dần, sự phân hoá trong tư duy, lối sống, cách ứng xử giữa các vùng miền, các
tầng lớp dân cư, các thế hệ.
- Trong giai đoạn hiện nay, văn hoá VN đang ở buổi giao thời, khi các giá trị truyền thống đang bị khủng hoảng,
nhiều cái cũ đã tỏ ra lỗi thời, trong khi cái mới được du nhập ồ ạt mà chưa được thẩm định bởi thời gian nên chưa
định hình những chuẩn mực mới.
→ Không tránh khỏi những hiện tượng xô bồ, đan xen về văn hoá, trong đó tốt – xấu lẫn lộn, tệ nạn xã hội lan
tràn, hó kiểm soát, thậm chí có lúc, có nơi, cái xấu nổi trội, lấn át cái tốt.
- Đặc biệt, đối với tầng lớp thanh niên luôn vồ vập với cái mới thì càng khó định vị một chuẩn mực sống cho phù
hợp, đó cũng là những nguyên nhân trực tiếp đẻ ra các loại tội phạm trong thanh niên – một thực trạng đáng báo
động hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status