-1-
A/ PHẦN MỞ ĐẦU :
1. Lí do chọn đề tài :
Luật Phổ cập giáo dục khẳng định “Giáo dục Tiểu học là điều kiện cơ bản
để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ
em trở thành công dân tốt của đất nước”;
“Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống quốc dân, có nhiệm
vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo đức trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của
trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Để đạt được những vấn đề nêu trên đòi hỏi mỗi chúng ta - những người làm
công tác giáo dục cần trước tiên làm tốt công tác phổ cập giáo dục và đặc biệt là
Phổ cập giáo dục đúng độ tuổi ( PCGDTHĐĐT). Đặc thù của công tác
PCGDTHĐĐT là nâng cao chất lượng, chú trọng điều kiện phục vụ dạy học và đội
ngũ giáo viên, đảm bảo vững chắc cho chất lượng và hiệu quả giáo dục. Vì vậy,
công tác này là nhiệm vụ hàng đầu, then chốt, xuyên suốt trong quá trình thực hiện
các mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Với thực trạng địa phương xã EaWy nói chung và trường Tiểu học EaWy
nói riêng thì việc làm công tác PCGDTHĐĐT vô cùng khó khăn, là chặng đường
dài đầy gian nan, thử thách . Vì thế chúng ta cần làm việc này thường xuyên, liên
tục, không được chủ quan, lơ là và cần tìm ra những giải pháp thích hợp để từng
bước tháo gỡ những khó khăn và dần hoàn thành công tác này mang tính ổn định,
bền vững, tạo tiền đề tốt cho việc nâng cao chất lượng toàn diện trong nhà trường
nhằm đáp ứng được những nhu cầu, xu thế mới của xã hội.
Bản thân công tác trong ngành đã được 15 năm nhận thấy rằng “Muốn phát
triển bền vững ngay từ bậc học nền tảng thì nhất quyết phải thực hiện bằng
được mục tiêu PCGDTHĐĐT, cần phải tìm mọi giải pháp để nâng cao chất
lượng cũng như bảo đảm sự chăm chỉ, chuyên cần của học sinh”.
Công tác phổ cập của địa phương qua rất nhiều biến đổi thăng trầm, có
nhiều đồng chí Cán bộ quản lí, Giáo viên chuyên trách trên địa bàn có nhiều trăn
- Tập thể giáo viên, học sinh trường tiểu học EaWy.
- Cha mẹ học sinh và các đoàn thể xã hội tại địa phương.
- Phương pháp quản lí, chỉ đạo của nhà trường.
- Các phương pháp – hình thức tổ chức dạy học trên lớp của giáo viên.
- Hệ thống hồ sơ nhà trường và hồ sơ, bảng biểu công tác phổ cập.
- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác Phổ cập của ngành.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Nghiên cứu về cách thức chỉ đạo làm công tác phổ cập GDTH đúng độ tuổi.
- Nghiên cứu về công tác điều tra, thống kê số liệu của các tổ điều tra.
- Nghiên cứu về môi trường sống, môi trường giáo dục học sinh trong và ngoài
nhà trường.
5. Phương pháp nghiên cứu :
- Điều tra, thống kê.
- Phân tích, tổng hợp.
- Lập luận, thực nghiệm.
- Quan sát, phân loại.
B/NỘI DUNG
I. Đặc điểm tình hình:
1. Đặc điểm tình hình chung
Trường tiểu học Ea Wy cách trung tâm huyện 25km về hướng Tây Bắc, với
đặc thù là một xã vùng hai, trường có tỷ lệ học sinh dân tộc chiếm 86,9%, địa bàn
quản lí tương đối rộng gồm 7 thôn, dân cư sống rải rác không tập trung .Tình hình
chính trị, an ninh trật tự trên địa bàn tương đối ổn định. Đời sống kinh tế của địa
phương những năm gần đây ngày có chiều hướng phát triển. Người dân chủ yếu
sống bằng nghề nông, cây trồng chủ yếu là cà phê và một số cây hoa màu ngắn
ngày khác như đậu, ngô, sắn… Dân cư trên địa bàn chủ yếu là các dân tộc thiểu số
ở phía Bắc chuyển vào.
Cơ sở vật chất của trường còn thiếu phòng như: các phòng giáo dục nghệ
thuật, sân chơi bãi tập đúng qui cách...
II. Thực trạng công tác Phổ cập giáo dục đúng độ tuổi:
1. Công tác điều tra, cập nhật số liệu:
Hàng năm, các tổ điều tra đã tiến hành điều tra, thống kê số liệu theo phiếu và
chuyển về Bộ phận chỉ đạo công tác phổ cập của nhà trường. Tuy nhiên, số hộ nhà
dân nằm rải rác và ở xa địa bàn rất nhiều, cán bộ điều tra đến nhà nhiều khi không
gặp được chủ hộ hoặc chỉ gặp được một số cụ già và em nhỏ nên việc thu thập
thông tin nhiều khi thiếu chính xác. Thực tế số liệu và các diễn giải trong phiếu có
nhiều nội dung thiếu chính xác, các thông tin giữa hồ sơ học sinh ở nhà trường và
phiếu điều tra phổ cập không khớp nhau nên rất khó khăn cho việc làm hồ sơ.
-4-
Ngoài ra còn tồn tại những trường hợp như một số em có tên trong cả hai phiếu
điều tra ở hai hộ khác nhau, thậm chí hai thôn khác nhau ( Do ông nội làm chủ hộ
sau đó tách hộ thì con trai làm chủ hộ ở một khẩu khác), hoặc có nhiều em tên
trong phiếu điều tra và tên trong hồ sơ nhà trường khác nhau …
Kinh nghiệm của cán bộ làm công tác điều tra còn hạn chế, thậm chí có một
số tổ điều tra thiếu tình thần trách nhiệm hoặc lười biếng, ỷ lại. Họ không tận tình
đến tận hộ gia đình để điều tra mà chỉ điều tra qua hệ thống hồ sơ nhân khẩu được
lưu trữ ở tại các thôn buôn hay thống kê trình độ văn hóa của đối tượng trẻ bằng
cách tịnh tiến số tuổi, số lớp theo năm học cho nên không cập nhật được những số
liệu mới và có những thông tin thiếu chính xác.
Mặt khác, cán bộ chính quyền địa phương và các đoàn thể mặc dù đã có nhiều
quan tâm chỉ đạo công tác phổ cập giáo dục của địa phương, song cũng mới chỉ tập
trung quan tâm về xây dựng cơ sở vật chất. Kinh nghiệm chỉ đạo, lãnh đạo về giáo
dục tại địa phương còn hạn chế nhất định như công tác điều tra, vận động, phối hợp
với gia đình để giáo dục học sinh ... Tất cả vấn đề nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ
thời đại; các thiết bị giảng dạy phục vụ dạy – học còn thiếu về số lượng và chưa
đảm bảo về chất lượng.
Điều kiện của đội ngũ cán bộ giáo viên vẫn còn nhiều khó khăn. Trình độ tay
nghề của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, một số tay nghề còn yếu; việc tiếp cận
phương pháp dạy học mới của giáo viên chưa nhanh nhạy, linh hoạt dẫn đến hiệu
quả chưa cao.
Khả năng lập kế hoạch hoạt động hoàn thành các mục tiêu phổ cập giáo dục
của đội ngũ còn nhiều bất cập do chưa thực sự nắm vững yêu cầu và các tiêu chí
cũng như tự đề ra các giải pháp thích hợp cho công tác này.
4. Công tác xây dựng Cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị:
Những năm gần đây nhà trường đã được đầu tư xây dựng khá nhiều, cơ bản
đã đáp ứng được nhu cầu học tập tối thiểu cho học sinh. Trường học được xây dựng
khá khang trang, có tường rào và hệ thống cây xanh được sắp xếp hợp lí, có sân
chơi tương đối rộng rãi, thoáng mát. Đã có khu vệ sinh dành cho học sinh, có
nguồn nước sạch phục vụ cho các sinh hoạt cơ bản. Có phòng y tế, phòng thư viện
và thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học. Tuy nhiên chất lượng và hiệu quả sử
dụng của các phòng này còn nhiều hạn chế do công tác quản lý, điều hành chưa
khoa học, năng lực của nhân viên còn yếu. Ngoài ra, số bàn ghế ngồi học và hệ
thống sân chơi, bãi tập chưa đúng qui cách cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng dạy- học của nhà trường.
5. Hệ thống hồ sơ sổ sách phục vụ công tác PCGDTHĐĐT:
Nhìn chung, hệ thống hồ sơ lưu trữ về công tác phổ cập của nhà trường của
những năm trước có nhưng thực sự chưa đủ về số lượng, yếu về chất lượng và các
số liệu thông tin như đã nói ở trên còn nhiều bất cập, thiếu độ tin cậy do chưa có
những biện pháp thực hiện phù hợp và khoa học. Các nội dung trong hồ sơ phổ cập
và hồ sơ nhà trường có nhiều điểm không đồng nhất như tên học sinh; năm sinh;
nơi ở; số lượng học trong trường và học ngoài trường với số lượng có trong thực
tế. Ngoài ra khi lập các biểu mẫu thống kê thường lúng túng không hiểu rõ ý đồ
của bảng biểu nên dễ dẫn đến làm sai. Bởi vậy, khi thực hiện việc hệ thống hồ sơ sổ
sách, lập các bảng biểu hầu hết mọi người có cảm giác “sợ” và thường dễ lẫn lộn,
DANH SÁCH TRẺ 6 TUỔI VÀO LỚP 1
NHÓM ĐIỀU TRA : … THÔN : …
STT
1.
HỌ VÀ TÊN
NĂM SINH
CON ÔNG BÀ ( NGƯỜI ĐỠ ĐẦU)
HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH
NGUYỄN VĂN B
2004
NGUYỄN VĂN A
Hộ nghèo
2. TRẦN THỊ C
2004
TRẦN VĂN D
Khuyết tật
3. NÔNG VĂN E
Thực hiện cam kết duy trì sĩ số đến từng GVCN ngay từ đầu năm học. Nếu
có hiện tượng bỏ học, trốn học, GVCN cần đến ngay gia đình để tìm hiểu nguyên
nhân, cùng gia đình tìm ra giải pháp giúp các em tiếp tục đến trường. Bên cạnh
những tác động của gia đình, xã hội thì chính phương pháp dạy học của giáo viên
và môi trường học tập có tác động rất lớn đến khả năng chuyên cần của trẻ. Nhà
trường cần thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa vui tươi, bổ ích để thu
hút trẻ đến trường như : Sân chơi trí tuệ, Rèn luyện kĩ năng sống, trò chơi dân gian,
tìm hiểu thế giới xung quanh em, Thi tiếng hát dân ca… Ngoài ra chú trọng xây
dựng khuôn viên trường sạch đẹp, thoáng mát, xây dựng các mối quan hệ thân
thiện, cởi mở giúp trẻ thực sự thoải mái và cảm nhận được niềm vui khi đến
trường.
b, Nâng cao chất lượng giáo dục:
+ Giáo viên:
Từng bước tham mưu với các cấp bổ sung đội ngũ giáo viên đảm bảo về số
lượng để dạy đủ các môn theo chương trình giáo dục tiểu học đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi để các bộ giáo viên được tham gia các lớp nâng chuẩn đáp ứng nhu
cầu giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Đánh giá đúng vai trò của đội ngũ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục,
giúp họ nhận thức đầy đủ và có chiều sâu tác dụng của công tác PCGDTHĐĐT đối
với sự nghiệp giáo dục. Chú trọng phân công giáo viên đứng lớp theo năng lực, sở
trường của từng người giúp họ có thể phát huy tối đa khả năng của bản thân trong
việc dạy học.
Nhà trường cần chăm lo bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ, xây
dựng tổ chức các chuyên đề dạy học thiết thực, phù hợp với khả năng của giáo viên
và đối tượng học sinh. Thường xuyên trao đổi, bàn bạc , đưa ra những kinh nghiệm
quí trong giảng dạy. Bản thân là một quản lí chuyên môn tôi luôn luôn tìm tòi, học
hỏi, nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản, những phương pháp dạy học hiện
đại để có thể góp ý, tư vấn thêm cho đội ngũ.
Tăng cường vai trò khối tổ trong quản lí chuyên môn. Đổi mới nội dung, hình
học sinh và nhân rộng điển hình trong toàn trường.
Tổ chức tốt các hoạt động thư viện như cho mượn sách, tăng đầu sách tham
khảo và truyện đọc cho học sinh nhằm làm phong phú vốn ngôn ngữ và vốn sống
cho học sinh giúp các em học tập tốt hơn.
Thực hiện giảng dạy hòa nhập theo qui định về giáo dục hòa nhập cho HS
khuyết tật của BGD&ĐT( Quyết định số 23/2006). Giao việc phân loại học sinh
khuyết tật cho GVCN để có biện pháp dạy học thích hợp, giảm sĩ số ở những lớp
có học sinh khuyết tật.
3.Công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất:
Mạng lưới trường lớp được qui hoạch sắp xếp phù hợp, tận dụng nguồn kinh
phí hỗ trợ từ các cấp đầu tư xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu
cầu cơ bản cho hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Tranh thủ sự ủng hộ từ địa phương và phụ huynh học sinh trong công tác đầu
tư, cải tạo khuôn viên nhà trường ngày càng khang trang.
Bê tông hóa sân trường, cải tạo lối đi, trồng hoa, cỏ, cây cảnh theo định
hướng chuẩn.
Đầu tư xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh dành cho giáo viên và học sinh, xây
dựng sân chơi bãi tập đúng qui cách... . Có đủ hệ thống nước sạch trong các sinh
hoạt cơ bản ở trường.
Từng bước vận động phụ huynh đóng góp mua bàn ghế đúng qui cách, trang
trí lớp học tích cực , tạo được sự thoải mái cho học sinh khi vào lớp.
Nâng cấp hệ thống thư viện, nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ thư
viện, tổ chức tốt việc cho mượn và sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học có hiệu quả và
thường xuyên. Tổ chức các hoạt động đọc sách báo cho HS trong toàn trường.
Đầu tư có chất lượng các phòng chức năng của nhà trường như Phòng hoạt
động đội, phòng giáo dục nghệ thuật, Phòng truyền thống và phòng đọc, phát huy
tác dụng của các phòng này trong việc giáo dục ý thức truyền thống, lòng tự hào
dân tộc, kĩ năng sinh hoạt và làm giàu thêm vốn sống cho HS.
việc làm PCGDTHĐĐT nếu không có sự cộng tác tích cực từ các đoàn thể ngoài xã
hội và từ phía cha mẹ học sinh thì nhà trường khó có thể đạt được những mục tiêu
mà Giáo dục phổi cập đúng độ tuổi đề ra. Trong thực tế chúng tôi đã thực hiện các
biện pháp phối hợp như sau:
- Phát huy tối đa vai trò, chức năng nhiệm vụ của chính quyền đoàn thể địa
phương, Ban đại diện CMHS. Tích cực huy động sự tham gia phối hợp, cộng đồng
trách nhiệm của chính quyền, lực lượng đoàn thể xã hội, các nhà hảo tâm…góp
công sức cùng tham gia thực hiện nhiệm vụ Phổ cập giáo dục.
- Chủ động phối hợp với các ban ngành, đoàn thể trong xã hội làm tốt công
tác tuyên truyền các nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục. Phát huy vai trò các thôn buôn
( đặc biệt là trưởng thôn) trong việc vận động trẻ đến trường và giúp cho cán bộ
điều tra làm tốt công tác cập nhật các số liệu trong phiếu điều tra.
- Chính quyền địa phương thường xuyên đôn đốc các cấp các ngành thực
hiện có chiều sâu về công tác PCGDTH ĐĐT. Các thành viên trong Ban chỉ đạo
- 10 -
phổ cập hoạt động tích cực, linh hoạt. tổ chức họp thường kỳ lấy ý kiến xây dựng
kế hoạch cho cả năm.
- Giáo viên chủ nhiệm phải phối hợp với gia đình – xã hội vận động duy trì
sĩ số, hạn chế tỉ lệ học sinh bỏ học và ngăn chặn kịp thời học sinh có dấu hiệu bỏ
học, chán học.
- Chủ động đề xuất với các cấp để quyên góp, giúp đỡ học sinh nghèo, mồi
côi, khuyết tật bằng cách tặng học bổng, quần áo để các em yên tâm học tập tốt.
- Phối hợp với phụ huynh quản lí nề nếp, giờ giấc học tập, sinh hoạt ở nhà
để xây dựng cho trẻ có động cơ học tập đúng đắn. Thường xuyên thông tin liên lạc
với Phụ huynh học sinh về tình hình học tập của con em để có những kèm cặp, giúp
đỡ kịp thời.
- Ban thông tin văn hóa xã luôn phối hợp với Ban chỉ đạo phổ cập để có kế
- 11 -
Đây là một trong những công việc hết sức quan trọng vì từ hệ thống hồ sơ này sẽ
có đầy đủ số liệu, các hồ sơ liên quan để làm cơ sở minh chứng cho việc kiểm tra,
xây dựng kế hoạch hàng năm và từng giai đoạn đồng thời có thể làm tư liệu để đề
xuất những tham mưu cho công tác phổ cập với quản lí nhà trường hay Ban chỉ đạo
phổ cập cấp trên.
Tất cả những thông tin ở các loại hồ sơ này phải trùng khớp, chính xác. Chúng
như sợi dây chuyền nhiều mắc xích, không được làm hư một mắc xích nào bởi nếu
chủ quan, lơ là thì không bao giờ hoàn thành được công tác thống kê. Cụ thể:
a, Sổ tuyển sinh: Sổ được thể hiện những nội dung như mẫu của sổ đăng bộ.
Mẫu:
Số
TT
Họ và tên
DANH SÁCH TUYỂN SINH LỚP 1
Năm học: ….. - …..
Nam/
nữ
Ngày tháng
năm sinh
Nơi
sinh
sạch sẽ, rõ ràng, không được tẩy xóa.
c, Sổ ghi danh sách học sinh trong toàn trường:
Sổ này rất quan trọng vì nội dung thông tin trong sổ cần chính xác tuyệt đối,
dùng để đối chiếu, chỉnh sửa các thông tin trong phiếu điều tra.
Ngay từ khi định biên lớp và phân công giáo viên chủ nhiệm, nhà trường giao
mẫu này cho từng lớp và yêu cầu các giáo viên cần đối chiếu hồ sơ của học sinh và
sổ hộ khẩu để nhập chính xác các thông tin này. Trong thực tế thường gặp một số
- 12 -
sai sót như thơng tin trong giấy khai sinh khơng khớp với sổ hộ khẩu ( phần lớn do
sự thiếu hiểu biết của phụ huynh), GVCN cần kết hợp với cha mẹ HS điều chỉnh
các nội dung còn sai sót để hồn chỉnh danh sách. Sau đó bàn giao lại cho nhà
trường để theo dõi.
Mẫu:
Số
TT
Họ và tên
DANH SÁCH HỌC SINH LỚP: …
Năm học: ….. - …. .
Nam/nữ
Ngày tháng
năm sinh
Nơi sinh
hợp được nhanh hơn.
Ví dụ: Năm sinh : …… Mẫu sổ phổ cập (Mẫu A4 ngang vì nội dung thơng
tin nhiều) . Phía dưới là bảng tổng hợp ( mẫu ví dụ).
BẢNG TỔNG HP
THÔ
N
TS
DÂN
TỘC
NƯ
Õ
KT
(CHẾ
T)
Số
PC
6A
12
11
4
25
21
12
1
24
7B
9
7
4
0
9
8A
6
6
2
cập phải được thực hiện chính xác, tránh thiếu hoặc dư các đối tượng. Nên ghi đầy
đủ thơng tin vào các cột, mục trong Sổ phổ cập , lưu ý việc ghi tên cha, mẹ và tên
chủ hộ để tránh nhầm lẫn. Một số trường hợp nhầm lẫn năm sinh, họ tên cha, mẹ
(nhất là đối với các đối tượng đồng bào dân tộc) gây trở ngại đến việc thống kê. Để
việc thống kê các số liệu được chính xác, nên ghi cột tổng ở từng trang trong các độ
tuổi ở sổ phổ cập, sau đó dùng sổ thống kê nháp các số liệu (nếu khơng thống kê
nháp khi nhầm lẫn rất khó kiểm tra, nếu có phải kiểm tra lại từ đầu rất mất thời
gian).
Đối
tượng
- 13 -
Sau khi ghi đầy đủ các cột mục, trước khi lên các biểu mẫu thống kê, lưu ý các
mẫu thống kê cuối Sổ phổ cập, cần thống kê trình độ các đối tượng trong Sổ theo
địa bàn từng thôn. Theo tôi, ta cần phải nắm rõ các số liệu này, vì đây là cơ sở để
đánh giá, phân loại các thôn trong công tác Phổ cập GDTH, nó cũng là cơ sở để đề
ra kế hoạch cho từng nhóm hoàn thành tốt hơn công tác điều tra ở những năm sau.
e, Phiếu điều tra:
Như đã nêu ở phần thực trạng, tất cả các phiếu điều tra của các nhóm tuy có đủ
các hộ và các thành viên trong từng hộ nhưng thực tế những thông tin trong phiếu
cần kiểm tra đối chiếu lại thật chi tiết trước khi nhập vào Sổ theo dõi phổ cập.Tôi
tạm gọi biện pháp này là “Điều tra ngược”. Với phương pháp này các thông tin
trong phiếu điều tra có độ chính xác khá cao. Qui trình kiểm tra như sau:
+ Đối chiếu thông tin số học sinh từ phiếu điều tra với số trẻ 6 đến 14 tuổi đang
học tại trường với danh sách học sinh toàn trường, danh sách hoàn thành
chương trình và danh sách học sinh trong địa bàn học nơi khác.
+ Lọc những trường hợp không đúng; trường hợp có tên trong phiếu mà chưa có
theo dõi phổ cập THCS nhằm đảm bảo sự thống nhất, liên thông, có hệ thống
giữa Phổ cập THCS và PCGDTHĐ ĐT trong toàn xã.
g, Các biểu mẫu thống kê:
Khi các thông tin ở các loại hồ sơ liên quan có độ tin cậy cao thì việc nhập
các biểu mẫu khá đơn giản. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cần lưu ý người
thống kê phải thực sự hiểu rõ ý đồ của từng bảng biểu, từng nội dung thể hiện ở
đó thì mới có thể hoàn thành một cách đầy đủ và chính xác. Cần đặc biệt quan
tâm biểu mẫu tổng hợp trẻ em trong diện PCGDTHĐĐT (Xem biểu mẫu)
Hướng dẫn nhập số liệu biểu thống kê trẻ em 6 đến 14 tuổi
Năm sinh
1
Độ tuổi
2
Tổng số
3
Nữ
4
Dân tộc
Khuyết
tật
5
9-10 buổi/tuần
15
Số PPC
44
Số PPC
45
Nữ
46
Dân tộc
47
Số không PPC
48
TSố
49
Nữ
PPC
8
Tại chỗ
52
TSố
53
Nữ
54
Dân tộc
55
Số không PPC
56
Tổng số HS trong độ tuổi sống trên địa bàn
Số HS nữ trong độ tuổi sống trên địa bàn
Số HS dân tộc thiểu số trong độ tuổi sống trên địa bàn
Số HS khuyết tật trong độ tuổi sống trên địa bàn
Số HS khuyết tật trong độ tuổi sống trên địa bàn học hoà nhập
Tổng số (3) - Khuyết tật (6)
lớp… cần thể hiện đầy đủ và chính xác các thông tin, khớp với các loại hồ sơ khác.
- 15 -
7. Tổng hợp các báo cáo, phương hướng công tác của năm, giai đoạn:
Hàng năm, dựa trên các số liệu thống kê đã có, cán bộ phụ trách công tác PC
của nhà trường cần tham mưu cho Ban chỉ đạo thành lập các báo cáo tổng kết,
phương hướng năm và theo từng giai đoạn. Nội dung của báo cáo cần thể hiện rõ
những kết quả đã đạt được và những mặt còn tồn tại, hạn chế (theo mẫu của cấp
trên), đề ra phương hướng, kế hoạch cụ thể. Trong đó, phương hướng, kế hoạch
không nên dài dòng mà nên cụ thể những chỉ tiêu, số liệu, đề ra đầy đủ các phương
pháp nhằm duy trì và phát huy những điểm mạnh của công tác Phổ cập tại đơn vị.
C/PHẦN KẾT LUẬN
1. Tính khả thi:
ua 5 năm áp dụng các biện pháp này trong thực tế nhà trường, bản thân tôi
nhận thấy việc làm công tác PCGDTHĐĐT tuy có nhiều vất vả song nó mang
lại nhiều niềm vui, những cái mới, cái hay góp phần tích cực vào việc nâng cao
năng suất lao động, năng lực quản lí. Từng bước đẩy mạnh chất lượng giáo dục
toàn diện trong nhà trường. Áp dụng những biện pháp nêu trên công việc làm phổ
cập trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn rất nhiều.
Kết quả đạt được qua quá trình thực nghiệm là rất khả quan. Thực tế kiểm tra
nhà trường đã đạt được các tiêu chí theo Thông tư số 36/TT-BGD ĐT ( mức độ 1)
a. Công tác huy động, duy trì sĩ số và hoàn thành chương trình Tiểu học:
Q
Năm học
Số HS hoàn thành chương
trình đúng độ tuổi ( thuộc
địa bàn quản lí)
683/685
Tỉ lệ Số lượng
Tỉ lệ
99.7% 152/154
98.7%
Số lượng
71/109
Tỉ lệ
65.1%
640/641
526/528
99.8% 122/124
99.6% 111/111
98.4%
100%
58/82
78/100
Xếp loại giờ dạy
Khá
TB
Giỏi
2005 - 2006
24
SL
3
2006 - 2007
24
5
2007 - 2008
2008 - 2009
21
24
10
12
%
%
37.
5
20.
8
9.5
8.3
Yếu
SL
%
Xếp loại hồ sơ
Khá
TB
Tốt
SL
4
-
5
-
10
12
1
-
%
33.
3
16.
6
4.8
Yếu
SL
%
Ghi
chú
- 16 2009 - 2010
24
14
58.
3
10
Giỏi
SL
43
96
63
52
93
%
6.3
15.1
11.9
10.6
19.0
SL
170
211
184
197
152
%
24.8
33.2
34.9
40.2
31.0
Đầy đủ
SL
604
576
498
470
477
%
88.2
90.7
94.7
95.9
97.3
Xếp loại hạnh kiểm
CĐĐ
SL
81
59
28
20
12
%
Ghi
chú
11.8
tốt cho công tác nâng cao chất lượng dạy – học trong nhà trường.
2. Bài học kinh nghiệm:
Qua thực tế làm công tác Phổ cập GDTHĐĐT, bản thân tâm đắc một số kinh
nghiệm cụ thể như sau:
Trước tiên cần nhận thức rõ Công tác Phổ cập giáo dục đúng độ tuổi là
nhiệm vụ hàng đầu, then chốt, xuyên suốt trong quá trình thực hiện các mục tiêu
giáo dục của nhà trường. Công tác XMC – Phổ cập giáo dục Tiểu học là một nhiệm
vụ quan trọng trong chiến lược nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Nhà trường cần phải xây dựng kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ
tuổi thực hiện theo Thông tư số 36/2009/TT-BGDĐT, ngày 04/12/2009 của Bộ
GD&ĐT ban hành quy định kiểm tra, công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Hàng quý có văn bản kiểm tra đánh giá tiến độ
thực hiện (trước mắt chúng ta phấn đấu đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi mức độ 1).
Kiện toàn ban chỉ đạo phổ cập giáo dục Tiểu học cấp cơ sở nhằm huy động
các lực lượng xã hội tham gia công tác phổ cập giáo dục. Kết hợp mật thiết, cung
cấp số liệu điều tra cho Ban chỉ đạo PCTHCS nhằm tạo sự đồng nhất, tính hệ
thống, kế thừa để cùng hoàn thành các nhiệm vụ phổ cập chung của toàn xã .
Tăng cường công tác chỉ đạo một cách sát sao, kịp thời của cấp ủy, UBND
và Ban chỉ đạo các cấp. Thực hiện tốt mối quan hệ giữa gia đình – nhà trường và xã
hội. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục. Trong đó đội ngũ cán bộ giáo
viên- công nhân viên trong nhà trường là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong vai
trò là những tuyên truyền viên tích cực.
Các trường học làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền cơ sở;
kết hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội để có các giải
pháp thiết thực giúp đỡ trẻ bỏ học, trẻ có nguy cơ bỏ học an tâm học tập trở lại
nhằm giảm tối đa tỷ lệ trẻ bỏ học.
Xem công tác đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, nâng
cao chất lượng dạy học, quan tâm đến từng đối tượng học sinh, xây dựng trường
nước. Trong đó công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là nền tảng cho sự
phát triển giáo dục, hoàn thành tốt nhiệm vụ này ta chính thức đặt nền móng vững
chắc cho nền giáo dục nước nhà.
Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp để
làm tốt công tác Phổ cập GDTHĐĐT trong nhà trường nơi tôi đang công tác.
Thực tế đã đem lại những chuyển biến tích cực góp phần đạt được những mục tiêu
cơ bản của hoạt động giáo dục trong nhà trường, đặc biệt là đã đạt được những tiêu
chuẩn theo Thông tư số 36/2009/TT-BGDĐT, ngày 04/12/2009 của Bộ GD&ĐT
ban hành quy định kiểm tra, công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo
dục tiểu học đúng độ tuổi.
Tuy nhiên khi thể hiện nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót cũng
như tính hệ thống, xuyên suốt là chưa cao. Rất mong những ý kiến đóng góp thẳng
thắn, chân thành của quí bạn đọc giúp bản thân thấy rõ hơn những ưu – nhược
chính, từ đó có thể điều chỉnh, bổ sung thêm để đề tài có tính khả thi.
Xin trân trọng cảm ơn!
Ea Wy, ngày 31 tháng 12 năm 2010
Người viết
Võ Thị Mỹ Quyên
- 19 -
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật giáo dục năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005.
2. Thông tư số 36/2009/TT-BGDĐT, ngày 04/12/2009 của Bộ GD&ĐT và các
văn bản khác về công tác PCGDTHĐĐT.
3. Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học 1991.
4. Các kế hoạch năm học của nhà trường.
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
Đặc điểm tình hình
Đặc điểm tình hình chung
Thuận lợi
Khó khăn
Thực trạng công tác Phổ cập giáo dục đúng độ tuổi
Công tác điều tra cập nhật số liệu
Công tác huy động trẻ ra lớp, duy trì sĩ số và chất lượng học
tập của học sinh
1
1
2
2
2
2
2
2
2
3
3
3
3
4
4
5
5
5
6
6
8
8
9
10
15
C/
1
2
3
15
15
17
18
- 21 -
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM
Trường Tiểu học Ea Wy
Phòng Giáo dục –Đào tạo Eahleo