Đại Cương Văn Hóa Việt Nam – N02
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm
ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc
giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển
Đông và Thái Bình Dương. Trải qua hàng nghìn năm, nền nông nghiệp lúa
nước, lối sống quần cư và công cuộc dựng nước và giữ nước đầy gian khổ đã tạo
nên một nền văn hóa Việt Nam giàu bản sắc và tính cách đặc trưng của con
người Việt Nam là cần cù, chịu khó, giàu lòng yêu nước, đoàn kết, bao dung,
rộng mở và dễ hòa nhập. Một trong những nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam
đó chính là những di sản văn hóa thế giới đã được UNESCO công nhận.
* Các di sản văn hóa.
Tại Việt Nam hiện đã có 7 di tích được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa
thế giới:
Di sản vật thể:
Quần thể di tích Cố đô Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam. Trong gần 400 năm
Huế đã từng là trung tâm chính trị, văn hóa của nhà nước phong kiến Việt Nam,
Huế nổi tiếng với một hệ thống những đền, chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến
trúc hết sức nguy nga tráng lệ gắn liền với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng. Bên
cạnh đó, là một trung tâm quan trọng của Ðạo Phật.Là thành phố duy nhất trong
nước vẫn còn giữ được dáng vẻ của một thành phố thời Trung cổ và nguyên vẹn
kiến trúc của một nền quân chủ. Huế đã trở thành một bảo tàng lớn và vô giá.
Chính vì vậy, vào tháng 12 năm 1993 Huế đã được UNESCO xếp hạng là di tích
văn hóa thế giới.
Phố cổ Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn, là một khu vực phố cổ trong thành
phố Hội An,là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á, một trong những
trạm đỗ chính của thương thuyền vùng Viễn Ðông. Đến nay khu phố cổ Hội An vẫn
bảo tồn gần như nguyên trạng một quần thể di tích kiến trúc gồm nhiều loại hình như: nhà ở,
1
Đại Cương Văn Hóa Việt Nam – N02
hội quán, đình chùa, miếu, giếng, cầu, nhà thờ tộc, bến cảng, chợ... kết hợp với đường giao
thông ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểu bàn cờ, mô hình phổ biến của các đô thị thương
Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản
văn hóa phi vật thể năm 2009, là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc
Bộ, Việt Nam.Quan họ Bắc Ninh được Hội đồng chuyên môn của UNESCO
đánh giá cao về giá trị văn hóa đặc biệt, về tập quán xã hội, nghệ thuật trình
diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả về trang
phục. Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng
dân ca Việt Nam. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng.
Hát ca trù hay hát ả đào là một bộ môn nghệ thuật truyền thống của miền Bắc
Việt Nam kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ
XV, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và học giả yêu
thích. Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có
tính cách văn học cao. Ca trù có cội nguồn từ lối hát cửa đình, một lối hát tín
ngưỡng thờ thành hoàng.Ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi
vật thể - ngày 01/10/2009.
* Vai trò của các di sản đó trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Các di sản văn hóa là thành quả của thế hệ trước từ bao đời nay. Đã có rất
nhiều mồ hôi, xương máu đổ xuống nơi đây để có những di sản vô giá mà hôm
nay chúng ta thừa hưởng. Nhân dân ta coi những di sản ấy là những của quý, vô
giá mà ông cha để lại. Có thể tìm trong đó trí tuệ và tài năng, tâm hồn và khí
phách của ông cha từ những đền đài, lăng miếu, những công cụ sản xuất, sản
phẩm lao động, những tác phẩm khoa học, văn học nghệ thuật. Có thể tìm ở đó
cả cuộc sống của ông cha qua trường kỳ lịch sử, có thể lắng nghe ở đây tiếng nói
3
Đại Cương Văn Hóa Việt Nam – N02
của ông cha, những bài học ứng xử, trong mọi hoàn cảnh đầy gian nan thử
thách. Trong những di sản văn hóa có một sức mạnh tinh thần vô tận.
Di sản văn hóa là vốn quý của dân tộc, chứa đựng những tiềm năng to lớn về
sức mạnh của tâm hồn và khí phách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là một thử thách lớn đối với dân tộc ta.